Trang chính » Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị, Nhận Định Email bài này

Vì sao “ý kiến quần chúng” không bao giờ sai?

0 bình luận ♦ 24.04.2018



“Quần chúng không bao giờ sai” là câu nói của không ít người có niềm tin ở sự sáng suốt không thể nghi ngờ của quần chúng. Nhưng cần xem đây là quần chúng nào, quần chúng với kinh phí vận động đương thời hay quần chúng với ý kiến tích đọng của lịch sử văn hóa. Với thực tế lịch sử, điều “ý kiến quần chúng không bao giờ sai” đó luôn đúng, bởi vì để quần chúng không sai là cả một quá trình lịch sử lâu dài thẩm ngấm thông tin chân lý dẫn từ rất nhiều những cá nhân khoa bảng, những học giả xuất sắc rải rác trong lịch sử được dần dần truyền bá phổ quát vào dân chúng. Chỉ có trí tuệ có đẳng cấp tinh hoa mới có nhận định khách quan, sáng suốt về một sự kiện hay một cá nhân quan trọng nào đó của cộng đồng. Những thông tin sáng giá như thế có nhiều con đường đến với quần chúng lao động, với thời gian đủ lâu đã thành niềm tin về lẽ phải, công lý và tri thức văn hóa của cộng đồng. Những quan điểm lịch sử khách quan sáng suốt về thời thế và nhân vật lưu truyền trong quần chúng đã tạo nên khái niệm “quần chúng không bao giờ sai.”

Những trí tuệ tiến bộ của lớp tinh hoa dân tộc có nhiều cách phổ biến tri kiến vào trong dân và trở thành “ý kiến quần chúng.” Đây là sự tự nhiên của dòng chảy chân lý văn hóa mà mọi chính quyền không vì nước vì dân, phản lại lợi ích của dân tộc luôn canh chừng, ngăn cản và sợ hãi. Những ý kiến của “quần chúng không bao giờ sai” đó có thể phổ biến bằng thơ, phú, câu đối, vè, ca dao viết trực tiếp, hay bằng chuyện kể lại của các bằng hữu, tùy tướng, gia nhân của những bậc cao nhân tinh hoa. Và cả những ghi chép trong gia phả của nhiều gia tộc về tổ tiên, cha, anh họ. Trong mọi trường hợp, đánh giá về văn hóa, chính trị, đạo đức của thời thế hay của cá nhân nhất định cần đến trình độ học lực cao, có thể kèm theo cả ghi chép của họ khi chứng kiến sự kiện lịch sử xảy ra. Cũng có khi là hồi ký của cá nhân trong gia tộc có thân phận thật gần gũi nhân vật lịch sử. Điều này khó có và khó phổ biến theo cách thời sự trong dân chúng cần lao.
           Không ít dẫn chứng lịch sử thời phong kiến và thời Pháp thuộc cho thấy các chính thể đương thời thường che mờ sự thật và hướng dẫn dư luận quần chúng hiểu theo ý chỉ thuần túy có lợi cho nhà cầm quyền, và rất thành công. Những thành công về dư luận kiểu lợi thế đó luôn chỉ là lợi thế trong thời điểm lúc đó về thông tin tuyên truyền của chính quyền đương thời, nhưng không thể che đậy hay xóa được chân lý đã được các bậc tinh hoa có lương tâm viết lại dưới nhiều hình thức lan truyền trong dân. Tất nhiên là chân lý đó cần nhiều thời gian để thẩm thấu. Và cũng tất nhiên là dư luận chính trị và những oan sai lịch sử đều trong tình huống “chờ được vạ thì má đã sưng.” Điều tích cực có lợi cho cộng đồng của sự “…má đã sưng” này là minh chứng rõ ràng nhà cầm quyền không thể che, bịt được chân lý, không thể bóp méo được sự thật lịch sử. Tất cả ngấm trong dân trở thành văn hóa, không thể sai và  trở thành những tấm gương cho nhà cầm quyền soi ngẫm. Đơn cử như vụ án oan nổi tiếng trong lịch sử dân tộc,  “Vụ án Lệ chi Viên”.

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

Vụ án Lệ chi viên, tức Vụ án vườn vải, là một vụ án nổi tiếng thời Lê sơ. Qua vụ án này, Hành khiển Nguyễn Trãi và vợ là Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ bị triều đình qui tội giết Lê Thái Tông, bắt tội đến 3 họ. Đến năm 1464 triều Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi được minh oan, người con còn sống sót là Nguyễn Anh Vũ được cất làm quan huyện, (bản thân) ông được truy tặng tước hiệu.

Nhân sự trong vụ án:
-Nạn nhân: Lê Thái Tông
-Thiệt hại: Tính mạng
-Nguyên nhân: nhiễm sốt rét
-Người bị kết án là thủ phạm: Nguyễn Trãi
-Những người bị liên lụy và cùng bị xử tử: Nguyễn Thị Lộ cùng 3 họ.

Bối cảnh trước vụ án:

           Lên ngôi năm 1433 khi 11 tuổi, Lê Thái Tông tỏ ra là vị vua tài năng, quyết đoán, tự mình trừ bỏ 2 đại thần phụ chính của vua cha là Lê Sát và Lê Ngân. Tại hậu cung, vua có sáu người vợ:
            – Lê Thị Ngọc Dao, con Tư đồ Lê Sát, bị phế làm dân thường sau khi Lê Sát bị giết năm 1437;

· Lê Thị Lệ, con đại thần Lê Ngân, bị truất xuống làm Tu Dung sau khi Lê Ngân bị giết năm 1437;

· Dương Thị Bí, sinh ra Lê Nghi Dân năm 1439, là Hoàng hậu bị phế xuống làm Chiêu Nghi, còn Nghi Dân bị truất ngôi thái tử (phong 1440), phong làm Lạng Sơn vương năm 1441;

· Bùi Quí Nhân, mẹ của Cung vương Lê Khắc Xương. Cả hai mẹ con không được sủng ái.

· Nguyễn Thị Anh: sinh ra thái tử Lê Bang Cơ (Vua Lê Nhân Tông) năm 1441, được phong Hoàng hậu sau khi Dương Thị Bí bị phế truất.

· Ngô Thị Ngọc Dao: Tiệp dư, vì làm mất lòng Thái Tông nên từng bị bắt giam, được đại thần Trịnh Khả cứu thoát. Sau đó sinh ra hoàng tử Lê Tư Thành vào tháng 7 năm 1442, rồi hai mẹ con dời ra sống ngoài kinh thành.

Ngoài ra, sử sách ghi nhận Lê Thái Tông còn có quan hệ tình cảm với vợ thứ của Thừa chỉ Nguyễn Trãi là Nguyễn Thị Lộ, một người phụ nữ “rất đẹp, văn chương rất hay”, được gọi vào cung phong làm Lễ nghi học sĩ, ngày đêm hầu bên cạnh.

Thừa chỉ Nguyễn Trãi là công thần khai quốc nhà Hậu Lê, một văn thần có nhiều đóng góp trong khởi nghĩa Lam Sơn. Tuy nhiên đến thời bình, trong chính trường nhà Hậu Lê thời Lê Thái Tổ và sau đó là Lê Thái Tông, sự nghiệp của ông lúc thăng lúc giáng vì có bất đồng quan điểm với một số đại thần khác, một số kế sách không được dùng. Nguyễn Trãi bất đắc chí và lui về ở ẩn năm 1439.”[1]

Đấy, một vị vua chết vì sốt rét đã lọt vào tầm âm mưu của những quan xấu trong cung đình. Và kết quả là “vụ án Lệ Chi Viên” ra đời, môt vụ xử án tàn khốc nhất trong lịch sử tư pháp của dân tộc Việt Nam. Chắc chắn rằng để dẹp dư luận khi đó, có thể chính quyền đương thời đã phải hướng dẫn và thuyết phục quần chúng ủng hộ họ, qua đó, Nguyễn Trãi và  quan Học sĩ Thị Lộ  được xem là đã giết vua và đáng tội chết.
            Còn rất nhiều, nhiều lắm những hướng dẫn dư luận phản lại sự thật kiểu này của các triều đại phong kiến Việt Nam. Vụ nào các triều đại đương thời cũng đều cho loan truyền vào công chúng rằng “ý kiến quần chúng” đồng thuận với chủ trương lãnh đạo sáng suốt của triều đình. Cụm từ “ý kiến quần chúng” đã trở thành thông báo quan trọng, khẳng định lẽ phải thuộc về chính quyền khi chính quyền muốn hạ uy tín hay tiêu diệt bất cứ cá nhân nào đi ngược chủ chương đường lối của Vua hay của Triều đình. Tất nhiên, tất cả những lợi thế về thông tin và quyền lực đó không thể ngăn cản được dòng chảy tự nhiên của chân lý. Thế nên, cũng theo tài liệu nói trên, “đến năm 1464, Lê Thánh Tông chính thức ban chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước Tán Trù bá, cho người con trai sống sót của ông là Nguyễn Anh Vũ làm chức Đồng tri châu. Năm 1512, Lê Tương Dực truy tặng Nguyễn Trãi làm Tế Văn hầu.”
             Còn một người nữa bị oan lớn mà ông vua con Lê Thánh Tông không nhắc tới là Nguyễn Thị Lộ, vợ lẽ Nguyễn Trãi, một người phụ nữ đẹp mà lại hay chữ, đã từng được ông vua bố trước đây mời đến, phong làm Lễ nghi học sĩ. Trong giới sử học hiện nay tại hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, “nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nguyễn Thị Lộ đã bị triều đình nhà Lê đương thời (do thái hậu Nguyễn Thị Anh chấp chính cho vua nhỏ Lê Nhân Tông mới lên 2 tuổi) vu khống. Nhóm tác giả nghiên cứu lịch sử đương đại Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ trong tác phẩm “Nhìn lại lịch sử”, xuất bản năm 2003, cho rằng chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh, vợ thứ vua Lê Thái Tông.”[2]

          Để dòng chảy của sự thật lịch sử đủ mạnh để gạt bỏ được những lợi thế tuyên truyền của chính quyền đương thời, phải mất một khoảng thời gian không hề ngắn. Lý do là vì đặc điểm của đám người cơ hội chỉ biết vinh thân phì gia, bán nước hại dân bất chấp tất cả, trắng trợn bịp bợm, tập hợp đám quần chúng ngây ngô làm vỏ bọc, thuê những tri thức đê tiện làm bồi bút viết bài xuyên tạc nhân danh quần chúng, “mặc kệ lịch sử”. Còn triều đình thì chi kinh phí, tạo ra một đám quần chúng a dua theo kiểu bầy đàn. Những điều xảy ra từ thời phong kiến xa xưa đó không phải không xảy ra ở thời cận đại. Đơn cử trường hợp hủy diệt uy tín, danh tiết của văn tài dân tộc là nhà văn Phan Khôi. Thế lực triệt hạ nhà văn Phan Khôi đã dùng tới khái niệm “ý kiến quần chúng không bao giờ sai”, huy động hầu hết các bạn văn, bạn đồng nghiệp của Phan Khôi vu khống phản lại ông. Những bạn văn phản hại nhà văn Phan Khôi sau này đều có danh tiếng trên nền văn học CNXH ở miền Bắc. Bạn đọc có thể tham khảo tài liệu từ bài viết: MINH DIỆN — blog Phan Nguyên. Xem trích đoạn sau:

         “Năm 1906, mười chín tuổi, Phan Khôi tốt nghiệp tú tài, và hai năm sau, 1908 ông phải chứng kiến cái chết chém ngang lưng của thầy mình. “Lòng căm thù như ngọn lửa đốt cháy trái tim”, Phan Khôi quyết nối bước thầy, tham gia phong trào Duy Tân, theo các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng chống thực dân Pháp. Ông bị bắt giam gần một năm rồi được tha. Ông quyết định dùng ngòi bút và nghề báo để chiến đấu. Phan Khôi kiến thức uyên bác, hiểu biết vô cùng phong phú, tầm hoạt động rộng lớn, đa phương trong sự biến thiên của lịch sử. Chưa ai có thể tổng kết được thân thế sự nghiệp Phan Khôi, nhưng theo nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, thì,“Phan Khôi hiện diện trước xã hội, trước cuộc đời này chỉ với tư cách nhà báo; người ta biết ông chủ yếu qua những gì ông viết ra đăng lên báo chí, nhưng, qua hoạt động báo chí, Phan Khôi chứng tỏ mình còn là một học giả, một nhà tư tưởng, một nhà văn. Phan Khôi là nhà tư tưởng đã đặt ra hàng loạt vấn đề: phê phán Khổng giáo, tiếp nhận tư tưởng Âu Tây, nữ quyền. Ông cũng là một nhà Hán học và Trung quốc học am hiểu những vấn đề của xã hội Trung quốc đương thời, ông là một dịch giả đã dịch Kinh Thánh của đạo Thiên chúa ra tiếng Việt, một nhà Việt ngữ học cả ở phần lý thuyết lẫn thực hành, một nhà văn xuôi với thể hài đàm và một nhà phê bình văn học. Có thể nói Phan Khôi là người thể hiện rõ nhất và thành công nhất chủ trương duy tân kiểu Phan Chu Trinh vào đời sống, nhưng khác với người tiền bối ấy, Phan Khôi hoàn toàn không thể hiện mình như một chí sĩ, ông sống như một người thường trong đời thường, chỉ hoạt động chuyên nghiệp như một nhà ngôn luận, chỉ tác động đến xã hội bằng ngôn luận. Phan Khôi thuộc trong số những trí thức hàng đầu có công tạo ra mặt bằng trí thức và văn hóa cho xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, nhưng đặt bên cạnh những gương mặt sáng láng như Nguyễn Văn Vĩnh, Pham Quỳnh, Trần Trọng Kim, Huỳnh Thúc Kháng…ông thường tự thể hiện như kẻ phản biện, và sự phản biện của ông thường đem lại chiều sâu mới cho trí thức!”

          Phan Khôi là một trong những nạn nhân của “Cuộc đấu tranh chống Nhân Văn-Giai Phẩm” bắt đầu từ năm 1957. Tuy ông không phải đi tù như Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, nhưng ông bị đày đọa khổ sở còn hơn “tù”. Ngày 16-1-1959, ông đã ra đi vĩnh viễn thoát khỏi sự đọa đày đó.

          Năm 2004, trên các báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân, Tiền Phong, Người Hà Nội, lần lượt đăng bài phỏng vấn nhà thơ Tố Hữu của Nhật Hoa Khanh. Theo những bài báo đó, năm 1997, tại 76 Phan Đình Phùng, một trong những biệt thự đẹp nhất Hà Nội của Pháp để lại, trị giá 7 triệu đô la nhà nước cấp cho Tố Hữu, ông đã ca ngợi hết lời nhóm “Nhân Văn-Giai Phẩm”, trong đó có Phan Khôi. Ông nói: “Trần Đức Thảo là một mẫu mực của lòng say mê nghiên cứu sáng tạo vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt là những trí thức lớn, những cây bút hạng nặng trong đội ngũ trí thức cách mạng!”

            Không biết Tố Hữu có nói như vậy thật không? Nghe nói khi đã rời quyền lực ông đã sám hối. Nhưng bà Vũ Thị Thanh, nguyên phó ban tuyên huấn trung ương, phu nhân nhà thơ Tố Hữu thì phủ nhận chuyện đó. Nếu đúng thì nó hoàn toàn mâu thuẫn với bốn mươi năm trước, kể từ 1977, khi Tố Hữu còn trẻ, nắm trọng trách công tác tư tưởng, văn hóa,văn nghệ của đảng. Ngày ấy ông đã “làm bao nhiêu số phận, bao nhiêu cuộc đời bị rạn vỡ, bị lưu đày”(Phùng Cung). Lời Tố Hữu kết tội Trần Đức Thảo, Phan Khôi và nhóm “Nhân văn-Giai phẩm” sau đây là sự thực, dẫu ma quỷ cũng không thể chối. Tố Hữu đã viết: “Lật bộ áo “Nhân Văn-Giai Phẩm” thối tha, người ta thấy cả một ổ phản động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh,Trốt- kít, địa chủ, tư sản … quần tụ trong những tổ quỷ với gái điếm, bàn đèn [thuốc phiện], sách báo phản động, đồi trụy và phim ảnh khiêu dâm…” (Qua cuộc đấu tranh chống nhóm “Nhân Văn-Giai Phâm”, tác giả Tố Hữu, Nhà xuất bản Văn Hóa, 1958, trang 9). Và: “Trong cái công ty phản động “Nhân Văn- Giai Phẩm” ấy, thật sự đủ mặt các loại “biệt tính”, từ bọn Phan Khôi, Trần Duy mật thám cũ của thực dân Pháp đến bọn gián điệp Thụy An; từ bọn Trốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo đến bọn phản Đảng như Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt. Một đặc điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ, tư sản phản động cố giữ lập trường của giai cấp mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ!”(trang 17 sđd).

           Theo chỉ đạo của “Anh Lành”, bọn cơ hội nhào vào đánh hội đồng nhóm “Nhân Văn-Giai Phẩm” nói chung, Phan Khôi nói riêng. Phê phán tác phẩm văn học, báo chí chán quay sang suy diễn, bịa đặt ra đủ thứ chuyện, chà đạp lên cả hương hồn cha mẹ, tổ tiên người ta. Có những việc đổi trắng, thay đen, khi sự thật lịch sử vẫn còn đang sờ sờ trước mắt. Phan Khôi với truyền thống yêu nước của gia đình, đã tham gia phong trào chống Pháp từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, từng bị bắt đi tù mà bảo ông làm mật thám cho Pháp thì trời đất nào chứng? Ông viết hàng ngàn bài báo phê phán chế độ cũ, cổ vũ sự cách tân, bao nhiêu ruộng vườn quê nhà ông hiến hết cho cách mạng, mà bảo ông cố giữ lập trường giai cấp địa chủ, tư sản?

           Sau cách mạng tháng 8-1945, Hồ Chủ tịch trọng tài đức của Phan Khôi, trực tiếp viết thư mời ông ra Hà Nội góp sức xây dựng chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ. Phan Khôi đã mang cả gia đình theo cụ Hồ lên chiến khu Việt Bắc, nằm gai nếm mật tham gia kháng chiến suốt mười năm trời. Thế mà khi ông tham gia phong trào “Nhân văn-Giai phẩm”, bị Tố Hữu quy là mật thám thì nhà văn Nguyễn Công Hoan hùa theo, xuyên tạc rằng Phan Khôi cầm đầu tổ chức Việt Nam quốc dân đảng chống phá cách mạng ở Quảng Nam. Nhà văn đáng kính này viết: “Hắn phụ trách chi bộ Việt Nam quốc dân đảng Quảng Nam chống phá cách mạng điên cuồng. Sau đó hắn bèn ra Hà Nội họp với Trung ương đảng bộ Việt Nam quốc dân đảng của hắn, để đề nghị một chương trình chống chính phủ!”

            Nguyễn Công Hoan luôn dùng từ “hắn” để phỉ báng, mạt sát Phan Khôi: “Hắn xin vào yết kiến cụ Huỳnh Thúc Kháng lúc đó là Bộ trưởng nội vụ nhưng cụ không tiếp!” Năm 1957, Phan Khôi thọ 70 tuổi, Nguyễn Công Hoan làm bài thơ “mừng” (!) người bạn văn chương như sau:

           Nhà báo Phan Khôi khốn kiếp ơi!
          Thọ mi mi chúc chớ hòng ai,
          Văn chương! Đù mẹ thằng cha bạc!
          Tiết tháo! Tiên sư cái mẽ ngoài!
          Lô-gich trước cam làm kiếp chó,
          Nhân văn nay lại hít gì voi!
          Sống dai thêm tuồi cho thêm nhục!
          Thêm nhục cơm trời chẳng biết gai!

            Có thể nào ngờ đó là thơ của tác giả “Bước đường cùng” và “ Kép Tư Bền”? Quả thật công tác tư tưởng của ông Trường Chinh và công tác tuyên huấn của ông Tố Hữu quá tài tình! Họ đã biến nhà nho Nguyễn Công Hoan thành một kẻ bỗ bã đểu cáng đáng khinh bỉ. Mà đâu chỉ một mình Nguyễn Công Hoan? Đào Vũ, Tế Hanh, Chế Lan đều như vậy. Phan Khôi hai đời vợ, bà trước tám người con bỏ mất một còn 7, bà sau được 3, tổng cộng 10 người con. Ông có bài thơ tức cảnh gia đình mình như sau:

          Hai nhà cộng lại có mười con
          Năm gái năm trai nhắm cũng tròn
          Gả, cưới tạm yên nguyên một nửa
          Sữa răng riêng mũi máu ba hòn
          Tự trào thôi hắn còn chia rẽ
          Nhân cách vẫn mong được vẹn tròn
          Bé nhất Lang Sa mới ba tuổi
          Tên này ghi cái nhục sông non

           Năm 1956 sang Trung Quốc dự kỷ niệm 100 năm Lỗ Tấn cùng với Tế Hanh, Phan Khôi đọc cho Tế Hanh nghe, và nói:“Tôi đặt tên thằng này là Lang Sa, để nhớ cái hận thực dân Pháp!”Mà ngay trong bài thơ tác giả đã nói rõ ý đó rồi còn gì. Vậy hai năm sau, khi Phan Khôi bị đánh thì Tế Hanh bịa ra chuyện thế này: “Trong chuyến đi Trung Quốc, Phan Khôi nói với tôi, thằng này sinh ngày 9-3-1945, ngày Nhật đảo chính Pháp, tôi đặt tên nó để cho những người nào vui mừng việc Nhật lật đổ Pháp biết tay. Pháp sẽ trở lại cho coi.” Và Tế Hanh kết tội Phan Khôi: “Phan Khôi đã đáp lại lòng thù ghét của nhân dân ta đối với thực dân Pháp như thế. Chỉ có một ‘tâm hồn vong bản’ loại Phan Khôi mới mong Pháp quay trở lại!” Chế Lan Viên thì có lần chỉ thẳng tay vào mặt Phan Khôi quát: “Đừng cậy già mà láo!” Còn Đoàn Giỏi thì vu cho Phan Khôi nói xấu đảng, Bác Hồ vì gọi cây cứt lợn là cây “cộng sản”!

           Sự xuyên tạc, vu khống, nhục mạ được cất lên từ miệng những người được coi là hiền lành tử tế như thế mới kinh khủng làm sao. Ông Phan Lang Sa tâm sự: “Khổ tâm nhất là anh Phan Thao. Anh ấy trong Ban biên tập báo Nhân Dân mà ngày nào cũng phải nghe, phải đọc những lời nhục mạ vu khống cha mình!” Không chịu nổi, Phan Thao phải xin từ nhiệm và Phan Lang Sa phải đổi tên thành Phan An. “Xin cầu lấy sự bình an!”

          Cụ Phan Khôi bị đuổi khỏi ngôi nhà 51 Trần Hưng Đạo nơi cụ ở từ năm 1955. Đuổi, tôi dùng đúng nghĩa đen. Trần Duy kể: Một hôm tôi tới 51 Trần Hưng Đạo thì gặp một quan chức có quyền lực chỉ vào Phan Khôi quát:

          – Tống cổ thằng già này ra khỏi đây!

         Phan Khôi lảo đảo bước ra cổng. Vợ ông, bà Huệ ôm chăn mền, sách vở. Gặp tôi, ông Phan Khôi bảo:

         – Thôi, anh về đi. Buồn không cần thiết!”

        Gia đình Phan Khôi bị đuổi khỏi 51 Trần Hưng Đạo , phải dọn về số 10 Nguyễn Thượng Hiền. Rồi lại bị đuổi, phải dọn tới 73 phố Thuốc Bắc.[3]

        Vậy đấy, bài viết này dành cho những ai hay nói, hay lạm dụng câu “ý kiến quần chúng không bao giờ sai.” Những người đó hãy vui lòng nhớ cho những cái “không bao giờ sai” đó là loại ý kiến của bậc tinh hoa rực sáng của dân tộc và cả của những kẻ tài giỏi a dua theo phò chính quyền đương thời. Cần môt quá trình thời gian thẩm thấu mới có thể thấm vào quần chúng để trở thành “Ý kiến quần chúng không bao giờ sai” và trở thành văn hóa cộng đồng. Chỉ những kẻ cơ hội mới lạm dụng, đánh lận, và lợi dụng sự thật này. Thể chế văn hóa đàng hoàng không nên đánh bùn sang ao, tráo trộn với những quần chúng a dua tức thời chỉ vì được chút quyền lợi nhỏ bé từ kinh phí vận động dư luận như bát phở hay cái bánh là giơ tay ủng hộ. Trong nghệ thuật cũng vậy, không thể lấy chuẩn từ hiểu biết trung bình của quần chúng ở bất kỳ cơ quan đoàn thể nào, hay ở ngoài đường phố, hay ở nông thôn mà đánh giá tác phẩm nghệ thuật khác với quan điểm nghệ thuật hiện thực của các quan chức đại diên cho văn hóa của nhà cầm quyền. Nhất thiết phải có hội đồng học thuật có chuyên môn thực sự của nghề nghiệp quyết định. Không thể tin cậy ở loại hội đồng học thuật mà trong đó, 80% thành viên là các cựu chiến binh trở thành thủ trưởng sau chiến tranh hay các cán bộ học tại chức chuyên tu từ xa chưa hề có tác phẩm, chưa hề có đầu sách có giá trị học thuật, kèm những chứng chỉ bằng cấp học lực không minh bạch, lại có quyền quyết định học thuật của mọi ngành nghề.
          Cần xem lại những chứng cứ cụ thể của những văn bản trong đó có những câu đại loại như:
          – “kết luận được rút ra từ ý kiến quần chúng”…
          – căn cứ vào “sự đồng thuận của quần chúng” …
          để tránh đi sự lạm dụng câu chữ cho sức mạnh ảo của văn bản.

honghoang 1-4-2018


[1] https://vi.wikipedia.org/wiki/Vụ_án_Lệ_chi_viên

[2] Wikipedia, tài liệu như trên

[3] Minh Diện, Blog Phan Nguyên. Có thể xem ở https://banvannghe.com/a9052/minh-dien-130-nam-ngay-sinh-phan-khoi


bài đã đăng của Hồng Hoang


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)