Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Ý kiến ngắn về việc trình diễn vở cải lương “Thầy Ba Đợi”
Trang chính » Nghệ Thuật, Nhận Định, Quan Điểm, Sân Khấu Email bài này

Ý kiến ngắn về việc trình diễn vở cải lương “Thầy Ba Đợi”

0 bình luận ♦ 1.06.2018


Để kỷ niệm một thế kỷ hình thành và phát triển của Nghệ thuật Sân khấu Cải lương Việt Nam, tối 28-4-2018, tại Nhà hát Bến Thành, quận 1, Sài Gòn, Nhà hát Cải lương Việt Nam, Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang phối hợp cùng Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam và Công ty Tổ chức biểu diễn Song Việt đã tổ chức buổi công diễn đầu tiên vở cải lương “Thầy Ba Đợi”, kịch bản văn học của Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thế Kỷ, được hai soạn giả Hoàng Song Việt và Phạm Văn Đằng chuyển thể cải lương, hai nghệ sĩ Triệu Trung Kiên và Lê Trung Thảo đạo diễn, và nghệ sĩ Trần Ngọc Giàu chỉ đạo nghệ thuật. Vở cải lương có sự tham gia biểu diễn của hơn 60 nghệ sĩ sân khấu cải lương ba miền Bắc – Trung – Nam: Vương Hà, Thanh Tuấn, Hùng Minh, Lê Tứ, Quế Trân, Hữu Quốc, Hồ Ngọc Trinh, Quỳnh Hương, Xuân Vinh, Thu Trang cùng một số nghệ sĩ khác như Quang Khải, Xuân Đáng, Minh Hùng, Võ Minh Lâm, Trọng Nghĩa, Điền Trung, bé Gia Bảo, bé Kim Thư…

Đây là vở ca kịch về cuộc đời của nghệ sĩ, nhạc sư Nguyễn Quang Đại. Người từng để lại tác phẩm được xếp vào hàng những “bài bản tổ” của ca kịch cải lương. Ở bất cứ bộ môn nghệ thuật nào, khi người nghệ sĩ đạt tới tầm tinh hoa của nghề thì đương nhiên người nghệ sĩ đó đã thuộc về dân tộc họ, thuộc về đất nước họ mà không cần phải đưa nhân vật tầm cỡ như thế vào hoạt động hội kín nào đó mới là yêu nước. Kịch bản của vở kịch đã lạc đề trầm trọng khi không viết được về một hậu tổ cải lương có công cải biên các bài bản của âm nhạc Huế bằng cách giản dị hoá lối ấn nhịp để tạo một nhạc điệu hoà hợp với ngôn ngữ của cư dân vùng đất Nam bộ. Và công lao của thầy Ba Đợi cùng các môn đệ đã hoàn chỉnh hệ thống bài bản của “đờn ca tài tử”, nền tảng cho các bầu gánh sau này phát triển thành nghệ thuật cải lương.

Tờ Sài Gòn Giải Phóng ra ngày thứ hai, 14/5/2018, đã đăng những dòng thông tin chỉ có trong lịch sử cải lương về thầy Ba Đợi mà không hề có trong vở diễn như sau: “Trong quá trình lưu lạc ở Nam kỳ, ông đã “dân dã hóa” di sản nhã nhạc cung đình Huế. Cùng với các thế hệ học trò, ông đã vừa cải biên, vừa sáng tác và hệ thống hóa để dần hình thành nên nghệ thuật âm nhạc Tài tử Nam bộ với cốt lõi là 20 bài bản tổ.” Là người xem vở diễn vào tối 28/4/2018, tôi hoàn toàn không thấy một bản tổ nào hay một khúc độc tấu mang tính tượng trưng của một trong hai mươi bản cải lương Tổ trong quá trình diễn 150 phút. Tôi nghĩ người viết bài báo này có thể chưa xem trực tiếp vở diễn, mà chỉ viết theo suy luận.

Người viết kịch bản văn học là Phó Giáo sư Tiến Sĩ Nguyễn Thế Kỷ đã chưa viết được về cuộc đời một nghệ sĩ lớn của nghệ thuật cải lương. Viết về cuộc đời nghệ sĩ lớn phải là viết về “sự nghiệp nghệ thuật”, chứ không phải viết về một thầy đàn yêu nước. Qua kịch bản, tác giả đã biến người nghệ sĩ dân gian thành thầy đàn chiến sĩ yêu nước, nhưng lại khá ít nhiệt huyết với sự nghiệp nghệ thuật của một nghệ nhân lớn như nhạc sư Nguyễn Quang Đại (Thày Ba Đợi). Phút đầu mở màn thật ấn tượng với màn đi đày của vua Hàm Nghi, đã lập tức in vào nhận thức của khán giả một dấu ấn mạnh sẽ xem một vở kịch lịch sử chính trị. Liền sau cảnh đó là cảnh thầy đàn chạy trốn quan tây, được tiểu thư con gái vị quan lớn bản xứ cứu thoát rồi bí mật đưa về nuôi trong phủ quan. Những cảnh đó hoàn toàn mô phỏng hoạt động của chiến sĩ cách mạng sau những năm ba mươi. Trong vở diễn có chen những chi tiết tỏ ra quan tâm đến nghệ thuật, nhưng đã quan tâm lạc điệu và rất vô duyên. Ví dụ như đoạn thoại “nên hay không nên đưa cải lương vào dịch vụ cao lâu, tửu điếm, cô đầu.” Đây là do sự chi phối của điều kiện lịch sử. Việc hoà nhập tự nhiên của cải lương với xã hội, và xem như là số phận của một môn nghệ thuật qua các triều đại không liên quan tới sự nghiệp tạo ra hai mươi bản cải lương Tổ của “Thầy Ba Đợi”. Trong khi đó toàn bộ thời gian vở diễn lâu hơn hai giờ đồng hồ (150’), không có lấy nổi một phút độc tấu hay hòa tấu trích đoạn từ những "bản đàn tổ" để đời của nhạc sư Nguyễn Quang Đại. Và cũng không có nỗi nửa phút thoại về học thuật của hai phái cải lương miền Đông và miền Tây khác quan điểm nghệ thuật với nhau thời đó.

Nhạc sư, nhạc quan triều Nguyễn Quang Đại là một vị quan nhạc của cung đình. Nhạc của ông là một thứ âm nhạc không phục vụ giới bình dân lao động. Vùng đất Nam bộ, trong quá trình 200 năm nhọc nhằn vất vả mở đất, nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người dân không chỉ là hát bội, hát ru con, hay hò Nam bộ, mà nhu cầu sinh hoạt văn hóa tinh thần ngày một cao hơn. Đúng thời điểm khoảng gần 200 năm mở đất đó xuất hiện hai nhóm nhạc cung đình cạnh tranh cùng nghiên cứu sáng tạo kết hợp nhạc dân gian với nhạc cung đình tạo thành nhạc Tài Tử. Trong cuộc cạnh tranh đó, điệu và hơi nhạc Tài Tử của Thầy Ba Đợi sáng tạo phù hợp với chất giọng người dân sông nước kênh rạch, nên đã mau chóng phát triển rộng khắp vùng đất Nam bộ. Quá trình phát triển lâu dài của đờn ca tài tử đã làm xuất hiện hình thức “ca ra bộ”. Người ca không còn đứng yên một chỗ mà hát nữa, mà phối hợp hát và điệu bộ ảnh hưởng từ kịch thoại Phương Tây. Như vậy mầm mống của ca kịch cải lương hình thành, khi sinh hoạt đờn ca tài tử có đủ các yếu tố “Ca – Vũ – Nhạc” sẵn sàng và đầy đủ khả năng công diễn độc lập dưới tổ chức của các ông bầu gánh. Có thể nói vai trò của các ông bầu gánh hát đã có công trong quá trình hoàn thiện “cải lương”.

Ca kịch cải lương ra đời từ đây, đáp ứng mọi nhu cầu tinh thần trong các lễ hội cộng đồng và trong các sinh hoạt văn hóa của dân chúng cũng như trong những ngày lễ vui gia đình như hiếu hỷ, thôi nôi, mừng thọ, và cả tang ma. Những nghiên cứu sau này ghi nhận đóng góp của hai tên tuổi lớn là ông Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi) và ông Trần Quang Quờn (Kinh lịch Quờn). Cả hai nhạc sư đều là quan nhạc cung đình Huế. Công lao của nhạc sư Nguyễn Quang Đại vượt trội đến mức ông được phong làm hậu tổ nghề ca nhạc cải lương. Thật đáng tiếc trong vở diễn, kịch bản đã viết hoàn toàn thiếu vắng những chi tiết học thuật cải lương để lại trong lịch sử. Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng, cố nhạc sư Nguyễn Quang Đại cùng các học trò còn "hệ thống hóa" hơi, điệu bài bản nhạc tài tử thành 20 bài bản Tổ theo bốn điệu thức: "Bắc", "Nam", "Hạ", "Oán”. Tất cả đã phát triển mạnh mẽ nhờ những biên cải về âm điệu của thầy Ba Đợi phù hợp với chất giọng người Nam. Cho đến hôm nay, những làn điệu trong 20 bài bản Tổ cùng bộ Ngũ Châu và Bát Ngự được chia thành bốn điệu: Bắc, Nam, Hạ, Oán và bốn hơi: Xuân, Ai, Đảo, Ngự của ông vẫn còn được phổ biến trong giới chơi nhạc tài tử. So với thuở ban đầu mở đất Nam bộ là ba trăm năm, “Ca kịch cải lương” ra đời thấm thoắt đã một trăm năm.

Nhà nước đã tổ chức rất long trọng lễ kỷ niệm 100 Ca kịch Cải Lương 1918 – 2018. Người viết thiết nghĩ kịch bản vở cải lương “Thầy Ba Đợi” chưa đủ tầm vóc diễn trong lễ kỷ niệm 100 năm cải lương Việt Nam. Thật đáng tiếc cho dàn diễn viên xuất sắc cả giọng ca và tài diễn và cả sự chu đáo rộng rãi về kinh phí xây dựng mà không gặp được kịch bản xứng đáng.

Hồng Hoang

4-2018

bài đã đăng của Hồng Hoang


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)