Trang chính » Bàn Tròn: Chiến Tranh Việt nam, Ký Sự, Ngày 30 tháng Tư Email bài này

TÂM TƯ NGƯỜI DÂN QUẢNG TRỊ

15 năm sau vượt biên tôi trở về nhà. Gia đình không hiểu vì sao tôi nhất quyết ra Quảng Trị. Khi tôi trả lời vì là thị trấn của tuổi thơ, mẹ cau mày: Dòng họ di cư từ Bắc, chánh quán Sơn Tây-Phú Thọ, không liên quan gì đến đất Quảng. Mẹ không hiểu, những trang nhật trình Chính Luận, Sóng Thần, Công Luận, Độc Lập, Tiền Tuyến ngập đầy hình ảnh tang thương của xứ Quảng khi tôi lên mười. Lên trung học, tôi khám phá một Quảng Trị tan nát khói lửa. Mỗi chiều tivi phát hình Thủy quân Lục chiến cố gắng tái chiếm cổ thành và Nhảy dù tác chiến từng bước ở chi khu Mai Lĩnh. Chiến tranh rùng rợn như gương mặt thất thần của người cha cố xếp tay chân con cho ngay ngắn trong những thước phim đen trắng… Tôi nhớ cảnh tổng thống Thiệu quỳ trước sân nhà thờ La Vang…

Tôi về đến Quảng Trị tháng 7-1994. Chưa từng đến mà vẫn nghĩ mình về. Vì thương xứ này, vì thấy thân thuộc như sinh ra ở đây. Quảng Trị khi ấy chưa tái thiết, thị trấn đìu hiu thê lương, không một ngôi nhà nào không mang vết đạn. Không một bức tường nào không lỗ chỗ dấu đạn. Còn cổ thành? Nát bét. Chỉ còn duy nhất một khối đá không hình thù. Nhà cửa? Xiêu vẹo. Sau những ngã tư có những khoảng trống lụn vụn gạch ngói mà trước đây phải có những con người sinh sống dưới một mái nhà đã biến mất. Từ Hải Lăng lên đến Thạch Hãn trùng điệp nghĩa trang. Thuần nghĩa trang liệt sĩ. Còn nghĩa trang lính quốc gia? Không dấu vết. Không nhang khói. Không di ảnh thờ. Phía bại trận bị bôi xóa. Tôi mượn xe máy chạy ra La Vang. Tôi đã muốn đến đây chứng kiến tận mắt sức huyền nhiệm của Đức Bà. Vẫn y như lúc tổng thống Thiệu quỳ xuống. Nhà thờ sập mái không còn bức tường nào. Bên trong chỉ toàn gạch vụn. Một vài băng ghế gỗ nơi giáo dân cầu nguyện gẫy đôi. Sàn gỗ ca đoàn sụp nát. Duy nhất tượng Đức Mẹ nguyên vẹn.

Nhưng Đức Mẹ cũng bị thương. Ngón chân cái và đầu gối Đức Bà có vết đạn. Phải đến La Vang khi chưa trùng tu mới thấy hết khốc liệt của chiến tranh, mới hiểu thảm cảnh của dân chúng và hiểu gia đình mình đã may mắn vì đã có những người lính cố gắng cầm cự để chiến tranh đừng lan xuống phía Nam, để hậu phương còn yên bình và tự do.

Đánh máy lại những trang bút ký của các phóng viên đã theo chân quân đội tái chiếm những vùng đất đã mất, không phải để ghi công cho những người lính. Vì ghi bao nhiêu cho đủ? Đánh máy lại, để tri ân. [Trần Vũ]


oOo

Bây giờ thì niềm mơ ước được trở về mái nhà xưa ở một quê hương điêu tàn sau hai tháng chui rúc trong các khu tạm cư của người dân Quảng Trị đã đến độ chín mùi.

Làm sao mà ngoảnh mặt cho đành với nơi chôn nhau cắt rún có những con đường chảy quanh bờ sông đổ dài ra biển. Khi bỏ xứ mà đi với nỗi buồn đầy ắp trong hồn rưng rưng dòng lệ, tài sản một gánh lên vai kỷ niệm nào hơn nấm mồ tổ tiên cha mẹ. Niềm luyến lưu níu chặt đôi chân dù ngoài kia súng đạn Bắc quân đang xích lại gần với họ. Rồi cũng phải ra đi không một dự tính tương lai. May mắn thì có được một chỗ ngồi trên đoàn xe quân đội đang chực chờ đầu quốc lộ 1. Rủi ro thì dắt dìu, bồng bế nhau lang thang trên con đường thiên lý tiến về Nam, kẻ chết thì nằm yên lại đó với thành phố buồn thiu làm mồi cho lũ chó hoang chạy rong khắp xóm.

Người dân Quảng Trị đã thực sự cô đơn từ giờ phút đó. Nỗi kinh hoàng hiện rõ trên hàng ngàn nét mặt từ trẻ thơ cho đến cụ già. Mùa hạ đốt lửa trên đầu gió mùa đùn cát xôn xao lên lớp da mặt họ lầm lũi đi trong tủi nhục và khốn khổ. Ngày mai rồi sẽ ra sao? Niềm lo âu cơm áo đè nặng tâm hồn họ cũng như nỗi thiết tha với quê hương sắp mất. Rồi bom đạn Bắc quân vùi dập trên đầu họ, vài người thân ngã xuống dù chết thương tích hoặc kiệt sức cũng phải đành đoạn bỏ đi. Họ tan loãng trong bãi cát mênh mông, bãi cát như một địa ngục hãi hùng với những tiếng khóc la thảm thiết. Còn hình ảnh nào diễn tả tình mẫu tử cảm động hơn một bà mẹ ngã gục với mảnh đạn ngay tim còn thì thào vỗ về đứa con chưa đầy hai tuổi đang dẫy dụa trên ngực mẹ vì dòng sữa ngấm máu mằn mặn. Kẻ sống sót bương bả qua những đồi cát trắng phau tìm về đồng lúa vàng đang độ chín mùi lần mò đến con sông Mỹ Chánh. Sinh lộ mở ra ở đó và họ chỉ còn lại hai bàn tay trắng với một tâm tình rách nát.

Sau cùng rồi họ cũng đến được thành phố bên kia rặng núi Hải Vân. Người đến trước còn có được một chỗ nằm trong khu tạm cư, những trường học, công sở. Kẻ đến sau đành chui rúc ở những vỉa hè sống đời sống du mục. Cơm áo bây giờ mới là một vấn đề nan giải đối với họ, kẻ phải lê lết ăn xin, nhiều cô gái trong trắng hiền lành một sớm một chiều bỏ quên guốc gỗ sân trường để bán xác nuôi thân. Niềm tủi nhục lớn dần trong tâm hồn họ khi lặng nhìn những người thành phố vẫn phè phỡn ăn chơi vung tiền qua khung cửa những trà đình tửu điếm. Tình đồng bào chỉ được thể hiện ở vài ngày đầu với những hô hào, khẩu hiệu rồi lắng xuống theo nhịp độ vồn vã của một vùng đất mất gốc.

Tôi đã đến đó với đồng bào tôi bằng một tâm trạng nhọc nhằn ở những chung cư chật chội, hôi hám. Phẩm vật cứu trợ của chính phủ tuy có nhưng làm sao đủ để đắp đổi qua ngày dù chỉ là rau cháo. Từ đó họ nhìn về quê hương hằng những nhớ nhung xao động, dù khó nhọc nhưng đã trở thành gắn bó đậm đà trên luống rau, luống cải. Tôi đã phải nhọc nhằn lắm nhưng vẫn không thể nào tìm được câu trả lời xác thực nào hơn bằng sự im lặng khi nghe họ hỏi:

-Răng chừ thì “miễn” mình có thể trở lại Quảng Trị được en (anh)?

-Liệu Quảng Trị có mất luôn không en?

Làm sao tôi có thể giải thích được cho họ vì chính mình cũng còn không hiểu được nữa. Cuộc chiến tranh ở đất nước này đã trở thành kỳ quặc với những bùa phép, toan tính của ngoại bang. Người dân Quảng Trị cũng đủ biết rằng ngày mai có về lại mái nhà thân yêu của họ được chăng nữa cũng chỉ còn những đổ vỡ hoang tàn với hai bàn tay trắng. Nhưng bản chất cần cù chịu đựng họ vẫn có thể bắt đầu xây dựng lại bằng chính sức người tiềm tàng trong tâm hồn họ. Họ sẽ trồng rau trên cát, phá núi làm đồng và ươm mầu cho những tương lai chất đầy hy vọng như ngày xưa tổ tiên họ đã hiên ngang khai phá những địa danh Cam Lộ, Ba Lòng thâm u chướng khí khô cằn sỏi đá trở thành vùng đất mầu mỡ với đồn điền chim bay thẳng cánh.

Tôi tin tưởng rằng người dân Quảng Trị là những người hiền hòa nhưng có sức chịu đựng gian khổ dai dẳng nhất nhân loại. Nếu không có đủ sức chịu đựng làm sao họ có thể sống từ đời này qua đời nọ ở một quê hương dẫy đầy thiên tai và chiến tranh tàn phá. Tôi đã gặp nhiều cụ già tuổi trời đã xế tâm sự như một điều hối hận khi đã bỏ Quảng Trị mà đi. Các cụ hối tiếc đã không ở lại để được chết trên quê cha đất tổ cho trọn đạo làm người. Quan niệm của các cụ tuy lỗi thời nhưng nói lên được cái tâm tình của người dân tha thiết với quê hương đã thành thiêng liêng cao quý. Họ chờ đợi không nản và không mỏi mòn cho một lần về dù lúc ra đi thật vội vã và nhất quyết. Cũng lang thang bằng đôi chân ốm yếu nhưng rắn chắc, mỗi người đã lần mò ra tận Mỹ Chánh, Bến Đá nghe đạn réo trên đầu để chỉ được nhìn những làng mạc, xóm thôn mờ mờ sau khói lửa và lũy tre xanh. Người lính ôm súng nằm tuyến đầu nhìn thấy cảnh đó như một réo gọi thúc đẩy phải tiến lên đánh bật kẻ thù để chiếm lại vùng đất tạm bỏ.

Không hô hào, nhân danh và trục lợi nhưng tôi đã nhìn thấy những người dân Quảng Trị quần rách áo ôm, trên tay cầm những món quà nghèo nàn tìm đến trao tận tay những chiến binh Dù, Thủy quân Lục chiến (TQLC) bằng trọn vẹn chân tình. Món quà nhỏ họ trao cho người lính nhưng không khác gì họ đã gởi trọn tâm hồn cho quê hương đang lọt vào lằn mức bên kia và người lính khi đón nhận bằng tất cả cảm xúc khác nào đang đón nhận một lời ủy thác cái nhiệm vụ thiêng liêng phải giành lại cho bằng được mảnh vườn của người dân dù trên đó chỉ còn tro than.

Quang-Tri-2

Người lính chiếm lại từng gò mả, từng chặng đường là lập tức có bóng dáng của người dân theo sau hỏi han, chia xớt…

Tôi cũng theo chân đoàn quân nhảy xuống những làng mạc tiêu điều sau hai tháng dưới sự kiềm tỏa của Bắc quân. Từ các hầm hố ven làng người dân đã nhảy lên ôm chầm bờ vai người lính quốc gia khóc nức nở như vừa tình cờ bắt gặp hạnh phúc. Họ đã tâm sự không nỡ bỏ làng mà đi vì còn lại những bàn thờ tổ tiên, những mồ mả ông cha không thể để hương tàn bàn lạnh. Nỗi kinh hoàng còn in rõ trên từng khuôn mặt hốc hác vì thiếu ăn. Người lính TQLC chia xớt cho dân nuốt miếng cơm sấy trong nỗi nghẹn ngào xúc động. Họ không ngớt cám ơn ông bà, thần thánh đã cho họ có ngày hôm nay còn nhìn thấy quê hương thật sự được giải thoát bởi những người con thân yêu.

Tôi đã chứng kiến tận mắt người lính Tiểu đoàn 1 TQLC cởi bớt chiếc áo lót trên mình để tặng cho một người dân ở Gia Đẳng và người nhận áo đã mân mê đôi tay khô kia của mình lên đôi tay người lính chai nám như tình nhân. Họ nhắc đến hai tiếng Cộng quân bằng giọng điệu kinh tởm, hãi hùng. Hơn bao giờ hết, lúc này những người lính Dù, TQLC đã trở thành một cái gì quý mến, tràn trề yêu thương trong tâm hồn đồng bào Quảng Trị. Một vài bà mẹ ở Mai Đằng Thượng Xá đã nói với nước mắt:

– Mấy en Cộng hòa ơi, cả làng chờ các en mấy tháng trời rồi, ngày mô cũng ngồi trong hầm dòm ra mà không thấy dạng mấy en mô hết. Toàn là tụi giải phóng khôn ni. Mần răng mà mấy en bỏ dân lâu rứa? Mấy en mà tới trễ vài ngày nữa e dân chết hết ni.

Rồi họ chạy ra ngoài vườn in đầy những hố bom bới những gốc sắn tàu đem vô nấu tặng người lính. Một sĩ quan TQLC đã nói với tôi một câu thật đầy ý nghĩa :

-Trong suốt cuộc đời lính của tôi, bây giờ tôi mới thấy sự chiến đấu của mình được đền bù xứng đáng hơn bất cứ một sự thăng thưởng hay huy chương nào.

Người dân Quảng Trị đã thật sự un đúc thêm ý chí chiến đấu cho người lính phong trần. Chính người lính cũng phải thú nhận rằng những chiến thắng ở mặt trận này mà họ tạo được phần lớn nhờ ở tâm tình mà đồng bào cho họ. Quảng Trị một quê hương thật nghèo nàn khốn khổ nhưng người dân ở đây mới thực sự là một thành trì chống Cộng kiên cố nhất nhờ ý thức thâu lượm được ở kinh nghiệm chung đụng với cả hai bên. Cộng thêm đó là niềm thiết tha với xứ sở thôi thúc họ trong từng hơi thở, trong từng nhịp đập của trái tim.

Bây giờ thì dân Quảng Trị đang chực chờ trở lại thành phố, làng mạc mà họ biết chắc đã điêu tàn, đổ vỡ. Cho dù có một nơi khác bình an và sung túc hơn chắc chắn rằng họ cũng không thể nào từ bỏ quê hương của mình với thật nhiều kỷ niệm. Họ phải trở về để xây dựng lại trên những đống gạch vụn, phải nhặt lại nắm xương tàn của người thân đã nằm xuống vì bom đạn của Bắc quân; người sống không thể mất quê hương thì người chết cũng cần phải có quê hương để an nghỉ đời đời. Họ đã có sẵn sự chịu đựng vô bờ và niềm tin được thắp sáng lên từ nỗi nhọc nhằn để khai sơn phá thạch thì sá gì một lần làm lại cho xứ sở một ngày mai huy hoàng và tươi sáng. (Còn tiếp)

ĐKT, 1972


Trần Vũ đánh máy lại tháng 1-2018 từ “Tuyển tập Bút ký Phóng sự Chiến trường 1972”, Nxb Văn Nghệ Dân Tộc in 1973.

bài đã đăng của Đoàn Kế Tường


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Hate the War but Support Our Troops
    Ghét chiến tranh nhưng ủng hộ Người Lính của chúng ta

    Người VN (và cả TQ) dường như trong lịch sử cận đại tâm địa khá hẹp hòi trong đối kháng. Chuyện này cần một sự nghiên cứu lịch sử sâu rộng. Bởi vì, trong sử Việt, cũng thấy có sự dung hòa giữa người thắng người thua, như đời nhà Trần nhà Hậu Lê, Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi đều chủ trương sẵn sàng từ bỏ hận thù, đem Đại Nghĩa Thắng Hung Tàn lấy Chí Nhân Thay Cường Bạo, sau chiến tranh. Người Trung Hoa trong văn hóa và triết học vẫn đề cao Chính Nhân Quân Tử và tinh thần Mã Thượng Anh Hùng.

    Có lẽ người Việt từ ngày du nhập chủ thuyết Duy Vật Vô Thần Cộng Sản theo Maoist khiến gần như tất cả giá trị tinh thần trong tâm linh và văn hóa bì tàn hủy lớn. Gì thì gì, người Lính sau chiến tranh cần được săn sóc, tôn trọng, và có thể ghi chép như là một bài học lịch sử về sự hy sinh cho quê hương cho lý tưởng của họ.

    Lính VNCH hiện nay tại VN là một thứ cấm kị ngay trên đất nước của họ. Họ bị xem thường, bị sỉ nhục, bị xâm phạm mộ phần. Và có vẻ như sự “tranh cãi” không bao giờ kết thúc. Kỳ lạ thật !

    Kỳ quặc hơn nữa là ngay chính người Lính của VC trong các trận vệ quốc với TQ 1979 cũng chịu hẩm hiu số phận và danh phận ! So weird, I dunno !

  • Nguyễn Đức Tùng viết:

    Cám ơn Trần Vũ. Anh Đoàn Kế Tường mất rồi thì phải.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)