Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu Email bài này

Tìm hiểu từ-ngữ gốc “Hán” (phần 4/4)

 

 

Phụ Lục – BẢN LIỆT KÊ MỘT SỐ CHỮ TÀU CHUYỂN TỰ
(phỏng theo tài liệu của TS Nguyễn Hữu Phước)

 

Sau đây là bảng liệt kê những chữ Việt Tàu (kể cả những chữ đã dùng ở các đoạn bên trên theo thứ tự A,B,C. Còn có một số chữ khác những chữ trong bài, vì ít dùng, hay ít phổ quát, nên chúng tôi không nhận ra. Lưu ý: các từ-ngữ dưới đây được “chuyển” theo giọng Quảng Đông.  Mong quý vị bổ túc giùm, chúng tôi xin đa tạ.

(Các chữ viết tắt: HV = Hán Việt, TC = Tiều Châu, QĐ = Quảng Đông, QT = Quảng Tây)

 

Bạc = trắng (HV: bạch); vàng bạc; trắng như bạc.

Bảo kê 葆 家 (TC = bảo đảm bồi thường thiệt hại theo khế ước thoả thuận. Bảo kê nhân thọ, bảo kê xe cộ, bảo kê sức khoẻ v.v.

Bín 辮 = bện lại với nhau như tóc thắt bín hay giác bín (HV: biện).

Bò bía 薄 缾 (TC) = bánh tráng bột gạo hoặc bột mì, bọc nhưn (củ sắn đã xào chín, tôm khô nhỏ, lạp xưởng mỏng đã luộc chín, đậu phộng rang).

Bò hó náng (TC) 不 好人= người không tốt; (QĐ: mậu hẩu dành; HV: bất hảo nhơn).

Bố cáo 佈 告 = bố cáo, thông cáo.

Bố tời (bao) 布 袋 = bao vải bằng bố, ngày xưa thường dùng làm bao đựng 100 kí lô gạo. (HV: bố đại, đại là cái bao: bố tời theo nghĩa Hán Việt là “bao bố”).

Cai 戒 = chừa bỏ món đã ghiền, (HV: giới), như cai thuốc.

Cánh chỉ (QĐ đọc cá-ying chi 嘉應子, HV: gia ứng tử = cũng là một loại kẹo trái cây).

Cảo 絞 = vặn xoáy ra (thường là vặn theo chiều ngược). Động từ cảo thường do các thợ máy dùng.

Cấy 雞 = gà; bạc cấy 白 雞 = gà trắng tức là gà luộc; dìm cấy = gà ướp muối, xì dầu cấy = gà ướp nước tương, xáo cấy = gà xào; cấy báo = bánh bao nhưn thịt gà.

姑 = cô = em hay chị của người cha.  Cô dượng 姑丈 = dượng (chồng của cô).

Cón 光 (cón = láng) dân ta xài các từ ghép láng cón = thật láng, sạch cón = hết sạch, không còn chút gì, thật sạch.

Cống hỉ phát xồi恭 喜 發 財 = cung hỉ phát tài. Lời chúc đầu năm tương đương với “cung chúc tân xuân” của VN.

Cu ki 自己 = một mình không ai giúp, đơn độc; HV: tự ký. Sao lúc nào anh cũng cu ki vậy?

Cú lũ 高 佬 = anh cao (HV: cao lão).

Cù lũ 孚 擄 = tù binh; cù lũ còn là tên một mẫu trong bài “xập xám” (bài 13 lá), hay phé (bài 5 lá) của Tàu. Mẫu nầy gồm gồm ba lá bài giống nhau đi chung với một đôi. (Mẫu bài gồm 5 lá bài).

Cũ xì古 時 = rất là cũ xưa (HV: cổ thì)

Chành = (HV: sạn) = kho chứa lúa hay gạo.

Chạp phô (TC = tiệm, cửa hàng) 雜 貨 (HV: tạp hóa) = tiệm hàng xén, bán những vật cần dùng trong nhà.

Chay 齋 = kiêng thịt; xực chay受 齋 = ăn chay = ăn cơm với rau cải thôi; HV: thọ trai.

Ché (TC) hay chế (Q Đ) 姊 = chị, HV: tỷ.

Chí dục 猪肉, HV: trư nhục = thịt heo. Hàm dũy chứng chí dục = cá mặn chưng thịt heo (một món mặn phổ thông của người QĐ).

Chí quách猪骨, còn gọi là xí quách = xương heo (hầm).

Chía 食 (TC) = ăn. Anh ấy chía một hơi hai dĩa bánh cuốn.

Chệc hay chi-ệc 叔 (TC) = chú = em của cha, hoặc là tiếng gọi một người lớn, nhưng nhỏ tuổi hơn cha mình, (HV: thúc).

Gọi người Triều Châu bằng chữ “chiệc” là bình thường. Họ vui vẻ đón nhận cách xưng hô đó.  Nhưng các nhóm dân TH khác ở VN không thích chữ nầy. Họ coi chữ nầy là không kính trọng khi dân VN dùng chữ nầy để chỉ tất cả người TH. Ngoài ra, dân ta còn dùng chữ cắc chú (do chữ khách trú 客 住 nói trại ra), hay chữ “ba tàu” hoặc “anh ba”, để gọi hay chỉ người TH.  Hai chữ sau nầy, người Hoa ở VN cũng không vừa lòng mấy.

Tuy nhiên, như đã nói, khi chúng ta gọi nước TH hay người TH bằng từ ngữ “Tàu” (viết hoa = capital letter) thì đó chỉ là một thói quen do lịch sử mà thôi.  Trong văn nói hay trong văn viết, từ ngữ “TH” và “Tàu” thường được dùng lẫn lộn, không hề có ý nào khác.

Việc gọi TH là Tàu cũng giống chúng ta cũng gọi Korea là Hàn quốc, Triều Tiên hay Đại Hàn, và United Kingdom là nước (và người) Anh, Ăng Lê, hay Vương Triều Anh Cát Lợi, và United States of America là Hiệp Chúng Quốc, Hoa Kỳ, Mỹ hay xứ (người) Cờ Hoa v.v.

Trong ca dao VN ngày xưa, lúc Tây có quyền và Tàu có tiền ông bà ta có khuyên các cô gái VN nên chọn người VN hiền hậu, có nhân nghĩa:

Lấy Tây lấy chiệc làm gì
So bề nhân nghĩa, sao bì An Nam.

{(Hồi nhỏ sống trong một xóm có cả người Việt lẫn người Tàu Quảng Đông và Triều Châu, chúng tôi thường nghe các em bé VN trêu chọc mấy em bé QĐ và TC bằng những câu sau đây:

Xẩm* lai, xẩm lai, thường hay thường hay
Ngồi đái gốc xoài, bị phạt đồng hai.

Hoặc   

Cắc chú” lai ăn khoai sình bụng
Triều châu dành* ăn vụng chảy re.

Hay là:

Cắc Chú, Thím Xẩm, Ba Tàu
Người nào cũng như người nấy
Luôn luôn trong mình có giấy,
Kiếm cách để đi về Tàu.
)}

(*xẩm = thiếm, người đàn bà Tàu; dành = người)}

Da 爺 = hay gia (tiếng gọi cha hay gọi người lớn: gia gia).

Dách (一) = một (HV: nhứt). Số dách = xố một, đứng đầu.  Dà dách廿一, một loại bài khi được số tổng cộng cao nhứt là 21 (HV: nhập nhứt).  Nếu nhà cái được 21 thì sẽ ăn tất cả tay con, trừ người có 21 thì huề nhau.  Nhưng nếu nhà cái kéo thêm mà quá 21 thì gọi là quắc.  Trường hợp nầy nhà cái chung tiền cho tất cả tay con, trừ tay con nào bị quắc.

Dách lầu 一 硫 = hạng nhất; (HV: nhất lưu).  Dách lầu mậu phô一 硫 旡 貨 = hạng trên hết không có gì bằng (HV: nhất lưu vô hóa = thượng hảo hạng).

Dành 人 = người (HV: nhân); mậu hẩu dành = người không tốt.

Dầu 油 = chất béo từ động vật (mỡ), hay từ thực vật (dầu). Như mỡ bò, dầu ô liu v.v.

Dầu chá quảy 油 炸 鬼hay dầu chá cối 油 炸 檜 = một loại bánh bột mì gồm hai miếng dính lại và chiên trong dầu thực vật hay trong mỡ (động vật); xem chi tiết ở phần ăn uống).

姨 = dì = em hay chị của người mẹ.  Dì dượng 姨 丈 = dượng (chồng của của dì).

Dụ khị = nói thế nào cho người khác tin mình (khị = nó).

Dương châu xáo phàn = cơm chiên Dương châu.

Đầu nậu頭 腦 = người đứng đầu một chuyện gì hay một nhóm người khác (HV: đầu não).

Đĩa 碟 (QT) = cái dĩa (chén).

Đinh 釘, HV cũng đọc đinh = cây đinh.  Trường hợp trùng âm.

Độc huyền cầm (HV) 獨 弦 琴 (Quảng Đông: tộc huyền cầm) = đàn một dây, còn gọi đàn bầu. Ca dao: Làm thân con gái chớ mê đàn bầu. Trường hợp trùng âm HV/QĐ.

Giá (do chữ Thầu giá của TC; HV: đậu nha) = mầm đậu.

Há cảo 蝦 鮫 = bánh (nhưn) tôm.

Hắc ín 黑 胭 = loại nhựa đen dùng trộn với đá xay nhỏ để trải đường còn gọi là dầu hắc; HV: hắc yên.

Hàm bà lằng (TC) = tất cả, toàn bộ; biến nghĩa của chữ nầy là “đủ thứ” (vật dụng từ a đến z) như chữ “thập cẩm”.

Hàu xì 蠔 豉 = con nghêu hay con hào phơi khô.

Hầu bao 荷 包 = cái ví hay cái “bóp” đựng tiền hay đựng giấy tờ quan trọng.

Hẩu xực = ăn ngon; HV: hảo thực, TC: hó chéc.

Hẹ 客 = “khách”: tên một chủng tộc xưa ở trung nguyên TH. Họ đã di cư đến Quảng Đông, Phước Kiến, nên người QĐ gọi họ là “khách”. Ở VN cũng có người Hẹ.

Hò, xử, xang, xe, cống, líu = 何 士 上 尺 工 六 = tên các bậc âm trong cổ nhạc (HV: hà, sĩ, thượng, xích, công, lục).

Hoành thánh 雲 吞 = thức ăn sáng bằng thịt heo (có khi trộn thêm tôm và vài món khác), xem chi tiết ở phần ăn uống.

Hộp 盒 = vật dùng để đựng. Ăn ở tiệm, còn dư thực phẩm có thể xin hầu bàn “lượng cơ hộp” = hai cái hộp để đem thức ăn dư về.

Hồng tầu xá 紅 豆 沙 = chè đậu đỏ (HV: hồng đậu sa).  Chữ hồng: Trường hợp trùng âm HV/QĐ.

Hủ tíu 棵 條 (TC đọc quẻ tíu; HV: qua điêu) = chỉ chung thức ăn gồm có bánh phở, thịt heo hay các loại thịt, cá, nấu theo kiểu Tàu.

Hui nhị tỳ 去 義 地 = về nghĩa địa = chết, HV: hồi = về.

Hương liệu = các gia vị có mùi thơm, HV cũng đọc hương liệu, trường hợp trùng âm HV/QĐ.

Kỉ tố 幾 多 = bao nhiêu.

Lạp chạp (TC) = lộn xộn.

Lạp xưởng 臘 腸 (HV: lạp trường) = dồi thịt heo.

Lẩu 爐 = món canh kiểu TH (chi tiết ở phần ăn uống).

Lậu = đọc gọn của chữ phá lậu pèng 花 柳 病 = một loại bịnh truyền nhiễm qua giao hợp. HV: hoa liễu bệnh.

Lè phè (QĐ đọc “lẹ phẹ”) = không tỏ ra siêng năng, hay quan trọng, chỉ làm cho có. Người lè phè sống qua ngày.

Lì xì 利 息, giọng HV: lợi tức. Hiểu theo nghĩa bình thường là “tiền lời” hay thu nhập, nhưng lì xì trong ý nghĩa quà tặng đầu năm được hiểu là “điềm có lợi” hay “dấu hiệu có lợi”, chữ tức ở đây là tin tức hoặc điềm. Tiền lì xì = tiền cho người khác, thường để trong giấy đỏ, tiền cho trẻ em ngày Tết.

Lộ (QT & HV) 路 = đường đi, lộ. (trường hợp trùng âm).

Lụ mụ 佬 母 = lão mẫu = mẹ già; nghĩa bóng: chậm chạp, thiếu sáng suốt.

Lục tầu xá 菉 豆 沙 (HV: lục đậu sa) = chè đậu xanh. Chữ lục: trường hợp trùng âm Q Đ/HV.

Lứ (TC) 你, HV: nễ = mầy, anh, chị (ngôi thứ ba, gọi người ngang hàng); hóa (Wá) = tôi, qua.

Mại 買= mua. Đây là tiếng “mại” của QĐ. Chữ “mại”= mua của QĐ tiếng HV đọc là “mãi”. (Trong khi đó chữ “mại” của HV lại có nghĩa “bán” như “mại danh = bán danh tiếng, mãi danh = mua danh, mại mãi = bán buôn.)

Mại bản 買 辦: người thay mặt hãng buôn lớn giao dịch vơi người ngoài. HV đọc “mãi biện”. Trong số từ ngữ Tàu (TC) được thông dụng ở miền Nam có từ Mái Chính (HV: mãi tấn), là người tổ chức mua hàng, ngày nay ngang với chuyên viên thu mua. Bên cạnh đó còn chuyên viên mãi biện, mãi bản tức người môi giới, tổ chức, bán vé trong ngành chuyên chở bằng tàu bè (comprador).

Mạt chược 麻 雀 = tên một loại bài của người Tàu. Có một số dân VN cũng thích chơi loại bài nầy; Người ta thường nói “xoa mạt chượt” (dùng hai tay xáo trộn những cây bài trước khi phân chia cho những người chơi bài.).

麵 = tiếng đọc trại của chữ “mìn” = bột lúa mì có pha trứng, màu vàng, cắt sợi nhỏ. Luộc chín và dùng với nước lèo và thịt heo hay hải sản.

帽 = nón (đội đầu che nắng).

Múi hay muội 妹 = em gái, bạn học nhỏ hơn mình; tiểu muội, học muội. HV = muội.

Nạm = bụng; dân ta xài chữ “thịt bò nạm” để chỉ loại thịt bò lóc từ sườn bò ra, có một lớp mỡ dính sát vào lớp nạt; loại “thịt nạm” nầy thường dùng nấu bò kho, phở tái nạm, hay chín nạm.

Nị 你, HV: nễ = ông, bà, anh, chị, mầy, cô, chú, dì, dượng v.v. (tiếng xung hô, ngôi thứ hai, dùng như chữ “you” của Ăng-lê); TC: lứ

Ngám = vừa đúng theo kích thước; “vừa ngám” = vừa y, vừa triến, vừa vặn.  Ngầu牛: 1. = bò; ngầu dục = thịt bò (HV: ngưu); ngầu píl là dương vật của bò, các tiệm phở có bán cho người thích ăn gân, hay người thích nhậu.  2. = hung dữ, quạu quọ, khó tánh.

Ngộ 我 = tôi, tao, qua, ông, chú, bác, cha , mẹ v.v. (tiếng xưng hô, ngôi thứ nhất dùng giống như chữ “I ” của Ăng-lê; HV: ngã; TC: u-á ;  QT: wá.

Nhẩm xà 飲 茶 = uống trà (HV: ẩm trà). Chi tiết ở phần “ăn uống”.

Pha = sợ; trong bài phé, pha là chịu thua, không thêm tiền vào nữa.

Phá lấu 打鹵 (TC) = lòng heo ướp hương liệu, xì dầu và đem um.

Phàn 飯 = cơm; (HV: phạn); xực phàn = ăn cơm (HV: thực phạn); bạc phàn 白飯 = cơm trắng (HV: bạch phạn). Xảo phàn =cơm rang.

Phay 塊 = mảnh vụn hay miếng mỏng. Thịt phay = thịt heo luộc cắt thành lát mỏng; gà xé phay = gà luộc xé thành miếng nhỏ trộn với rau răm và các loại rau khác (tùy ý thích của từng nhà).

Ca dao có câu:

Gà cồ ăn quẩn cối xay,
Rau răm muối ớt xé phay gà cồ.

Có thể “dao phay” (dao lớn để chặt xương hoặc cắt thịt) cũng do chữ “phay” nầy của QĐ mà ra.

Phé = cà phê.

Phì lủ 肥 佬 = anh mập.

Phì phà chảy 琵 笆 仔 = ca nhi, cô hát. Nghĩa khác là gái điếm.

Phóng xủi 風 水 = gió, nước (HV: phong thủy) = chữ chỉ về việc phương hướng, địa thế đất đai.  Thầy phóng xủi còn được gọi là thầy địa lý sống bằng cách coi xem phương hướng, địa thế coi có hạp với người cần làm một việc gì.

Phổ ky 伙 記 = người hầu bàn (bồi bàn) trong tiệm ăn hay nhân viên bán tiệm tạp hóa. HV: hỏa ký.  Phổi tai海 帶 = rong biển. Xem chi tiết ở phần “Ăn uống” bên trên

Phúc 福 (HV: phúc/phước) = phước; hạnh phúc, phúc hậu.

Qua 我 (HV: ngã) = tôi. Xem chi tiết bên trên

Quảng cáo 廣 告 = quảng cáo, trường hợp trùng âm.

Sâm bổ lượng清 補 涼 = một loại chè gồm một số các loại hột và rong biển. Chi tiết ở phần Ăn uống bên trên.

Sở hụi 所 費 = sở phí, chi phí.

Tả 打 = đánh; tả nị xẩy = đánh mầy (ông, anh, cô v.v.) chết.  Tả pín lù打 邊 櫨 = tên khác của lẩu, (chi tiết ở phần “ăn uống”).

Tài = lớn, (HV: đại).

Tài bán 大 班 = QĐ đọc tài pán = ngưới cầm đầu = chủ sự hay người sếp (chữ Việt gốc Pháp, chỉ người cầm đầu, người chỉ huy).

Tài lũ = anh, tiếng xưng hô để gọi một người lớn hơn mình.

Tài phú大 夫 (HV: đại phu) = người lo về trông coi tiền thu, xuất.

Tài xỉu 大 小 = đại tiểu= lớn nhỏ, một loại cờ bạc.

Tài sồi = búa lớn.

Tàu vị yểu (đọc trại của chữ tàu mêi yầu豆味油 = nước chấm làm bằng tương đậu nành. Tên khác là xì dầu 豉油, hay nước tương.

Tằng xại 冬 菜 (TC), HV = đông thái. Đông là mùa đông, thái là tất cả những loài rau cỏ ăn được. Nghĩa rộng: tăng xại là rau cải ướp gia vị dự trử để dùng vào mùa đông. Đặc sản trung quốc tằng xại còn có tên là “cải bắc thảo”, thường dùng để ăn như một món dưa mặn, hay có thể để vào canh thịt, thịt chưng, hoặc nước lèo bò viên.

Tằng khạo (TC). Theo TS Phan Tấn Tài, “tằng khạo” hay “từng khạo” là người thông ngôn. Người từng khạo đóng vai trò người cai như cai thợ, cai phu, cai công gặt (nông nghiệp), cai thuyền.  Trong thực tế, họ phải biết tiếng của chủ (TC) và sắp xếp, ra lịnh thay chủ.

Ví dụ việc làm của người “tằng khạo” của nhà máy xay lúa là có nhiệm vụ kiểm soát phu vác lúa vào và vác gạo ra, mỗi lần phu vác lúa vào nhà máy đi ngang tằng khạo thì trao cho ông một cái thẻ có sơn màu và khi trở ra vác một bao gạo thì trao cho ông một cái thẻ sơn màu khác với thẻ bao lúa. Tằng khạo chồng những cái thẻ này của từng người phu và từng màu theo hình vuông. Khi mãn giờ làm việc, tằng khạo đếm số thẻ lúa và thẻ gạo, ghi ra tổng số tiền công rồi giao cho tài phú trả tiền. Như vậy ông tằng khạo ở nhà máy xay lúa là một cai phu.

Trong “Ai Làm Được”, Hồ Biểu Chánh đã nói đến việc Phan Chí Đại làm “từng khạo”. Chí Đại có toàn quyền trên tàu đi tìm ngọc trai (có thể so sánh với chức thuyền trưởng).

Tẩy 底 = đáy hay mặt dưới của một vật (HV: “để”). Trong loại bài “phé”, tẩy là lá bài úp. Những người chơi loại bài nầy quan sát vẻ mặt của đối phương và đoán lá “bài tẩy” của đối phương để quyết định “pha” hay chịu thua, hoặc quyết định “tố” tức là để thêm tiền vào thách thức đối phương có dám thêm tiền cho bằng số hoặc thêm nhiều hơn nữa để thách thức. Nghĩa bóng của chữ “tẩy” là việc được giấu kín, hay bề mặt thực sự của một việc, không muốn người ngoài hay đối phương biết; nếu họ biết được sẽ có điều bất lợi cho người dấu tẩy.

Tẩy chay 柢 制 = một cách biểu lộ sự phản đối một việc gì hay một người nào qua hình thức tránh tất cả mối liên hệ với việc hay người đó. Ví dụ chúng ta hãy tẩy chay  tiệm ăn X bằng cách không đến đó ăn, vì chủ tiệm đó có thái độ kỳ thị chủng tộc trong việc mướn nhân viên, và đối với một số khách hàng.

Tẩu: do chữ yíl tẩu 煙 斗 = cái ống điếu để hút thuốc.

Tía: Cha (TC & QĐ = cha, cha vợ, dượng). Chữ nầy rất thông dụng ở miệt Hậu Giang. Ca dao VN :

Con cò nó mổ con lươn,
Bớ chị đi đường (ghe lườn) muốn tía tôi không,
Tía tôi lịch sự quá chừng,
Cái lưng mốc thích cái đầu chơm bơm.

Tiệm xấm hay tiệm xâm có nghĩa là “ăn sáng” hay “ăn lót lòng”; (HV: điểm tâm), xem chi tiết ở phần ăn uống.

Tỷ 弟 (TC) = em trai, còn là tên cho con trai. Thằng Tỷ năm nay được tám tuổi.

Tố 多 (QĐ, QT) = nhiều. (HV: đa) Trong bài “phé”, tố là thêm tiền để thách thức đối phương đánh theo. Nếu đối phương không theo là đối phương chịu thua. Nếu đối phương tố mà ta không dám theo (vì sợ nếu theo thì bị thua nhiều hơn) thì ta thua số tiền đã đặt ra ở những lần “tố” trước.

Tố chè 多 謝, HV: đa tạ = cảm ơn nhiều.

Tùng = lá bài được để ngửa lên trong một vòng của bài “cách tê” vì trong vòng đó nó là lá bài lớn nhất. “Tiêu tùng” là không có lá nào để ngửa. Tiêu tùng còn có nghĩa là mất hết cơ hội rồi.

Tửng 1 (TC) = đứa trẻ nhỏ như chữ thằng tửng;

Tửng 2 (Q Đ) = sang nhượng lại như: Anh tôi có tửng một căn phố thương mại gần chợ để mở tiệm cơm. Tiền tửng một cái nhà là số tiền phải đưa cho một người để họ dọn ra và người chịu “tiền tửng” sẽ dọn vào nhà đó.

Thầu kê 頭 家(TC) = ông chủ, HV: đầu gia).

Thầu xáng 頭 生 = người sếp, người cầm đầu của nhóm phổ ky. HV: “đầu sanh”.

Thấu cấy偷 雞 = ăn cắp gà. (HV: thâu kê). Nghĩa bóng là lừa gạt. Gạt gẫm người khác. Không thể tin ông ấy được vì thỉnh thoảng ông ta chơi trò “thấu cấy”.

Thèo lèo 甜 料 = kẹo gồm nhiều loại để chung nhau.

Thín cẩu 天 九 = tên một loại bài hình thẻ của người Tàu.

Thò lò 陀 螺= cái bông vụ, một loại đồ chơi của trẻ em. Nó cũng là một vật dụng dùng trong bài bạc.

Thồi檯 = bàn tiệc (HV: đài).

Thùng phá xảnh同 花 筍 = một con bài trong bài “xập xám”. Con bài nầy gồm năm lá cùng “một nước” (cùng loại) nhau. HV gọi là “đồng hoa duẫn”. Về bài sập xám, có hai hạng sau đây là hai con bài lớn: Nhứt “tứ quí (hạng nhất là bốn lá bài giống nhau như 4 lá ách, hay 4 lá tám), nhì “đồng hoa” (thùng phá sảnh).

Xa tế = tương có gia vị cay.

Xà bần什平 = do tiếng “chập bần” của TC = nhiều món trộn lẫn với nhau.

Gạch đá xà bần là gạch đá vụng do việc đập phá sân hay nền nhà, đổ lẫn lộn nhau thành đống. “Nồi xà bần” là nồi nấu chung nhiều món ăn dư của buổi tiệc hay của bữa ăn trước.

Xá xíu = thịt heo ram màu đỏ. Xá xíu báo = bánh bao nhưn xá xíu.

Xá lỵ = trái lê Tàu; HV: tuyết lê.

Xá xẩu 紗 綢 = loại tơ lụa màu đen.

Xẩm嬸 = thím = vợ của chú (HV: thẩm). Thí dụ: Sao chú xẩm không dẫn em Hoa đi theo cho vui. Dân ta dùng luôn hai tiếng Việt và QĐ thím xẩm và hiểu thím xẩm là thím người Tàu, hay người đàn bà Tàu lớn tuổi.

Xập kỉ nìn十 幾 年 = chỉ vật cũ kỹ lắm rồi. {(HV:thập kỉ niên = (đã xài từ) mười năm rồi)}. Vật đã quá cũ, quá xưa.

Xây cá nại, (HV: tế gia nải) = cà phê sữa / ly nhỏ; nghĩa thứ hai là không công bằng hay là thiên vị.

Xây chừng = cà phê đen ly nhỏ.  Xây lũ cố細 佬 哥 = em nhỏ, thằng nhỏ.  Xế車 = xe. Tài xế = người lái xe.

Xê cố雪 糕 = kem lạnh (cà rem); HV: “tuyết cao”.

Xí í-léo死 了(TC) = chết; (HV:tử liêu); VN đọc trại thành xí lắt léo.

Xí muội 酸 梅 = một loại kẹo (mứt) trái cây, nhiều vị mặn hơn ngọt, HV đọc là toan mai sau nầy thành ô mai)

Xí mứng 四 門 (TC) = bốn cửa, HV: tứ môn. Nghĩa bóng là dùng kế, hay phương cách làm người khác thi hành theo ý mình và có lợi cho mình. Thí dụ: Anh đó chơi “cú xí mứng” đễ dụ mầy hùn vốn (mượn tiền) cho ảnh làm ăn.

Trong võ Thiếu Lâm, bài tập vỡ lòng cho võ sinh là bài xí mứng, tập đánh 4 mặt.

{(Trong quyển Người Mỹ ưu tư, học giả Hồ Hữu Tường (1), khi viết về việc chánh phủ Sài gòn dẹp vụ “hỗn loạn” ở Đà Nẵng có giải thích:

Những người Việt chúng ta, hay xem các cuộc đấu võ, ắt biết rằng chánh phủ trung ương đánh đường quyền “xí mứng”. . phá cái trận có 4 cửa.  Cửa thứ nhất do tướng Nguyễn Chánh Thi . . .thủ.  Cửa thứ hai do các đảng chánh trị quốc gia thủ.  Cửa thứ ba do sinh viên giữ.  Còn cửa thứ tư là do Phật giáo thủ.  Phá từng cửa một, và với chiến thuật khác nhau, ấy gọi là đánh xí mứng)}.

Xí ngù (hay ngầu) lác (TC) 四 五 六 = 4, 5, 6 = hột xúc xắc có 6 cạnh, mỗi cạnh có ghi bằng nút từ 1 đ ến 6, thường là 3 hột, dùng trong việc đánh bài.

Xì dầu 豉 油 = nước tương, còn gọi tàu vị yểu.

Xì thẩu 事 頭 = ông chủ (HV: sự đầu).

Xìn xầm “báo chí tập” = trò chơi “bao” (bàn tay xè ra), “kéo” (hai ngón trỏ và giữa, banh ra như cái kéo) và “búa” (tay nắm lại như cái búa) giữa hai hoặc ba người để phân định hơn thua về một ý kiến gì.

Người ta cũng gọi nó là trò chơi “thùng một, thùng hai, thùng ba, ra cái gì ra cái nầy”. Sau câu nói đó, những tham dự viên sẽ đưa tay của mình ra theo một trong ba hình dáng “bao, kéo, hay búa” nói trên. Trong trò chơi nầy, “tay xè” thua “cái kéo”, “cái kéo” thua “cái búa” và “cái búa” thua “tay xè”.

Một số người VN còn dùng tiếng Việt gốc Ăng lê để gọi trò chơi nầy là trò chơi “oảnh tù tì (English: one, two, three) ra cái gì ra cái nầy”.

Xiên xáo hay xương xáo 仙草 (TC) = thạch đen, một loại thức ăn chế biến từ thực vật; QĐ gọi nó là lường phảnh 涼 粉 = bột mát.

Xín xái (TC) = sao cũng được; xín xái bò lái bò khự (TC) = bỏ qua đi, sao cũng được mà, tính đại khái cho xong.

Xính xáng 先 生 (QĐ và QT đọc gần giống nhau) = ông, thầy hay cô giáo, chồng (tiếng xưng hô). HV: tiên sinh.

Xíu dục hay roast pork = thịt heo quay.

Xíu mại 燒 買, HV: thiêu mãi = thức ăn sáng bằng thịt heo, chi tiết ở phần ăn uống.

Xỉu phé = cà phê (ly) nhỏ.

= khờ khạo, ngu; xò chảy = thằng nhỏ khờ, ngu.

Xuận xủi xuận phong 順 水 順 風 = thuận gió thuận nước; đây là câu chúc cho một người hay nhiều người sắp đi xa.

(VN ta cũng có câu chúc thuận buồm xuôi gió.  Phải công bình mà nói, câu chúc của Tàu hợp lý hơn của ta vì gió và hướng nước chảy là hai yếu tố chánh làm cho việc đi ghe thuyền được nhanh chóng. Nếu thuận buồm xuôi gió mà gặp giòng nước ngược thì chắc chắn là không đi nhanh được rồi.  Có lẽ câu “thuận gió thuận nước” nghe không êm tai bằng câu “thuận buồm xuôi gió” nên chúng ta xài câu sau chăng?  Trong ca dao VN có câu:

Giòng xuôi ngọn gió càng to
Lá buồm càng lớn chiếc đò càng nhanh.

Hai câu nầy rõ ràng là thuận nước thuận gió rồi.

Xủi 水 = nước; quảnh xủi = nước sôi, pín xủi = nước đá lạnh.

Xủi cảo = bánh nước, giống như hoành thánh nhưng to hơn, ngoài thịt heo bằm ra, thường có tôm, và nấm mèo, dùng làm nhân, và có hình bánh quai vạc của VN.

Xực phàn = ăn cơm, (HV: thực phạn).

Xường xám長 釤 = áo dài (đàn bà), kiểu Thượng Hải, tay ngắn, hoặc dài, hai vạt trước và sau như áo dài VN nhưng bó sát gần chân, có xẻ hai bên từ hông xuống hết chiều dài của áo. Đây là một kiểu áo trông rất “sexy”. (HV: trường sám).

Yến 引 (TC) = 10 cân = 6 ki-lô ; đơn vị đo lường (trọng lượng) ngày xưa.

 

Nguyễn Hữu Phước, tháng 8, 2015

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Sách:

Cơ Sở Ngữ Văn Hán Nôm, Lê Trí Viễn, Đặng Đức Siêu, Nguyễn Ngọc San, Đặng Chí Huyển, nhà xuất bản Giáo Dục, 1984

Hán Văn Giải Tự chữ Nho và Khoa Học, Tạ Quang Phát, Đại Nam xuất bản, 19??

Sách Tra Chữ Nôm Thường Dùng, Lạc Thiện, Hội Ngôn Ngữ Học Việt Nam, 1994

Thành Ngữ – Cách Ngôn gốc Hán, Nguyễn Văn Ba, nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia, Hà Nội, 1998

Tiếng Việt Tàu, TS Nguyễn Hữu Phước, tài liệu khoá Tu Nghiệp Sư Phạm, Nam California, 2015

Tự Điển Chữ Nôm Trích Dẫn, Nguyễn Hữu Vinh, Đặng Thế Kiệt, Nguyễn Doãn Vượng, Lê Văn Đặng, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Uyên Thi, Viện Việt Học, USA, 2009

Tự Điển Hán Việt Hán Ngữ Cổ Đại và Hiện Đại, Trần Văn Chánh, nhà xuất bản Trẻ, Việt Nam, 2000

Từ Điển Hán Việt Hiện Đại, Nguyễn Hữu Cầu, Lý Chính, Phan Ngọc Hạnh, Nguyễn Kim Thản, Khương Ngọc Toàn, nhà xuất bản Thế Giới, Việt Nam, 1994

Từ Điển Văn Học Việt Nam, Trần Văn Kiệm, 2007

Từ Vựng gốc Hán trong Tiếng Việt, Lê Đình Khẩn, nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Việt Nam, 2002

Văn Pháp Chữ Hán, Phạm Tất Đắc, nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1996

 

Internet:

Chinese Character Dictionary: http://www.mandarintools.com

English-Chinese Dictionary (online): https://www.google.com/search?q=english+chinese+dictionary

Nôm and Sino-Vietnamese Pronunciation Guide Fourth Edition Copyright © 2004 by Anthony Trần Văn Kiệm (internet: http://www.nomfoundation.org/nom-tools/Nom-Dictionary

bài đã đăng của Trần Ngọc Dụng


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Văn hóa rất quan trọng.

    Văn hóa, đặc biệt là chữ viết, rất quan trọng. Rất nhiều học giả trên thế giới đều có nhận xét về chữ Hán – Han characters. Họ cho rằng chính chữ Hán, Hanzi đã xâu kết và làm nên người Hoa với nét văn hóa khá đặc thù. Mà vốn dĩ chủng tộc họ đa tạp, nói tiếng khác, tập quán cũng khác.

    Nhưng đó là trong điều kiện tự nhiên và tự do, như cây thông được mọc khoáng đạt giữa rừng. Nếu vì lẽ gì văn hóa bị sinh hoạt trong một thể chế dùng bạo lực kềm tỏa thì mọi chuyện hoàn toàn khác hẳn.

    Thí dụ dễ thấy nhất là trường hớp Nam Bắc Hàn. 1 dân tộc nhưng 2 thể chế khác biệt sinh ra 2 xã hội trái nhau. Con người với tính khí và suy tưởng cũng gần như nghịch nhau. Chỉ vì thế lực cường bạo của nhà nước (Bắc) quá khắc nghiệt.

    Trường hợp cũng có thể thấy nơi người Hoa thời VNCH và người TQ sang VN làm việc và ngụ cư hiện nay. Nếu quý vị từng sống thời VNCH thì quý vị hẳn còn nhớ hình ảnh và sinh hoạt người Hoa lúc đó. Cái dễ thấy nhất là tiếng nói VN của họ. Họ nói giọng Nam, ngọng nghịu và họ xuề xòa thân thiện với người Việt. Ngay tại Sài Gòn, Chợ Lớn, cũng có nhiều người Hoa trong giới bình dân lao động. Tôi còn nhớ tiếng mì gỏ hằng đêm, xe nước đá sâm bổ lương, tiếng rao bán chè mè đen của bà Xẩm người Tàu cắt tóc ngắn, ở đường Hoàng Hoa Thám, Bùi Viên – Sài gòn. Bà Xẩm già này rao bằng tiếng Tàu lẫn tiếng Việt :

    Chíiiii mà hủ ! Chè mè len ! Chè mè len lây !

  • Nguyen Chính viết:

    Cám ơn tác giả đã bỏ nhiều công phu soạn một tài liệu rất phong phú và thú vị.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)