Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Tạp ghi Tháng Ba
Trang chính » Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Tạp luận Email bài này

Tạp ghi Tháng Ba

* Một nén nhang tưởng niệm nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông

Nhac si Nguyen van Dong

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông của “Chiều mưa biên giới”, “Mấy dặm sơn khê”…đã từ giã cõi đời hôm 26 tháng 2/2018 tại Sài Gòn, hưởng thọ 85 tuổi. Xin đọc lại một trích đoạn đề cập đến nhạc Nguyễn Văn Đông từ bài “Nhạc lính” đã đi trên Da Màu cách đây 8 năm, như một nén hương lòng thắp lên, tưởng niệm người nhạc sĩ tài hoa này.

“Nếu “Trăng tàn trên hè phố” (Phạm Thế Mỹ) hay “Chiều hành quân” (Lam Phương) hay “Biệt kinh kỳ” (Lê Dinh) vân vân… cho ta hình ảnh lãng mạn (và đầy hứa hẹn) của đời quân ngũ, thì cũng xuất hiện trong thời kỳ này (1956-1960), lúc chiến tranh còn đang giới hạn, “Phiên gác đêm xuân” của Nguyễn Văn Đông.

Bản nhạc vẽ nên một hình ảnh khác, nếu không muốn nói là hoàn toàn khác, về đời lính:

Đón Giao Thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi.

Không có cảnh “hồn xây mộng ước mai sau”, “cánh chim tung trời”, “vui với phong sương”, “lãng quên ngày tháng”; lại càng không “tuổi ba mươi mà ngỡ như trẻ thơ”, mà là “súng xa vang rền,” “xác hoa tàn rơi trên báng súng.” Tâm sự và nỗi lòng của người lính nghe như một tiếng thở dài:

Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu
Vì mơ ước trắng như mây chiều
Tủi duyên người năm năm tháng tháng
Mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi
Chốn biên thùy này xuân tới chi?
Tình lính chiến khác chi bao người
Nếu xuân về tang thương khắp lối
Thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi!

Bản nhạc này, theo Du Tử Lê trong một bài viết (đăng hai kỳ trên nhật báo Người Việt) về Nguyễn Văn Đông, được sáng tác đêm giao thừa 1956, khi tác giả đang đóng quân ở Khu 9, Ðồng Tháp Mười. Có thể nói, sự xuất hiện của “Phiên gác đêm xuân” là dấu mốc đầu tiên đánh dấu tính hiện thực trong các ca khúc về lính, mở đầu cho những bản nhạc lính đặc thù sau này của nền nhạc miền Nam. Nó e ấp tiên báo sự lan rộng của cuộc chiến, trong đó người lính mang tính cách của một thân phận. Người lính không còn là kẻ lãng du. Không còn là niềm hưng phấn. Mà là kẻ gánh vác khổ nạn. Người lính đối diện với súng đạn, tuy còn “xa” nhưng đã “vang rền”. Trong khung cảnh đó, mọi mơ ước trở nên “trắng như mây chiều”, vì bóng “đêm cứ đi”.

Sau “Phiên gác đêm xuân”, Nguyễn Văn Đông cho ra đời thêm hai bản khác, mở rộng ý nghĩa và đi sâu hơn vào thân phận người lính: “Chiều mưa biên giới” được sáng tác khi ông đóng quân gần biên giới Việt-Miên và “Mấy dặm sơn khê” khi đồn trú ở vùng cao nguyên Trung phần. Khác với hình ảnh người lính chỉ như là một nét phác thảo có tính biểu tượng và một vài mơ ước chung chung, Nguyễn Văn Đông đã đưa ra một cái nhìn trực diện vào đời lính tráng: sự bất trắc. Mở đầu bản nhạc “Chiều mưa biên giới” là một câu hỏi khá “nỗi niềm”:

Chiều mưa biên giới anh đi về đâu?
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu
Kìa rừng chiều âm u rét mướt

Tự hỏi và tự trả lời:

Đêm đêm chiếc bóng bên trời (…)
Đường rừng chiều cô đơn chiếc bóng (…)
Người đi khu chiến thương người hậu phương
Thương màu áo gởi ra sa trường
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng
Thì đường trần mưa bay gió cuốn.

“Chiều mưa biên giới” mới chỉ đề cập đến sự cô đơn, xa vắng. “Mấy dặm sơn khê” đi xa hơn: cái chết.

Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng
Ngoài mưa khuya lê thê
Qua ngàn chốn sơn khê.
Mấy ai ra đi hẹn …về dệt nốt tơ duyên
Chít lên vành tang trắng,
Cầm tay nhau đi anh
Tơ trời quá mong manh.

Cũng cần lưu ý, hai câu “Mấy ai ra đi hẹn …về dệt nốt tơ duyên/Chít lên vành tang trắngnằm trong ấn bản đầu tiên về sau bị cấm. Do đó, để được phổ biến, dựa theo lời trao đổi với báo “Người Việt Tây Bắc” ở hải ngoại vào tháng 1/2014,[1] tác giả phải đổi ra thành “Nhớ ai ra đi hẹn …về dệt nốt tơ duyên/Khoác lên vòng hoa trắngxuất hiện trong ấn bản thứ hai và hầu hết các ca sĩ đều hát theo lời ca đã được sửa đổi này.

Về giai điệu thì nhạc Nguyễn Văn Đông chưa có sắc thái gì mới so với những bản nhạc cùng thời. Nhưng lời ca thì trau chuốt hơn, nhiều ẩn dụ và đầy “tâm trạng”. Với những cụm từ rất gợi hình như “đứng ngóng”, “chiếc bóng”, “vành tang trắng”, “mưa khuya lê thê”, “mong manh”, Nguyễn Văn Đông vẽ nên khung cảnh buồn về người lính phục vụ ở các tiền đồn. Lời ca vừa khinh bạc vừa chán nản. Ông dựng nên hình tượng một người lính miền Nam khá nghịch lý: một kẻ phiêu lãng, gắn bó với đời quân ngũ đồng thời lại là một kẻ cô đơn, khắc khoải về tương lai. Giấc mộng “khanh tướng” được đổi chác bằng một cuộc chơi sinh tử đầy “mưa bay gió cuốn.”

Đọc kỹ hơn lời ca, ta tìm thấy tâm trạng rối rắm của tác giả: vừa nhận rõ và chấp nhận trách nhiệm và vai trò của mình trong quân ngũ lại vừa than thở về chính trách nhiệm và vai trò đó. Vừa “bèo trôi theo xóm đưa”, lại “nghìn sau nối nghìn xưa”; vừa “Nước non còn đó một tấc lòng, không mờ xóa cùng năm tháng” lại “Chít lên vầng tang trắng, cầm tay nhau đi anh”; vừa “Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh” lại “nghìn sau tiếc nghìn xưa.” Vừa chấp nhận lại vừa khước từ. Như đã nói ở trên: một nghịch lý. Hãy gọi là nghịch lý Nguyễn Văn Đông! Bên cạnh những “Chiều mưa biên giới”, “Mấy dặm sơn khê” hay “Anh trước tôi sau”, ta lại có “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp” hay “Hải ngoại thương ca” chất ngất một niềm lạc quan hiếm thấy: “đời dâng cho núi sông”, “lòng này thách với tang bồng”, “cờ bay phất phới quên chuyện ngày xưa.” Một nghịch đảo hoàn toàn với “Đêm đêm chiếc bóng bên trời” hay “Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu.”

Qua ba bản nhạc, ra đời trong thời điểm chiến tranh đang còn diễn ra đâu đó xa xôi, ta tìm thấy hình ảnh người lính vừa bi hùng lại vừa bi tráng. Và không ngạc nhiên gì khi cả ba, đặc biệt là hai bản “Chiều mưa biên giới” và “Mấy dặm sơn khê” (và tác giả của chúng), phải trải qua nhiều “gian khổ” trước khi đuợc phổ biến một cách rộng rãi. Nói như Du Tử Lê, Nguyễn Văn Ðông là người nhạc sĩ “đứng chông chênh giữa hai đầu tả, hữu”. Có lẽ Du Tử Lê muốn nói: “tả” là bi quan, tiêu cực; “hữu” là lạc quan tích cực. Theo tôi, không chỉ Nguyễn Văn Đông là kẻ đứng chông chênh. Mà nhạc lính về sau này, nói chung, đều đứng chông chênh như thế. Có thể xem đó là một trong những đặc tính của nhạc lính miền Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh.”


*Nguyễn Thanh Việt: Tuyển tập về thân phận ly xứ

image

Vào đầu tháng 4 năm nay (2018), nhà văn đoạt giải Pulitzer Nguyễn Thanh Việt (NTV) sẽ ra mắt một cuốn sách mới do nhà xuất bản Abrams phát hành. Đó không phải là một tác phẩm hư cấu, mà là một tuyển tập tiểu luận do ông chủ biên, có tựa đề The Displaced: Refugee Writers on Refugee Lives (Những người ly xứ: các nhà văn tỵ nạn viết về cuộc đời tỵ nạn của họ), tập hợp tiểu luận của 17 tác giả nổi tiếng trên thế giới viết về kinh nghiệm tỵ nạn riêng của họ: Joseph Azam, David Bezmozgis, Fatima Bhutto, Ariel Dorfman, Lev Golinkin, Reyna Grande, Meron Hadero, Aleksandar Hemon, Joseph Kertes, Porochista Khakpour, Marina Lewycka, Maaza Mengiste, Dina Nayeri, Novuyo Rosa Tshuma, Kao Kalia Yang và hai tác giả Việt Nam là nữ họa sĩ/nhà văn Bùi Thi, tác giả quyển hồi ký minh họa The Best We Could Do (2017) và Trần Hoàng Vũ, giáo sư văn chương tại đại học Chicago và tác giả tiểu thuyết trinh thám Dragonfish (2015).


The Best We Can Do – Đọc hồi ký minh họa với Bùi Thi

The Displaced xuất hiện đúng vào lúc hành ngôn về di dân và tỵ nạn thay đổi một cách đáng kể ở Hoa Kỳ, nếu không muốn nói là có phần đảo ngược hẳn so với trước đây, trong thời kỳ Trump làm tổng thống. Với tư cách chủ biên, Nguyễn Thanh Việt đã viết một bài tựa mà David Canfield, nhà phê bình giới thiệu ông trên tạp chí Entertainment Weekly,[2] cho là “mạnh mẽ” (powerful), qua đó, Nguyễn Thanh Việt kể lại kinh nghiệm tỵ nạn của mình bằng những chi tiết đầy ấn tượng và có khi đau đớn.

Sau khi kể qua cuộc hành trình ly xứ của mình từ Ban Mê Thuột, nơi ông ở, cho đến khi chạy loạn về Sài Gòn, vào tòa đại sứ Mỹ, lên tàu qua Phi Luật Tân, đảo Guam và sau cùng định cư ở Mỹ, Nguyễn Thanh Việt đã dành phần chính của bài viết, bàn về hai chữ “tỵ nạn”. Điểm thú vị là tác giả đã sử dụng khái niệm “kẻ khác” (the other) để phân tích về thân phận của người tỵ nạn.

Vốn sinh ra như một công dân và như một con người bình thường, nhưng vào tuổi lên bốn, NTV “trở thành một cái gì kém đi nét con người (less than human), ít nhất là trong con mắt của những ai không xem kẻ tỵ nạn là con người.” Vì lúc đó, gia đình ông đã bỏ nhà cửa, bỏ đất nước để đến định cư ở một nơi xa lạ và trở thành tỵ nạn. Nhưng tỵ nạn là gì? Người tỵ nạn, theo NTV là người “được nhìn như một kẻ khác.” “Kẻ khác” (other) không phải là “tha nhân” hiểu theo nghĩa là một ai đó, cũng con người như mình, nhưng không phải là bản thân mình. “Kẻ khác” ở đây, do NTV rút ra được từ kinh nghiệm của cha mẹ ông khi họ mang gia đình di cư vào Nam “tỵ nạn” (Cộng Sản) năm 1954, đất nước bị chia đôi, là người “thường hiện hữu trong tình trạng mâu thuẫn, hay có lẽ trong tình trạng nghịch lý,” nhưng “lại hiếm khi được xem như có mặt/được nhìn thấy) (visible).” Mặt khác, bản thân người tỵ nạn, cũng có những cái “kẻ khác riêng” khi quy cho những ai không thuộc hoàn cảnh như mình là “kẻ khác”.

“Kẻ khác”, như thế, theo định nghĩa, “thực sự chẳng có nét con người như mình (not truly human to us) mà chỉ là một khuôn mẫu (stereotype), một trò đùa hay là một nỗi khiếp sợ.” Đó là cách mà “những người không phải tỵ nạn” (ở đây là người Mỹ) nhìn người tỵ nạn. Lúc đầu, dù dưới góc độ nào, người tỵ nạn là người “bị làm lơ hoặc bị quên lãng”, được xem như “chẳng hề có mặt” cho đến khi, bỗng nhiên, họ gần như “hiện diện ở khắp mọi nơi.” Nhìn vào đâu, người Mỹ cũng thấy có người tỵ nạn. Họ – những “kẻ khác” đó – trở nên một mối đe dọa tiềm tàng. Họ tràn ngập biên giới [Mỹ], xâm lăng nền văn hóa [Mỹ], hiếp dâm phụ nữ [Mỹ], đe dọa con cái [Mỹ], phá hoại nền kinh tế [Mỹ]. Vì thế, chẳng lạ gì, khi những “kẻ khác” đó “tranh đấu đòi hỏi họ phải được nhìn nhận và được lắng nghe”, thì họ lại có thể xuất hiện “như những con ma đe dọa mà số phận của họ chính [người Mỹ] chúng ta đã tạo ra và rồi đã phủ nhận.

Và Nguyễn Thanh Việt kết luận, “Chẳng có gì ngạc nhiên khi [người Mỹ] chúng ta chẳng hề muốn thấy họ trên đất nước này.

Chẳng thế mà, “The Displaced là một bản cáo trạng về chính sách đóng cửa của chúng ta, và đưa ra một cái nhìn mạnh mẽ vào hiện tượng những người bị bắt buộc phải ly hương và tìm nơi nương náu,” theo lời đánh giá tổng quát được nêu ra trên nhiều trang mạng của Amazon, Barnes and Noble, The New Yorker, Los Angeles Times, vân vân khi quảng cáo cho The Displaced: Refugee Writers on Refugee Lives.


* Trở lại với di dân xâu chuỗi

Đã nói rồi, nhưng cũng muốn nói nữa. “Di dân xâu chuỗi” (chain migration), tức là di dân theo diện bảo lãnh gia đình (family-based immigration/family reunification), vốn là nền tảng của chính sách di dân Mỹ áp dụng hàng nhiều thập niên vừa qua, góp phần trong cái được gọi là “giấc mơ Mỹ” [3]– . Cho đến năm 2016, trong số 1 triệu 100 ngàn người nhập cư, có đến 805 ngàn người thuộc loại này, mà ba xứ đông nhất là Mexico, Philippines và …Tàu, nhóm từ “di dân xâu chuỗi” chưa hề được sử dụng. Phải đến khi trở thành tổng thống, ông Trump mới khai thác nó và đã thành công trong việc biến nhóm từ này thành vũ khí chính trị. Di dân xâu chuỗi, theo Trump, chịu trách nhiệm về cơn lũ ồ ạt mang gia đình con cái cũng như bà con xa bà con gần và những người ăn khác tràn vào nước Mỹ để từ đó, đe dọa an ninh của Mỹ, đe dọa kinh tế Mỹ và mở cửa cho bọn khủng bố. Chả thế mà, riêng trong năm 2017, nó được sử dụng đến…295 lần trên đài truyền hình Fox News, là đài ủng hộ Trump, theo Media Matters. Từ đó, nó được những người Mỹ da trắng sử dụng để diễn tả một cách thích hợp cái “xâu chuỗi” không dứt của những di dân, nhất là di dân đến từ Mễ và từ châu Á.

Lý do mà ông Trump và phe cánh nêu ra cho quan điểm mới của mình dựa trên các con số thống kê do“Trung Tâm Nghiên Cứu Di Dân” (Center for Immigration Studies = CIS) đưa ra. Theo đó, hiện nay số lượng di dân sinh ra ngoài nước Mỹ tăng gấp 4 lần kể từ năm 1970. Tính từ năm 1981 đến 2000, trung bình cứ 1 di dân thì mang theo 1,77 người ăn theo. Nhưng sau đó, con số đó tăng lên gấp đôi, đến 3,46 trên 1 di dân, do đó, tình trạng gần như nằm ngoài vòng kiểm soát. Thành thử, cách duy nhất là hạn chế con số di dân bằng cách bãi hỏ di dân xâu chuỗi. Mỗi một di dân chỉ có thể bảo lãnh “gia đình hạt nhân” (nuclear family), nghĩa là chỉ có vợ hay chồng và con cái dưới 21 tuổi mà thôi. Và bỏ hẳn chuyện bảo lãnh cha mẹ và anh em.

Điều thú vị là, tổng thống Trump, chính ông, cũng là có mặt ở Hoa Kỳ qua di dân xâu chuỗi. Ông nội Trump, Friedrich Trump, đến New York từ Đức năm 1885 để đoàn tụ với người chị cả, tức là bà cô của Trump. Mẹ của Trump, Mary Anne Trump, đến Mỹ với tư cách là một di dân kinh tế, do chị của bà (tức là dì của Trump) bảo lãnh từ Scotland năm 1930. Vợ Trump hiện nay, Melania, là một di dân đến từ Slovenia, lúc đầu bằng visa du lịch, sau đó, là visa lao động và cuối cùng chính thức được nhập cư theo “Einstein visa” H1-B dành cho những người có tài năng. Để rồi từ đó, bà bảo lãnh cha mẹ, ông bà Viktor and Amalija Knavs, sang theo sự suy đoán của giới truyền thông. Tin mới nhất cho biết, cả hai vừa được chấp nhận làm thường trú nhân, vào cuối tháng 2/2018 rồi.

Hoan hô “chain migration”!

TDN

——————————-

[1] http://nvnorthwest.com/2014/01/may-dam-son-khe-nhac-si-nguyen-van-dong/

[2] Entertainment Weekly (ew.com), http://ew.com/books/2018/03/02/viet-thanh-nguyen-refugee-essay/

[3]– “The battle over ‘chain migration,’” http://theweek.com/articles/755353/battle-over-chain-migration?yptr=yahoo

bài đã đăng của Trần Doãn Nho


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Nghệ sĩ sáng tác có thể đổi thay ý tưởng theo thời gian

    Nếu nhạc sĩ NVĐ viết ca khúc Phiên Gác Đêm Xuân, 1956 và sau đó viết tiếp Chiều Mưa Biên Giới, Mấy Dặm Sơn Khê, về người Lính chiến, mà lời ca dường như “vẽ nên khung cảnh buồn về người lính phục vụ ở các tiền đồn. Lời ca vừa khinh bạc vừa chán nản.”(TDN) thì ngược lại các bản nổi tiếng khác (rất trứ danh), không như thế. Chúng lại có nét “tích cực” hơn:

    Hỡi người anh thương, chứa trọn thề ước
    Nhưng tình đất nước đâu phải khi cho mình
    Dệt mộng thắm kết uyên ương
    Phương trời anh đi, xa xôi vạn lý
    Đêm nằm gối súng, chung ánh trăng
    Nhưng đôi đường ly cách trong tình thương

    Và xin em hiểu rằng,
    Dù nơi chiến tuyến mịt mờ mưa bay,
    Lòng anh vẫn nhớ tình người hôm nay
    Đời dâng cho núi sông
    Lòng này thách với tang bồng
    Đừng sầu má thắm phai hồng, buồn lắm em ơi
    (Khúc Tình Ca Hàng Hàng Lớp Lớp)

    Và:

    Một mùa thương kết muôn hoa lòng
    Người về đây nối câu tâm đồng
    Về cho thấy xuân nồng áo em
    Cho tình xưa thôi cách xa
    Về chung mái nhà lá

    Người về đây giữa non sông này
    Hội trùng dương hát câu sum vầy
    Về cho thấy con thuyền nước Nam
    Đi vào mùa Xuân mới sang
    Xa rồi ngày ấy ly tan
    (Hải Ngoại Thương Ca, 1964)

    Chưa kể khá nhiều nhạc dịch ra lời Việt từ ca khúc ngoại quốc liên quan đến Tôn Giáo như “Đêm Thánh Vô Cùng” “Ave Maria” “Jingle Bell”

    Rõ ràng nhạc sĩ NVĐ đã có ý thức “chuyển hướng”. Chuyển từ “tiêu cực” sang “tích cực”, sau một thời gian sống và chiến đấu chống giặc tại miền Nam.

    Nó ngược với vài nhạc sĩ khác. Chuyển từ “tích cực phe ta” và theo hẳn luôn phe …. địch. Như Phạm Thế Mỹ, Trịnh Công Sơn. Thế thôi.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)