Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Tìm hiểu từ-ngữ gốc “Hán” (phần 3/4)
Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu Email bài này

Tìm hiểu từ-ngữ gốc “Hán” (phần 3/4)

 

 

VIỆT HOÁ VỀ PHƯƠNG DIỆN TỪ PHÁP

 

1. Việt hoá từ ghép theo thứ tự tiếng Việt

Trong nỗ lực du nhập có chọn lựa, chữ Việt chỉ dùng một phần nhỏ trong các nghĩa của chữ Tàu chuyển tự dung chứa. Sau đây là một vài cách tiêu biểu.

 

a. Thay đổi vị trí của chữ ghép: Việt và Tàu chuyển tự theo phong cách tiếng Việt: Ở điểm này, tiếng Việt dựa trên lý âm dương (ina-dang), tầm quan trọng và lẽ tự nhiên. Thí dụ: vợ chồng, cây cỏ, ruộng vườn, vuông tròn, …

đạo điền 稻田 {dàotián} ‘lúa đồng’ (rice paddy) > đồng lúa (field of rice)

hoa viên 花園 {huāyuán} ‘bông vườn’ (flower garden) > vườn hoa (garden of flowers)

nam nữ 男女 {nánnǚ} ‘trai gái’ (boy& girl) > gái trai (girl and boy)

ngữ ngôn {yǔyán} ‘tiếng nói’ (language) > ngôn ngữ

phu thê 夫妻 {fūqī} ‘chồng vợ’ (husband & wife) > vợ chồng (wife&husband)

thảo mộc 木 {cǎo mù} ‘cỏ cây’ (grass & tree) > cây cỏ (trees and grass)

thổ địa 土地 {tǔdì} ‘vùng đất’ (land) > đất đai (land of all types)

 

b. Thay đổi thứ tự trong một mệnh đề: Theo quy luật ngữ pháp tiếng Việt, chữ chính đứng trước và các chữ bổ nghĩa đứng sau; lối này ngược với tiếng Tàu. Thí dụ: Công thương ngân hàng > ngân hàng công thương.

đại nhân thủ hạ 大人手下 {dàrén shǒu xià} ‘người thế lực tay dưới’ (an influential figure’s subordinates) > thuộc hạ dưới tay của người có thế lực’

lâu trung quả phụ 樓中寡婦 {lóu zhōng guǎfù} ‘giữa lầu đàn bà goá’ (a widow in the house) > người đàn bà goá ở trên lầu

liễu hạ lộc minh 柳下鹿鳴 {liǔxià lùmíng} ‘dưới cây liễu nai kêu’ (the deer cries under the willow tree) > nai kêu dưới gốc liễu

nhục hình hữu tứ 肉刑有四 {ròuxíng yǒusì} ‘hình phạt đau đớn có bốn’ (four forms of torture) > có bốn hình phạt làm đau đớn thể xác (mặc ‘thích chữ trên mặt bôi sơn để mọi người thấy’, nghị ‘cắt đứt mũi’, phị ‘cắt chân’, cung ‘thiến giái’)

phản loạn tội án 反亂罪案 {fǎnluàn zuìàn} ‘chống lại làm loạn mang tội bị kêu án’ (committing reactionary crime) > bị kêu án về tội phản loạn

sàng thượng bệnh nhân 床上病人 {shàngchuáng bìngrén} ‘trên giường bệnh nhân’ (a sick person in bed) > người bệnh nằm trên giường

thuỷ thượng tiểu chu 舟 {shuǐshàng xiǎozhōu} ‘trên nước thuyền nhỏ’ (small boat afloating on the water) > thuyền nhỏ nổi trên nước

Việt Nam dân tộc 越南民族 {yuènán mínzú} (Vietnamese people) > dân tộc Việt Nam

 

2. Việt hoá thành ngữ để có thể diễn tả thêm phong phú

Từ hình thức trên tiếng Việt còn du nhập khá nhiều thành ngữ theo lối chữ Tàu chuyện tự vào kho tàng văn hoá Việt Nam. Trong số có ba hình thức: giữ nguyên, pha trộn với tiếng Việt và Việt hoá hoàn toàn:

 

a. giữ nguyên cách diễn đạt về ý, nghĩa và cấu trúc của thành ngữ:

ác giả ác báo 者惡報 {èzhe ebào} ‘làm ác trả ác’ (a blow for a blow) > người làm ác thì nhận quả báo

an bần lạc đạo 安貧樂道 {ānpín lèdào} ‘nghèo yên ổn vui đường đạo’ (to live a poor but safe and happy way) > sống nghèo mà an vui

an cư lạc nghiệp 安居樂業 {ānjū lèyè} ‘sống yên vui nghề’ (settle down, build career) > sống yên ổn vui với nghề

bách niên giai lão 百年皆老 {bǎinián jiēlǎo} ‘trăm năm đều già’ (long-lived connubial bliss) > trăm năm sống đời với nhau

bài binh bố trận 排兵佈陳 {páibīng bù chén} ‘sắp xếp lính bố trí trận đánh’ (to deploy a troops of soldiers) > bố trí lực lượng để sẵn sàng chiến đấu

bình an vô sự 平安無事 {píngān wúshì} ‘bình yên không sự gì xảy ra’ (safe and sound) > mọi sự được yên ổn

cẩn tắc vô ưu 慬則無憂 {jǐnzé wú yōu} ‘thận trọng theo nguyên tắc thì không sợ’ (caution is the root of peace of mind) > cẩn thận thì không lo lắng

cốt nhục tương tàn 骨肉相殘 {gǔròu xiāngcán} ‘xương thịt cùng hại nhau’ (fratricidal war) > anh em giết nhau

danh bất hư truyền 名不虚傳{ míngbù xūchuán} ‘tên không truyền trống không’ (well-deserved reputation) > tiếng đồn không ngoa

khẩu phật tâm xà 口佛心蛇 {kǒufú xīnshé} ‘miệng Phật lòng rắn’ (a devil’s sweet talk)

lực bất tòng tâm 力不從心 {lìbù cóngxīn} ‘sức không theo lòng’ (the will is strong but the meat is weak) > muốn mà không làm nổi

môn đương hộ đối 門當戶對 {méndāng hùduì} ‘cửa nhà tương xứng’ (good match of two wealthy families) > môn đăng hộ đối (nhà gái và nhà trai phải tương đồng về thành phần xã hội)

phi thương bất phú 非商不富 {fēishāng bùfù} ‘không buôn bán không giàu’ (doing business may bring in wealth)

quân tử nhất ngôn 君子一言 {jūnzi yīyán} ‘người được tôn vinh một lời’ (an honest person keeps his words) > người đàng hoàng nói một là một

quốc hồn quốc tuý 國魂國粹 {guóhún guócuì} ‘hồn nước cái tinh của nước’ (the national soul and quintessence) > tinh thần và cái tinh anh của một nước

tương kế tựu kế 相計就計 {xiāngjì jiùjì} ‘dùng kế thành kế’ (calculated on the total of a tooth for a tooth) > dùng kế đối thủ đánh lại đối thủ

xưng hùng xưng bá 稱雄稱霸 {chēng xióng chēngbà} ‘tự xưng mạnh tự bắt người theo’ (to proclaim oneself leader of the vassals) > dùng sức mạnh bắt nạt người khác

 

b. pha trộn thành ngữ chữ Tàu chuyển tự với tiếng Việt để có thành ngữ mới hoặc tương đương:

ái ốc cập ô 愛屋及烏 {àiwū jíwù}‘yêu nhà yêu cả con quạ trên nóc nhà’ (love me love my dog) > thương người thương cả đường đi

bán sinh bán tử 半生半死 {bànshēng bànsǐ} ‘nửa sống nửa chết’ (half-live half dead) > bán sống bán chết

chỉ thượng đàm binh 紙上談兵 {zhǐxiàng tánbīng} ‘chỉ giấy luận binh’ > (impractical military officer) đánh giặc bằng mồm

cửu hạn phùng cam vũ 久旱逢甘雨 {jiǔhàn féng qānyǔ} ‘’ (a long drought rain) > nắng hạn gặp mưa rào (a good opportunity for a desperate plight)

đắc thời đắc thế 得時得勢 {déshí déshì} ‘được thời được thế’ (time for the potential) > cờ đã đến tay

dĩ độc trị độc 以毒制毒{yǐdú zhìdú} ‘lấy độc chống độc’ a dose of her own medicine) > lấy độc trị độc

dĩ đức vi tiên 以德先 {yǐdé wéixiān} ‘lấy đức làm trước (one’s virtue shapes his life) > lấy đức làm đầu

dĩ kỷ đạc nhân 以己度人 {yǐjǐ dùrén} ‘’ (to judge others by one own last) > suy bụng ta ra bụng người

độc mộc bất thành lâm 獨木不成林 {dúmù bùchéng lín} ‘một cây không thành rừng one single tree can’t make a forest) > một cây làm chẳng lên non

hàm huyết phún nhân 含血噴人 {hánxiě pēnrén} ‘’ (to lay a crime at someone’s door) > ngậm máu phun người

hoạ xà thiêm túc 添足 {huàshé tiānzú} ‘vẽ rắn thêm chân’ (an excess is unnecessary for a particular end) > thừa giấy vẽ voi

khi nhân thái thậm 欺人太甚 {qīrén tàishén} ‘khinh người thái quá’ (to overly look down one’s nose at others) > khinh người quá đáng

manh nhân mô tượng 盲人摸象 {mánrén mōxiàng} ‘người mù sờ voi’ (hasty judge a book one has not read) > không biết mà đoán mò

ngoạ tân thưởng đảm 臥薪賞膽 {wòxīn shǎngdǎn} ‘nằm trên củi hưởng mật’ (to endure all kinds of hardships) > nằm gai nếm mật

tửu nhập ngôn xuất 酒入言出 {jiǔrù yánchū} ‘rượu vào lời ra’ (a drunkard knows not what he says) > rượu vào thì lời ra

 

c. Việt hoá hoàn toàn – trong phần này, tiếng Việt có thành ngữ tương dương với ý của tiếng Tàu chuyển tự:

chỉ lộc vi mã 指鹿為馬 {zhǐlù wéimǎ} ‘point at the deer talk about the horse’ (double-dealing behavior) > đổi trắng thay đen

duật bạng tương tranh 鷸蚌相爭 {yùbàng xiāngtóng} ‘cò trai tranh nhau’ (the kingfisher and the clam grip each other) > trai cò quắp nhau (ngư ông hưởng lợi)

đả thảo kinh xà 打草驚蛇 {dǎcǎo jīngshé} ‘disturbing the grass would scare the snake ’ > bứt dây động rừng

hoạ tòng khẩu xuất 禍從口出 {huòcóng kŏuchū} ‘disasters are from the mouth’ > vạ mồm vạ miệng

hữu khẩu vô tâm 有口心 {yǒukǒu wúxīn} ‘’ > ruột để ngoài da

kiến dị tư thiên 見異思遷 {jiànyì sīqiān} ‘grass is greener beyond the hill’ > đứng núi này trông núi nọ

lâm khát quật tỉnh 臨渴掘井 {lín kě jué jǐng} ‘đến khát khai giiếng’ (to act at the last minute) > nước đến chân mới nhảy

lễ bạc tâm thành 禮薄心誠 {lĭbó chéngxīn} ‘lễ ít lòng thành’ (don’t look the gift horse in the mouth) > của ít lòng nhiều

lương dữu bất tề 良莠不齊 {liángyǒu bùqí} ‘cỏ tốt chẳng ngay ngắn’ (the good and the bad altogether) > vàng thau lẫn lộn

nam ngoại nữ nội 男外女内 {nánwài nǚnèi} ‘boy outside girl inside’ (husband makes house, wife makes hom) > của chồng công vợ

ngật lý bà ngoại 吃里爬外 {chīlì páwài} ‘eat jambos protect racemosa) ‘a behavior of a disloyal person)’ > ăn táo rào sung

nhân dục vô nhai 人慾無涯 {rényù bùyá} ‘người muốn không bờ’ (one’s desire is limitless) > lòng tham không đáy

phụ trái tử hoàn 父債子還 {fùzhài zǐhuán} ‘father owes debt son repays’ (father eats salty food, son feels thirsty) > cha ăn mặn con khát nước

thảo mộc giai binh 草木皆兵 {cǎomù jiēbīng} ‘cỏ cây đều là lính’ (to believe that the moon is made of green cheese) > trông gà hoá cuốc

thủ chu đãi thố 守株待兔 {shǒuzhū dàtù} ‘canh cây chờ thỏ’ (to expect a fortune without any exertion) > há miệng chờ sung

 

Chưa thoả mãn với hình thức chuyển tự, người Việt thuộc giới Nho sinh uyên bác đã tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng trực tiếp của người Tàu nên đã sáng chế ra chữ Nôm. “Nôm” nghĩa là nói theo lối đơn giản, bình dân “nói nôm na”. Các trang dưới đây làm phần so sánh sơ lược về cách viết và đọc giữa chữ Tàu chuyển tự chữ Nôm, để sau đó dần dần được thay thế bằng chữ quốc ngữ như hiện nay.

 

CHỮ NÔM

Chữ Nôm là thứ chữ các học giả người Việt đã áp dụng những yếu tố của chữ Tàu để diễn tả cách nói của người Việt. Chữ Nôm đóng vai trò rất quan trọng trong nỗ lực duy trì văn hoá của người Việt nhất là về phương diện ngôn ngữ và văn chương.

Muốn thạo chữ Nôm, người dùng phải biết rành chữ Tàu. Do vậy, có thể nói chữ Nôm khó hơn chữ Tàu nên kể từ khi có chữ quốc ngữ, chữ Nôm hầu như bị lãng quên. Những tác phẩm nổi tiếng như Cung Oán Ngâm Khúc của Ôn Như Hầu; Kim Vân Kiều, Nguyễn Du; Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu; Nhị Độ Mai, khuyết danh; Phan Trần, khuyết danh; Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi, v.v.. đều viết bằng chữ Nôm.

Hình thức chữ Nôm có hai phần: phần âm và phần nghĩa. Thông thường phần nghĩa đi trước và phần âm theo sau nhưng cũng có vài trường hợp ngược lại:

Dưới đây là một số thí dụ về chữ Nôm:

họ Top of Form

anh (em) 偀 =  人nhân + 英 anh ‘các loài hoa’  (người + anh = anh)

(lão) =  女nữ + 波 ba ‘sóng nhỏ’ (nữ + ba = bà)

chân (tay) 蹎 = 足 túc + 眞chân (thành)

chồng (vợ) 夫重 = 夫phu + 重trùng (lặp lại)

dạy (dỗ) = 口khẩu + 代đại (thay thế)

đa (cây) 栘 = 木mộc + 多đa ( nhiều)

đá (sỏi) = 石thạch + 多đa

đến (nơi) 至旦 = 至chí + 旦đán

gạch (ngói) = 石 thạch ‘đá’ + 額ngạch

giòng (nước) = 水thuỷ + 用dụng (dùng)

hai (số 2) = 台đài + 二 nhị (hai)

hay (dở) 咍 = 口khẩu + 台đài

khói (lửa) = 火 (hoả ‘lửa) + 塊khối

lử (mệt) = 無 (vô) + 力lực

năm (5) 五年 = 五năm + 年niên (năm tháng, tuổi)

năm (tháng) = 男nam + 年niên

nôm (na) 喃 = 口khẩu + 南nam (hướng)

ra (khỏi) = 羅 (la) + 出xuất

rủi (ro) 㩡 = 手thủ + 㩡 lỗi

sáu (6)” = 老 ‘lão’ + 六 ‘lục’

sông (nước) 瀧 = 水thuỷ + 龍long

thương (mến) 愴 = 心tâm + 倉thương

trăm (100) 百林 = 百 bách + 林lâm (rừng)

trời (cao) = 天 (thiên) + 上thượng

việt (ưu) 越 = 走vượt + 戉việt (rìu) (tên gọi Việt Nam ngày nay)

vợ (chồng) = 女nữ +備 bị

với (ai) 唄 = 口khẩu + 貝bối

Ngoài các chữ ghép hai, còn khá nhiều chữ ghép ba trong chữ Nôm. Điều này cho thấy tiếng Việt ngày xưa không có dấu thanh như ngày nay:

lời (nói) = 麻 ‘ma’ + 例 ‘lệ’ + 亠 “ời”: hai chữ “ma” và “lệ” dùng để thay cho mẫu tự ghép “ml” và phần giản lược 亠 thành âm “ời”

trăng (sao) = 巴 ‘ba’ + 夌 ‘lăng’ + 月‘nguyệt’ (chữ trăng nằm trong số khó nhất vì phải qua nhiều giai đoạn biến âm: có ba chữ hợp lại vì ngày trước không nói trăng mà nói blăng nên ‘ba’ và ‘lăng’ ‘hợp lại thành âm [bl]. Sau này trở thành giăng > trăng)

tròn (trịa) = 圓 ‘viên’ với bộ vi 囗 nhưng sau đó bỏ đi để còn 員 hợp với chữ 侖 ‘lôn’, biểu thị cho “l” của phụ âm kép [tl] và phần vần của từ “tlòn”.

Trên đây là những nét đại cương về cách sử dụng chữ Tàu chuyển tự trong đó nỗ lực “thoát Tàu” luôn luôn là yếu tố then chốt được ông cha của con cháu người Việt theo đuổi. Nỗ lực đó bắt đầu từ cách biến cách nói của người Tàu thành cách nói của người Việt, dần dà sang thay đổi cách viết dựa trên chữ Tàu để trở thành cách viết riêng của người Việt.

Cuối cùng chữ quốc ngữ đã hoàn toàn xoá hẳn vết tích chữ Tàu về phương diện chữ viết. Chúng ta cần noi gương tiền nhân bằng cách sử dụng ngôn ngữ mình sao cho trong sáng.

bài đã đăng của Trần Ngọc Dụng


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Người Việt cũng có thể chế ra từ gốc Hán được.

    Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện là danh xưng cóp hoàn toàn từ TQ. Còn, ông Quận trưởng, ông Tỉnh trưởng, ông Thủ tướng là chức danh do người Việt đặt ra để dùng. Xã đội du kích là tên đặt của người Tàu. Lính Địa phương quân, lính Nghĩa quân chỉ có ở VN thời VNCH. Người Tàu TQ họ không biết lính NQ là gì và họ không dùng như vậy.

    Thật ra, với số vốn chữ Nho căn bản, người viết Việt Văn họ khá dễ dàng khi dùng và khi viết tiếng Việt. Kể cả khi … chế trong văn chương. Trường hợp cũng giông giống như người học nhạc, biết căn bản âm giai 7 nốt do re mi fa sol la si thì tự dưng họ có thể chế ra nhạc điệu khác nhau tùy nền văn hóa.

    Chữ QN của VN hiện nay dùng theo mẫu tự La tinh, dễ học và rất tiện dụng. Tuy nhiên, xét về mặt học thuật, tiếng Việt cũng gặp khá nhiều trở ngại khi tuyệt giao với chữ Nho. Có lẽ đây là lý do người Hàn, người Nhật vẫn giữ lại chữ gốc Hán, Hanja và Kanji trong giáo dục căn bản môn văn của họ.

    Ở đây có một mắc mướu. Nếu bây giờ mà đặt ra chủ đề có nên học lại mặt chữ Nho hay không, tôi e là sẽ nổ ra tranh …. cãi. Tranh cãi lớn và… dài dài. Đó là vấn đề.

    Và nếu giả dụ sau rốt tranh luận thắng nghiêng về phía loại hẳn chuyện học lại chữ Nho, thì tôi vẫn cho là hoài công. Nói rõ ra, tôi không tin là chính quyền đương cục (Việt và Tàu) đồng ý cho người Việt học lại chữ Nho trong chương trình giáo dục học đường đàng hoàng. Vì sao?

    Khác với ngôn ngữ nhiều nước, Việt và Nho trong tiếng Việt là một cấu trúc xoắn. Nó có chiều sâu thẳm của tâm linh, triết học và lịch sử của người VN. Người Việt viết tiếng Việt mà lại (thiếu) căn bản chữ Nho, xin lỗi, mặt nào đó tôi cảm thấy nó giống như mấy bà me Tây me Mỹ cũng nói tiếng Mỹ như … gió.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)