Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Lẩn Thẩn Chuyện Saigon [3] Tiếu Ngạo Café
Trang chính » Tạp văn, Tùy bút Email bài này

Lẩn Thẩn Chuyện Saigon [3] Tiếu Ngạo Café

I have measured out my life with coffee spoons

TS Eliot

clip_image001

Bạn tôi nhắn:

Ghé nhà uống café nhé. Café Ngũ Nhạc phái Giữa. Không phải Tung Sơn mà là Thái …không phải Sơn.

Bạn biết rồi đấy. Có một nhóm núi được liệt vào nhóm các Linh Sơn, là những núi thiêng của Trung Hoa mà Kim Dung đã đem vào truyện làm bối cảnh cho bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ của ông. Tung Sơn còn được gọi là Trung Nhạc, tức là ngọn núi ở giữa trong năm ngọn núi ấy. Và trong quần thể Ngũ Nhạc, Thái Sơn là Đông Nhạc, là ngọn núi ở phía đông.

Bạn tôi bảo là “giữa”. Và còn bảo là Thái (không phải) Sơn, tức là không phải Đông nhạc thì là Thái gì? Thôi, tôi không diễn giải nữa. Bạn chắc đã hiểu là bạn tôi nói kiểu Trạng Quỳnh rồi.

Bạn tôi đây là TS Mạnh. Tên bạn tôi viết hơi giống tên một thi sĩ Anh: TS Eliot. I have measured out my life with coffee spoons. Tôi đong đếm đời mình bằng những muỗng café.

Tôi xin mở một ngoặc nhỏ ở đây. Bạn đừng nhăn mặt khi tôi gọi Eliot là thi sĩ Anh. Đúng vậy. Ông ấy ra đời ở St Louis, Hoa Kỳ. Sống ở đó mãi đến ngoài 20 tuổi mới qua Anh Quốc rồi tuyên bố từ bỏ passport Hoa Kỳ vĩnh viễn. Ông coi mình như người Anh. Và tôi gọi ông là thi sĩ Anh như ông muốn. Tuy nhiên, khác với Eliot, bạn tôi không coi Café như “cứu cánh” để đong đếm thời gian, mà chỉ xem nó như “phương tiện” để đi qua cuộc đời. Và dĩ nhiên, TS Mạnh không đong đếm cuộc đời bằng những muỗng café như TS Eliot. Bạn tôi là một doanh nhân, đong đếm đời bằng những tờ giấy tinh tươm mầu xanh có in hình Washington với dòng chữ In God We Trust!

Câu vừa rồi là tôi đùa thôi. Bạn tôi không “trọc phú” như vậy. Bạn tôi biết pha và thưởng thức những ly café ngon. Biết dùng café như một phương tiện để làm cho đời lên hương, lên ý. Mà tôi cũng không hề ám chỉ “trọc phú” thì không biết thưởng thức café. Bạn nào nhỡ xui mà giàu, có tiền rủng rỉnh bạc tỉ rồi dùng tam đoạn luận của Aristote để kết luận tự hại mình thì không phải lỗi của tôi nhé.

* * *

Tôi đến nhà Mạnh vào giờ cao điểm ngựa xe như nước, xe phải nhích từng centimetre. May mắn bạn Taxi Grab là người Saigon xưa, nhớ và gọi tên những con đường cũ vanh cách, nên tôi thấy cuốc xe trở nên ngắn và lý thú. Nhà bạn Taxi Grab lúc trước ở đường Đồ Chiểu Tân Định đoạn gần Pasteur, bây giờ, người ta gọi nó là Trần Quốc Toản. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm –và bao nhiêu lần- về Saigon tôi mới gặp một tài xế taxi là người Saigon cố cựu.

Nhà TS Mạnh bạn tôi ở trong một con hẻm rộng taxi vào lọt, hai mặt quay ra hai hẻm khác nhau: Lê Văn Duyệt và Hoàng Sa. Đây là nhà mới, căn nhà cũ tôi vẫn tới những năm trước giờ chỉ dùng để chứa hàng. Mặt nhà đường Hoàng Sa có những chùm Sử Quân Tử giăng kín từ sân thượng xuống đến tầng trệt. Tôi và bạn uống café ở trên ấy lúc Saigon nhạt dần nắng cho đến lúc đèn ở các cao ốc phía trung tâm Saigon rộ lên như sao mọc lên từ mặt đất. Tôi xác định được vị trí của tòa nhà Times Square trên đường Nguyễn Huệ bằng ánh sáng đổi mầu trên thân building. Thấy được Bitexco nghiêng nghiêng dáng búp sen và chợt nẩy ra cái so sánh về café ở sân thượng nhà bạn tôi và ly café thật tệ ở tầng 54 có cái helipad vào một trưa nắng gắt tôi đã lỡ dại leo lên đó.

Café bạn tôi pha ngon bất ngờ ngoài sự mong đợi của tôi. Đây chính là một “phái” café quan trọng không kém hai phái Dở Ngon mà tôi đã không nhắc đến trong bài viết trước. Café nhà. Café này phổ biến ở những nước theo văn hóa Anh Mỹ. Là phái café “tại gia” hay là phái “giữa” như bạn tôi đã đùa ở trên.

Bạn biết rồi đấy, có lẽ trừ Pháp, người Anh và người Mỹ không có thói quen ngồi làm việc ở quán café. Sartre và Beauvoir có một bàn "dành riêng" ở Café de Flore, Saint-Germain-Des-Prés, quận 6 Paris, ở đó họ làm việc và tiếp những người bạn của mình. Hemingway qua Paris mới học thói quen này của người Pháp [1], và quán Aux Deux Magots của Hemingway chỉ cách Café de Flore một con đường nhỏ và hẹp, rue Saint-Benoit. Chỉ là một con đường nhỏ, nhỏ như một con lạch nhưng lại là một đại dương chia cách Café de Flore và Aux Deux Magots. Không hiểu vì lý do gì, từ những năm cuối của thập niên 70s, Aux Deux Magots đã không còn là một quán thời thượng nữa, người ta tránh Aux Deux Magots và đổ đến Café de Flore. Tôi ghi nhớ điều này vì nó trùng khớp với một Saigon cũng đang xuống dốc vào thời điểm ấy.

Tôi vẫn thường nghe lòng mình nhói lên, nghe tim mình đập hụt một nhịp khi nhìn thấy cái mầu đỏ tím của hoa giấy chồm ra cổng của một căn nhà nào đó lúc tôi bất chợt lái xe qua. Tôi không dừng xe lại được như ở Saigon để được ngắm thỏa thuê cái mầu đỏ tím ấy. Ừ, lòng tôi vẫn có những “soft spots” như người tây phương thường nói. Mà hoa giấy ấy là một.

Và hai tiệm café cách nhau chỉ một con đường rất nhỏ rất hẹp Saint-Benoit là một trong vô vàn những soft spots ấy. Aux Deux Magots với vải bạt xanh chữ mạ đồng. Café de Flore vải bạt trắng chữ xanh. Aux Deux Magots luôn luôn là quán thời thượng và nổi tiếng, là nơi Oscar Wilde lui tới hầu như hằng ngày khi ông bỏ Anh Quốc sang Paris, và ông mất trong một căn nhà chỉ cách Aux Deux Magots vài con phố. Cũng là nơi James Joyce đến uống thứ vang trắng sản xuất từ những vườn nho Thụy Sĩ, thứ vang trắng ủ trong lòng nó những tuyết giá bời bời của rặng Alpine. Hemingway bảo là Joyce uống thứ vang trắng Thụy Sĩ ấy với bất kỳ ai ngoại trừ ông. Ngoại trừ ông bởi vì ông không phải là bất-kỳ-ai trong số ấy! Tôi không thắc mắc về điều này bởi vì Hemingway vẫn thường có cái tật “nổ” rất dễ thương của ông. Tôi cho qua.

Tôi còn đọc thấy trong cuốn tiểu sử của Camus do Olivier Todd viết, trong đó ông nhắc đến khu tam giác tạo thành bởi hai quán café nói trên và tiệm Brasserie Lipp [2] ở Saint-Germain-des-Prés, đó là một huyền thoại từ thời đệ nhị thế chiến khi những kháng chiến quân của De Gaulle –phần lớn là những trí thức- đến gặp nhau ở đây. Nó được tiếp nối với Camus, Sartre và Simone de Beauvoir. Cái không khí văn hóa ấy, cái khí hậu ấy vẫn được nuôi dưỡng từ sau chiến tranh, kể từ cái ngày những lộ quân của De Gaulle -từ khắp mọi miền đồng bằng sơn dã trở về Paris- trong quân phục uy nghiêm thẳng thớm, bước rập đều qua cổng Khải Hoàn Môn, cho đến hết những năm 60s khi Camus gặp bạn bè ở một quán, và người tình của ông -Juliette Gréco- hát những bài hát buồn ở quán bên kia. Đó là thời cực thịnh của văn hóa “tiểu tư sản”, là văn hóa bourgois của Paris. Nhìn lại, thật ngạc nhiên và trùng hợp khi cái khí hậu ấy được “phản chiếu”, được song hành bởi Saigon đúng gần khớp với mốc thời gian ấy.

Như đã nói ở trên, sau nửa thế kỷ, cùng với Saigon, Aux Deux Magots đã bị ném ra ngoài lề những sinh hoạt văn hóa của Paris, của Saint-Germain-des-Prés vào những năm 70s. Một định mệnh trùng hợp không hiểu vì sao?

* * *

Ở Melbourne, cuối tuần tôi thường tự pha cho mình một ly cappucino bằng cái máy nhỏ hiệu Krupp của Đức. Cái máy chỉ có áp suất 6 bars nhưng vì quen tay và sử dụng được hết công suất của máy, những ly cappucino hay latté tôi pha từ cái máy nhỏ ấy ngon không kém những tiệm café ngon ở Melbourne. Mấy anh bartender dớ dẩn lơ đễnh với những cái máy 15 bars rất dễ dàng bị tôi qua mặt.

Còn Mạnh bạn tôi, thì có một thủ thuật rất “láu cá” theo kiểu “ lấy thịt đè người”. Mạnh dùng một lượng lớn café là 100gr, đổ đầy một cái phin cũng rất lớn –lớn hơn phin bình thường pha cho một người- kiểu Pháp, rồi chỉ lấy cái nước sóng sánh nhỏ từng giọt tinh ròng ấy theo tỷ lệ 1/5 để pha vừa đủ 1 ly café, nghĩa là bạn tôi chỉ lấy 1/5 nước đầu. Mạnh đùa với tôi: Balzac uống 50 ly café mỗi ngày, nhưng sẽ bị shocked và xỉn quay cu lơ nếu uống chỉ 5 ly café tao pha!

Mạnh “luận” về café Trung Nguyên của ông Đặng Lê Nguyên Vũ. Và về các nhân vật được ông Vũ “dán” hình lên bìa Legend. Có một nhân vật tôi cố tình không đề cập đến trong bài viết Café Saigon Và QB. Đó chính là Beethoven.

Beethoven được ông Vũ trang trọng cho lên design của First Class Legend, và cho in lên loại phin đặc biệt mầu đen tuyền đẹp nhã với hàng chữ in trang trọng:

clip_image002

Với 60 hạt café cho một ly café. Vậy là Beethoven uống café khá đậm. Đậm theo kiểu người Saigon.
Thực ra một ly café “standard” bây giờ bán ở các tiệm trên thế giới như New York, Paris, Sydney, Melbourne là 70 hạt café. Khi tôi nói điều này bạn sẽ tưởng Beethoven uống café nhạt hơn chúng ta bây giờ? Không phải đâu. Nên nhớ, hạt café Beethoven uống vào những năm 1800s – tức là hơn hai thế kỷ trước- phổ biến ở Âu Châu là café nguyên chất không pha thêm bất cứ thứ gì khác. Kỹ thuật chế biến hạt café thời đó thô sơ và “thật thà” hơn chúng ta bây giờ, do đó lượng caffein của ly café 60 hạt Beethoven uống mỗi sáng nhiều hơn ly café standard 70 hạt của chúng ta uống trong thế kỷ 21.

Nhiều người ngạc nhiên vì Beethoven là người không hề biết nấu nướng, một đầu bếp có rất nhiều triển vọng đứng ở đầu bảng “tồi” -nếu như có ai đó có làm một bảng phong thần về các đầu bếp tồi- nhưng ly café chính xác với 6o hạt thì ly café này thuộc loại ngon mà một người không sofisticated, không tinh tế về ẩm thực như Beethoven khó mà nghĩ ra. Ai đã mách cho Beethoven cái công thức 60 hạt ấy? Hay tự ông nghĩ ra?

Theo tôi, Beethoven không phải là người sành điệu. Ông ăn mặc lôi thôi nhếch nhác ngược hẳn với một Chopin thanh lịch, chải chuốt. Một đôi găng tay của Chopin là nửa năm lương của một thợ thuyền ở Paris ngày đó. Chỉ đơn cử một thí dụ.

Nếu như Chopin có khó tính với một ly café đúng 60 hạt. Tôi tin. Và nếu như có ai đó cho thêm vào hay bớt đi vài hạt, tôi cũng tin là Chopin sẽ nhận ra ngay. Còn trường hợp của Beethoven, tôi ngờ là nếu như thêm vào hay bớt đi chục hạt, Beethoven cũng không hay. Tôi đồ rằng Beethoven phải tự tay đếm đủ 60 hạt café cho ly café mỗi sáng không phải là do ông là người tinh tế về khẩu vị, mà chính là ông không chắc được café ngon ra sao nên mới phải đếm. Đếm để yên chí rằng café ấy ngon.

Bạn cứ thử xem. Thêm vào hoặc bớt đi chừng mươi hạt xem Beethoven có biết hay không? Dĩ nhiên, bạn sẽ không có cơ hội làm cái test này vì Beethoven đã mất năm 1827. Hóa ra tôi nói chuyện huề vốn, hoặc –nói theo cách của người Saigon- nói kiểu …trớt wướt?

Không đâu, tôi sẽ cho bạn ít chứng cứ về điều tôi vừa nói ở trên về Beethoven. Mà tôi phải nói trước, những chuyện này rất vớ vẩn bạn không cần biết. Quan trọng là bạn chỉ cần nghe nhạc của ông thôi.

Xin được dài dòng đôi chút về Beethoven trước khi nói chuyện “60 hạt café” như tôi đã hứa. Nhé?

Người ta kể rằng có mấy bữa không thấy Beethoven ra quán ăn, hỏi có phải tại ông không khỏe? Ông bảo rằng không ra quán được là vì đôi giầy ông bị rách, nguyên văn của ông là "há mõm".
Beethoven nổi tiếng là người keo kiệt, bủn xỉn. Tôi phải xin lỗi vong linh ông khi viết lại điều này. Bọn tây gọi ông là tight arse!

Ông còn nổi tiếng là người ở dơ, rất hiếm khi ông tắm! Tôi có đọc đâu đó về kỷ lục quán quân của những người ít tắm, Beethoven ở trong Top Ten. Và người đầu bảng là Karl Marx!

Ông lại nổi tiếng là người khó gần, không thân thiện với ai, và khó tính với những người quanh ông, kể cả những người yêu thương ông nhất. Ông đuổi bà bếp của ông buổi sáng, buổi chiều ông cho gọi bà về trở vì không biết tự làm bữa ăn chiều. Ông đuổi Schindler –thư ký không lương trung thành tận tụy của ông- sau buổi première của bản Giao Hưởng số 9 vì một chuyện rất vớ vẩn, rồi hai năm sau lại gọi Schindler trở về tiếp tục làm thư ký không công cho ông cho đến lúc ông chết.

Cũng một bảng phong thần khác về những người khó tính khó gần, lần này Beethoven cũng lọt vào Top Ten, và người đứng đầu bảng là Newton. Vâng. Chính là nhà toán học lỗi lạc người Anh, người đã phát hiện ra Gravity khi nằm dưới gốc của một cây táo.

Anton Schindler chính là người viết cuốn tiểu sử đầu tiên của Beethoven khoảng hơn 10 năm sau khi Beethoven qua đời. Cuốn tiểu sử với nhiều chi tiết về cuộc sống riêng tư của Beethoven ít ai biết bởi Schindler có trên dưới 7 năm sống cùng Beethoven dưới một mái nhà.

Nhưng cũng chính Schindler là người đã phóng đại, tô vẽ thêm thắt –và cắt xén- nhiều chi tiết vào cuộc đời của Beethoven với cái ý tốt là biến Beethoven thành một con người toàn vẹn. Ông đã đốt bỏ rất nhiều cuốn sổ bút đàm của Beethoven cũng với cái ý tốt trên. Chúng ta đều biết Beethoven điếc hoàn toàn từ năm 1822, ông viết bản Giao Hưởng số năm, bản tứ tấu cho đàn dây cuối cùng, và năm bản sonatas –trong số 32 sonatas- cuối cùng trong tình trạng hoàn toàn điếc đặc này. Và kể từ những năm này cho đến cuối đời, Beethoven “nói chuyện” với mọi người bằng cách viết trên những cuốn sổ. Tức là bút đàm.

Schindler chính là người đã đốt bỏ khoảng 1/3 tổng số những cuốn sổ bút đàm ấy. Với mục đích biến Beethoven thành God như tôi đã đề cập ở trên.

Ignaz Mocheles -một dương cầm thủ và nhà soạn nhạc rất nổi tiếng vào thời đó, bạn nào học dương cầm chắc chắn cũng phải biết ông này- là người dịch cuốn tiểu sử trên sang tiếng Anh. Và đây là "cột mốc" cho các nhà nghiên cứu về Beethoven vào thời điểm đó. Tuy nhiên, chỉ độ 10 năm sau, những điểm thiếu chính xác, tô vẽ, phóng đại hoặc "uốn nắn" Beethoven cho vừa "khuôn" của một thiên tài theo ý "tốt" của Schindler đã được Thayer -người thứ nhì viết về Beethoven- đặt dấu hỏi và hiệu đính lại. Cuốn sách của Thayer được xuất bản vào khoảng 1850.

Cái chi tiết Beethoven uống ly café sáng với đúng 60 hạt café là cũng từ cuốn tiểu sử Beethoven do Schindler viết. Và tất cả các cuốn sách dầy hay mỏng, viết cẩu thả hay nghiêm túc về 60 hạt café của Beethoven đều dựa trên cuốn sách này của Schindler. Tôi không phủ nhận điều trên, tôi chỉ không đồng ý với những cuốn sách, những tác giả đã từ chuyện 60 hạt café ấy mà mặc định Beethoven là người sành café, biết thưởng thức café như một ‘connoisseur’.

Và điều tôi nói trên không phải là không có căn cứ. Tôi cho là nhiều người chỉ đọc một phần, hoặc không đọc kỹ Schindler rồi vội vã kết luận về café và Beethoven như ta đã thấy.

Tôi ở Saigon khi viết những giòng này. Và thật là khó cho tôi vì tủ sách của tôi lại nằm ở Melbourne. Và cuốn tiểu sử của Schindler thì tôi đọc đã trên 30 năm nay, rất khó để tôi kiểm chứng những gì tôi nhớ. Thật may mắn cho tôi, trong thư viện của University Of Toronto có lưu một bản điện tử trên mạng. Và tôi có cơ hội chứng minh cho bạn những gì tôi “phản bác” về 60 hạt café của Beethoven trên giấy trắng mực đen.

clip_image003

Tôi đã nói với bạn là nhỡ Beethoven có đếm thiếu hay thừa chừng chục hạt ông cũng không biết. Điều này Schindler không viết rõ trong cuốn tiểu sử. Nhưng ông có viết rõ ràng là Beethoven thích thứ rượu vang sản xuất ở vùng cao nguyên quanh vùng Buda hơn những thứ rượu vang từ các thứ nho trồng ở các vùng khác. Vậy mà Beethoven của chúng ta lại không phân biệt được thứ rượu đã được cất lâu năm và thứ rượu mới cất. Và đây là bằng chứng:

clip_image004

Bạn biết đấy, rượu vang lâu năm có thể lên đến vài ngàn đô một chai, và những chai rượu vang cất một hai năm chỉ dưới 10 đô là có.

Và thứ đến là 60 hạt café. Dưới đây là những gì Schindler viết:

clip_image005

Bạn thấy đấy. Schindler bảo là Beethoven đếm sai một vài hạt: lest his measure should mislead him to the amount of a bean or two. Tôi cho cách viết ấy chỉ là rhetoric, Schindler có thể viết mislead him to the amount of a few tens or more. Bạn cứ thử tưởng tượng đi. Trong lúc mời khách đến để pha café, vừa đếm vừa nới chuyện với khách, một người lơ đễnh như Beethoven đếm dư hay thiếu chục hạt là điều rất dễ xảy ra. Theo tôi, Beethoven chỉ chính xác lúc ông đếm nhịp –ông là chỉ huy dàn nhạc giao hưởng- và đếm tiền –bọn tây gọi ông là tight arse!

Nói chuyện dàn nhạc, tôi nhớ lúc ông chỉ huy dàn nhạc trong buổi công diễn đầu tiên bản Symphony số 9, ông đã vung vẩy cánh tay hộ pháp của ông –Beethoven rất đậm người- knock out tại chỗ cậu bé cầm đèn đứng cạnh soi nến cho ông đọc tổng phổ.

Và cũng chính trong trang viết tôi cắt dán ở trên, Schindler viết rõ Beethoven không phân biệt những đồ ăn đã cũ đã ôi, vì ông không hề quan tâm đến chất lượng của chúng từ lúc ông mua đến lúc nó hiện diện trên bàn ăn. Những thứ đồ ăn rất dễ hư như Parmesan cheese chỉ cần nửa ngày ở nhiệt độ như ở Saigon là không ăn được rồi.

Nên nhớ thời ấy chưa có tủ lạnh, và Vienna vào mùa hè, tức là từ tháng 6 đến tháng 8, nhiệt độ ở trong tầm 36 đến 39 độ bách phân. Nóng hơn Saigon.

Bạn có thể không tin những điều tôi nói. Nhưng bạn cứ thử nghĩ đi, một người như thế có thể là người “sành điệu” trong cách thưởng thức café và café thì phải pha chính xác 60 hạt như người ta phô trương hay không?

Dạo gần đây, có nhiều sách viết về café và Beethoven trên thế giới –chứ không riêng Việt Nam. Đặc biệt là một cuốn sách khá dầy – hơn 500 trang- của Mark Pendergrast, cuốn Uncommon Grounds: The History Of Coffee And How It Transformed Our World. Trong cuốn này, Beethoven được coi là người uống café sành điệu.

* * *

Nói cho công bằng, cuốn tiểu sử nói trên không hẳn là không giá trị nói theo kiểu vơ đũa cả nắm. Trong cuốn tiểu sử, Schindler đã cho độc giả những chi tiết cực kỳ quí giá về cách Beethoven chơi đàn, về tốc độ -tức là metronome markings- nguyên thủy của Beethoven. Mãi cho đến bây giờ, các nhà nhạc học ‘musicologist’ và những người chơi nhạc Beethoven vẫn bị phân hoá và không đồng ý với nhau về tốc độ do chính tay Beethoven ghi trên các trang bản thảo hoàn tất với chính thủ bút của ông. Những bất đồng này phát sinh từ những điều Schindler viết trong cuốn tiểu sử nói trên, so sánh với những ghi chép, những nhận xét của Czerny về tốc độ của thầy mình: Beethoven.

Đó là những ý kiến trái chiều, và những tranh cãi, những bất đồng trên tôi cho là đến vài trăm năm nữa vẫn sẽ chưa ngã ngũ.

Ta cũng biết, Beethoven dạy Czerny, Czerny dạy Liszt. Và Liszt dạy vô số học trò nổi tiếng như Eugen d’Albert, Hans von Bülow, Frederic Lamond, Moriz Rosenthal, Alexander Siloti, Carl Tausig, Karl Klindworth, Arthur Friedheim etc. Chỉ đơn cử một vài người nổi tiếng nhất thôi.

Arthur Friedheim là thầy của Rildia Bee O’Bryan thời bà còn là một thiếu nữ, sau này trở thành bà Cliburn, mẹ của Van Cliburn, cũng là thầy dạy vỡ lòng cho Van lúc anh lên ba. Lúc lớn lên vào trường Juliard School, Van Cliburn lại được học với Rosina Lhévinne, một đại diên cho trường phái Dương cầm Nga khởi đi với Anton Rubinstein [1]. Van Cliburn là người Mỹ đầu tiên đoạt giải nhất Tchaikovsky năm 1958 trong thời chiến tranh lạnh. Người mà Sviatoslav Richter cho 100 điểm –trên thang điểm từ 1 tới 10- trong khi cho các thí sinh khác zero.

Gần đây nhất, Ivo Pogorelich, pianist người Nam Tư –cùng dự thi giải Chopin năm 1980 với Đặng Thái Sơn- đã “claim” mình là học trò đời thứ mấy gì gì đó của Liszt đấy thôi.

Sở dĩ tôi phải dài dòng thế cũng là vì Czerny, về ảnh hưởng của Czerny trên lịch sử của đàn dương cầm và cách chơi đàn. Có thể nói, bất cứ ai học dương cầm đều biết Czerny và các bài tập luyện ngón của ông. Và Czerny là đại diện cho lối chơi dương cầm “chính thống” của Âu châu từ thời Haydn, Mozart, Beethoven cho đến bây giờ.

Mà thôi, như tôi đã nói ở trên, nhũng điều tôi vừa nói về cách Beethoven ăn mặc thế nào, ăn uống ra sao, uống café theo gu nào v.v… là những thứ vô bổ, trà dư tưu hậu. Bạn chỉ cần nghe nhạc của ông là đủ. Và chấm hết. Beethoven tồn tại đến bây giờ dù ông mất đã gần 200 năm cũng chỉ đơn giản là nhạc của ông –và nhạc của ông- mà thôi.

* * *

Tôi đứng trên sân thượng nhà Mạnh, gió lộng bốn bề. Và nhớ gió ở sân thượng nhà tôi gần 40 năm trước. Lúc ấy, nhà tôi cao vượt lên trên những ngôi nhà lân cận, từ sân thượng tôi có thể thấy được tháp chuông nhà thờ Huyện Sỹ, thấy được cả con đường Sương Nguyệt Ánh rợp bóng hai hàng dầu thẳng đứng, thấy được cả những ngọn cây xanh um lá ở vườn Tao Đàn. Bây giờ, sau bao nhiêu năm, những căn nhà chung quanh đã cao vượt lên, che hết tầm nhìn, che hết gió, lấy gần hết bầu trời cao và rộng của tôi mất rồi.

Nhà Mạnh thì khác, từ Bảy Hiền nhìn về hướng trung tâm Saigon, tầm mắt chừng như vô tận. Nhìn về hướng Tân Sơn Nhất thấy được đường chân trời, thấy những chiếc máy bay lên xuống với đèn chớp đỏ ở đuôi. Nhìn về hướng Bình Triệu Thủ Đức, có một cao ốc thật cao mà tôi và Mạnh không xác định được nó là building gì.

Và cũng vẫn nhìn về hướng ấy, thả tầm mắt để rơi xuống cầu Bình Triệu, đó là sông Saigon, đó là Thanh Đa nhà HN Sơn, nhà cậu Mai, cậu Doãn. Nhà của họa sĩ Bùi Quang Ngọc với một bức tranh lớn vẽ dở dang suốt ba năm trời. Có một dạo tôi đã đến đó hầu như hằng ngày, rồi buổi tối về ngang Thị Nghè, ghé qua nhà Hạnh ngồi nhìn Hạnh tập đàn. Những bài tập nhiều “wrong notes” của Czerny, những bài Valse vụng về chưa tròn câu của Chopin. Và cố gắng không cười –kẻo cô giận- khi Hạnh cực nhọc ráng ghép hai triplet ở tay phải cho vừa khớp với bốn dấu crochet ở tay trái. Nghe tiếng đàn guitar của Hiến vọng ra từ sau tấm màn dày: Tarrega, Sor, những bài của Bach, Scarlatti do Segovia chuyển soạn cho đàn tây ban cầm. Và Villa-Lobos với cái Prélude số 1 có những nốt vuốt và các quãng ba lên xuống nửa cung ‘chromatique’ đầy tâm trạng. Ngửi mùi café thơm lừng của chị Huyền đang rang trên sân thượng tỏa xuống. Nhìn anh Hùng thỉnh thoảng đạp xe về rồi vội vã hộc tốc đạp xe đi, mặt khắc đậm những âu lo của cuộc sống. Nghe tiếng Hằng nạt con mèo lúc nó lởn vởn đến gần bàn ăn. Đứa con nhỏ của chị Huyền khóc ấm ức khi con sẻ nhỏ vuột mất khỏi nắm tay cũng nhỏ của nó.

Và một sáng tháng mười hai, trời Saigon chợt trở lạnh bất ngờ. Trong cái không khí trong veo và yên tĩnh của mùa Đông bất chợt hiếm hoi ở Saigon buổi sáng ấy, chị Huyền từ sân thượng chạy xuống hốt hoảng: John Lennon chết rồi. Nhìn chị run rẩy, tôi cứ ngỡ chị nghe tin dữ của anh Nam chồng chị từ trại cải tạo. May mắn, nó không phải là tin dữ của chị. Và rất không may, nó là tin dữ của cả thế giới.

Tôi nhớ mãi cái khí hậu của một sáng đầu tháng 12 ấy. There are places I remember in my life though some have changed [2]. Giọng âm vang của John và giọng ngọt ngào tình cảm hát bè quãng ba của Paul. Phải. Cũng như bài hát ấy, có những nơi những chốn in đậm vào ký ức tôi. Dù có bao nhiêu dâu bể, bao nhiêu nước chảy qua cầu, tôi vẫn nhớ mãi. Những người trong căn nhà bên bờ kênh Nhiêu Lộc ở Thị Nghè ngày đó, với những cái tên luôn bắt đầu bằng vần H. Nhớ mùi café đang rang thơm lừng cả căn nhà. Và nhớ những ly café Hạnh mua cho tôi từ cái quán đầu ngõ.

* * *

Cùng với ngày tàn dần. Cùng với đêm buông xuống. Cùng với hàng triệu triệu vì sao lấp lánh của đêm mùa hè ở trên cao khi tôi ngước lên, dù có chậm thật chậm vì những câu chuyện giữa hai ngụm café về tháng ngày xưa cũ, tôi và Mạnh cũng uống hết ly café. Chuyện của bọn tôi chưa hết nhưng ngày đã gần hết. Và ly café đã cạn hết. Tôi nhớ các bạn thời trung học của tôi Mạnh Cường Huy vào những mùa hè trước khi bọn tôi lang thang ở những quán café trên đường Lê Lợi, trên đường Nguyễn Huệ, trên đường Trương Minh Giảng với phượng xanh từng tầng điệp điệp từng lớp lá biếc mầu ngọc bích. Mầu xanh ấy giờ của ai?

Và biết bao những quán khác. Bây giờ những quán ấy có quán còn quán mất. Có quán tôi nhớ có quán tôi quên. Là quán của ai bây giờ?

Tôi lặng lẽ ghi vào ký ức thêm một ly café đậm. Đậm caffein và đậm hương đêm Saigon. Ly café trên sân thượng lộng gió và trên đầu những chùm sử quân tử mãn khai.

Mai Xuân Vỹ

Saigon 20/5/2018



 

Chú thích:

[1] Hemingway đến Paris với tư cách là một phóng viên của tờ Toronto Star, sống và viết ở trong một căn apartment kém tiện nghi ven tả ngạn sông Seine trong những năm 1920s. Những người bạn trong vòng giao du của ông là Gertrude Stein, Scott Fitzgerald, James Joyce, Ezra Pound, Sylvia Beach, etc. Nếu bạn có xem cuốn phim gần đây của Woody Allen Midnight In Paris, bạn sẽ “gặp” những người bạn của Hemingway vào thời điểm giữa hai thế chiến ấy. Địa chỉ 74 rue du Cardinal Lemoine trong khu la tinh nằm trong địa phận hành chánh của hai quận 5 & 6- bên tả ngạn sông Seine là nơi ông viết The Sun Also Rises. Thực ra Hemingway ngụ ở nhiều nơi –mà tôi sẽ viết dài hơn vào một dịp khác- trong suốt thời gian từ 1921 đến 1926, và ông quay trở lại theo những đơn vị thuộc những lộ quân của Eisenhower vào giải phóng Paris. Lần sau cùng vào những năm 1950s, ông quay lại Hôtel Ritz để lấy các bản thảo và vật tùy thân gửi ở đó từ 30 năm trước. Những thứ ấy được đem về Mỹ trong một vali do nhà Louis Vuitton làm riêng cho ông .

clip_image007

Ông viết cuốn sách quan trọng –và nổi tiếng- đầu tiên của ông The Sun Also Rises theo phong cách roman à clef vào ngày 21 tháng 7 năm 1925. Người ta bảo ông viết cuốn ấy rất nhanh, những giòng đầu được viết xuống cuốn sổ nhỏ rút ra từ trong túi áo sờn cũ của ông ở một cái bàn cũng cũ kỹ như áo mũ của ông tại quán Aux Deux Magots trong chính ngày sinh nhật của ông, và hoàn tất nó chỉ trong vòng hai tháng sau đó. Đó là huyền thoại của The Old Man… Tôi cũng không thắc mắc về điều này. Bởi nó đẹp quá.

Một huyền thoại nữa là chuyện Hemingway “giải phóng” khách sạn Ritz.

Đó là một ngày tháng tám trong năm 1944 –một năm trước khi thế chiến II chính thức kết thúc. Đêm 24 rạng sáng ngày 25 của tháng ấy năm 1944, khi Đệ Tam Lộ Quân của tướng Patton và những đơn vị biệt phái của De Gaulle chủ yếu là những đơn vị của Sư Đoàn 2 Thiết Giáp -gồm những đơn vị đã bị tổn thất nặng do pháo binh của lực lượng phòng vệ Wehrmacht vòng đai Bắc sông Seine kể từ khi chiến dịch bắt đầu vào ngày 19 cùng tháng- từ phía bắc vượt sông Seine và Sư Đoàn 4 bộ binh Hoa Kỳ từ phía nam, đông nam dưới sự điều động của Eisenhower –tổng tư lệnh quân đồng minh- khép vòng vây tiến vào Paris. Mũi tấn công của sư đoàn này là Đại Đội 9 Thiết Giáp.

Tướng Philippe Leclerc vì “quốc thể” của cả nước Pháp nói chung và của toàn đội quân Pháp Tự Do của De Gaulle nói riêng –vâng, đây chính là bí danh trong chiến đấu của Bá tước de Hauteclocque, dòng dõi của các tướng lãnh trong những binh đoàn Thập Tự Quân từ nhiều thế kỷ trước, và các tướng lãnh trong binh đoàn viễn chinh Napoléon sang tận Mạc Tư Khoa, và cũng là tổng tư lệnh lực lượng viễn chinh Pháp trong Chiến tranh Đông Dương (1945-1946) tại Việt Nam – đã cãi lệnh chỉ huy trực tiếp của ông -là tướng Gerow thuộc Đệ Tam Lộ Quân dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Patton- và tung những toán tiền quân vào Paris với duy nhất một sứ mệnh quyết tử: lập những “đầu cầu” , trong vòng 24 giờ sau khi xuất phát, cho cả Sư Đoàn.

Và khi toàn bộ các bộ phận của Sư Đoàn 2 Thiết Giáp đã vượt được sông Seine -chịu thêm rất nhiều tổn thất vì sức kháng cự mãnh liệt của vòng đai an ninh của hỗn hợp quân Wehrmacht và những đơn vị SS cuồng tín tuyệt đối trung thành với Hitler- Leclerc đã lệnh cho cả đoàn quân tơi tả mỏi mệt không hề chợp mắt suốt một tuần lễ của ông tiếp tục tiến xuống phía nam trong nỗ lực tuyệt vọng là phải vào Paris trước Sư Đoàn 2 Hoa Kỳ.

Và ông đã thành công. Đại Đội 9 Thiết Giáp do Đại Úy Raymond Dronne chỉ huy vượt qua Cổng Ý -Porte d’Italie- vào đến sân Tòa Đô Chính Paris vào đúng 9 giờ 22 phút tối 24 tháng 8. Đó là đơn vị đầu tiên của toàn thể lực lượng Đồng Minh trong chiến dịch giải phóng kinh đô ánh sáng vào đến Paris. Dronne đích thân leo xuống chiếc chiến xa chỉ huy M4 Sherman của mình, bước thẳng vào tổng hành dinh của Von Scholtitz yêu cầu viên tướng này đầu hàng.

Đúng 3:30 chiều ngày 25 tháng 8, những tay súng ở thành lũy cuối cùng của đạo quân Wehrmacht buông súng đầu hàng. Và trong khi khi tướng Dietrich von Choltitz –tư lệnh toàn bộ lực lượng Wehrmacht của Hitler ở Paris- chính thức đầu hàng tại sảnh lớn của Hôtel Meurice vào buổi chiều, Hemingway với súng trường Garant khoác lệch trên vai, nòng súng chúc mũi xuống đất, nhảy ra khỏi chiếc Jeep thắng gấp ở Place Vendôme, tuyên bố Hôtel Ritz –và cả hầm rượu của Ritz nữa- hoàn toàn tự do.

Place Vendôme. Tôi nhớ. Ở những phút đầu của Midnight In Paris, máy quay hình có dừng lại một giây ở tấm bảng đồng Place Vendôme. Nơi Chopin thở hơi cuối cùng.

[2] Brasserie Lipp, hay chỉ vắn tắt: Le Lipp như những Parisien thường gọi nó như vậy bây giờ, được chính phủ Pháp chính thức liệt vào danh sách bảo tồn vào đầu những năm 90s. Đây là nơi mà Malreaux -nhà văn và cũng là bộ trưởng văn hóa Pháp- đến đó ăn tối với Saint-Exupéry. Khách vào đó thỉnh thoảng có thể giật mình khi thấy François Mitterand, Pompidou, Giscard d’Estaing hay Jacques Chirac ngồi ăn ở một bàn bên cạnh.

[3] Ta có thể hiểu vì sao Van Cliburn chinh phục cả toàn thể ban giám khảo giải Tchaikovsky năm ấy: cách chơi đàn của Van có cái "big tone" của trường phái dương cầm Nga -dùng lực của cả cánh tay chứ không chỉ cổ tay- là từ Rosina Lhevinne. Lúc ấy, năm 1958, là đỉnh điểm của chiến tranh lạnh. Nga vừa thành công trong việc đưa phi thuyền Sputnik vào vũ trụ tháng 10 năm trước. Trước Mỹ. Ban giám khảo -chủ tịch là OtarTaktakishvili- đã phải gọi cho Khrushchev xin chỉ thị. Khrushchev -cũng là người sành nhạc cổ điển như người tiền nhiệm Stalin trước đó- chỉ hỏi vắn tắt: anh ta chơi hay không? Tuyệt hay. Vậy thì cứ trao giải cho anh ta. Tôi đọc thấy ở một vài nguồn người ta bảo Khrushchev và Cliburn trở thành bạn sau đó. Tôi không kiểm chứng được thông tin trên. Bạn đọc ở đây: www.star-telegram.com/living/family/moms/article3834080.html

Và Anton Rubinstein, người sáng lập ra Nhạc Viện St Petersburg, cũng chính là một trong những nguồn cảm hứng để Tolstoi viết cuốn Kreutzer Sonata, khi ông ghé thăm Tolstoy ở điền trang Yasnaya Polyana vào những năm 1880s.

[4] Tôi cũng nhớ mãi bài In My Life của John Lennon. Đây là bài hát sâu lắng trưởng thành đầu tiên của John Lennon và của cả nhóm The Beatles. Trước đó mấy tháng, cả nhóm gặp Bob Dylan. Dylan “chọc quê” The Beatles về lyrics của bài I wanna hold your hand do Paul Mc Cartney viết: I get high. (Tôi say/phê cần sa) trong khi lời nguyên thủy Paul viết là I can’t hide (Tôi không thể dấu đi được).

Bob Dylan đã nhắc nhở với cả nhóm The Beatles: Man, pay attention to your lyrics!

Lennon, người có tính cách phức tạp nhất, và đặt lời hay nhất của cả nhóm đã học được bài học đó từ Bob Dylan. Kết quả là sự ra đời của bài “In my life” nói trên. Và sau đó Lennon đã phát biểu với báo chí: When I’m 30, I won’t be out there singing “She Loves You”.

Cũng trong bài này, tôi không biết có bao nhiêu phần tribute của George Martin bởi những LP thời đó không ghi credit của George Martin –có lẽ là vì marketing. Tôi nhận ra một đoạn gian tấu nghe như tiếng đàn clavecin mà không phải clavecin. Mãi nhiều năm sau, tôi mới biết đoạn interlude ấy do George Martin chơi trên dương cầm, sau đó được “kéo” lên một tốc độ nhanh hơn và cao hơn một quãng 8 bằng kỹ thuật phòng thu của AMI.

bài đã đăng của Mai Xuân Vỹ


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)