Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Ly Hương (kỳ 2)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 23.01.2018

 

Early sunday morning, 1930.jpeg
Edward Hopper, Sáng Sớm Chủ Nhật (Early Sunday Morning), 1930

 

Nhưng vị mục sư kia và bà vợ không đi đâu cả, khi ông về hưu.

Họ vẫn được giữ lại căn nhà, một nơi gọi là nhà mục sư, mặc dù thật ra không còn đúng nữa. Người vợ trẻ của ông mục sư mới đến có lần than phiền về nhà cửa, và ban quản trị nhà thờ thay vì sửa chữa nó, đã quyết định xây một căn nhà mới để cô ta khỏi than phiền. Ngôi nhà cũ sau đó được bán với giá thật rẻ cho vị mục sư về hưu. Nhà có phòng dành riêng cho người con trai chơi nhạc và vợ anh ta khi họ trở về thăm gia đình với những đứa con tay bế tay bồng.

Có hai đứa, tên chúng xuất hiện trên cột báo khi mới sinh. Một đứa con trai và sau đó một đứa con gái. Thỉnh thoảng chúng về thăm, thường khi với Leah, một mình, vì người cha còn mải bận rộn vì các cuộc khiêu vũ hay những thứ khác. Ray hoặc Isabel cũng chưa bao giờ gặp họ cả.

Isabel khỏe lên; cô gần như trở lại bình thường. Cô nấu ăn thật ngon miệng khiến họ tăng cân mau chóng, đến một lúc cô phải dừng lại, hoặc ít nhất cũng giảm bớt những bữa bày biện thịnh soạn. Cô gặp gỡ những người phụ nữ khác trong thị trấn để đọc sách và thảo luận những cuốn sách hay. Một vài người không thực sự hiểu lắm sở thích này và bỏ cuộc, nhưng mặt khác, đó là một thành công vang dội. Isabel cười phá lên về những cảnh tượng ở Thiên đường khi họ đọc Dante (2).

Rồi có những lần cô bị ngất, hay gần như ngất xỉu, nhưng vẫn không chịu đi khám bệnh cho đến khi Ray nổi giận với vợ và cô đổi lỗi rằng vì tính khí khó chịu của chồng mà cô bị bệnh. Cô xin lỗi anh và họ lại làm lành, nhưng tim cô mỗi ngày một suy sụp và họ phải thuê một phụ nữ, một y tá thực hành, để ở lại nhà với cô khi Ray đi làm việc. May mắn, họ có thêm ít tiền – từ việc thừa kế gia sản của cô và tiền lương tăng lên của anh – làm cho mọi chuyện không đến nỗi, mặc dù vậy anh vẫn tiếp tục làm ca đêm. Một buổi sáng mùa hè trên đường về nhà, anh dừng lại ở bưu điện xem có thư hay không. Đôi khi vào lúc ấy họ đã phân loại thư, nhưng có khi không. Buổi sáng ấy họ chưa làm xong.

Và bây giờ trên hè phố đi ngược chiều với anh trong ánh sáng chói lọi của buổi sáng tinh sương, là Leah. Cô đẩy chiếc xe trẻ con với một đứa bé gái khoảng hai tuổi ngồi bên trong, đá chân vào tấm dựa kim loại. Một đứa khác tỏ ra chín chắn hơn, tay cầm váy mẹ.

Hay cầm một thứ gì đó như ống quần tây phấp phới. Phía trên, cô mặc một cái áo màu trắng hơi rộng, một thứ như áo vét. Mái tóc cô sáng chói hơn ngày xưa, và nụ cười của cô nữa, một nụ cười anh chưa thấy bao giờ, rực rỡ tươi tắn phủ trùm gương mặt với niềm vui. Cô ấy có thể trở thành một trong những người bạn mới của Isabel, những người trẻ tuổi hơn hoặc vừa mới tới thị trấn, mặc dù có một số cũng lớn tuổi hơn đã từng là những cư dân đầy thận trọng, những người bị loại ra dần khỏi thời kỳ sôi động rực rỡ này của lịch sử, nơi những quan điểm xưa cũ biến mất, ngôn ngữ của họ thay đổi, trở nên thô ráp và giòn tan.

Anh cảm thấy thất vọng vì không tìm thấy một tờ tạp chí mới nào ở bưu điện. Chuyện ấy cũng không còn quan trọng với Isabel nữa. Cô thường sống với các tạp chí của mình, nghiêm túc kích thích sự suy nghĩ nhưng cũng có nhiều bức tranh hài hước quỷ quái khiến cô cười phá lên. Ngay cả những bức tranh quảng cáo về lông thú và đồ nữ trang vàng bạc vốn làm cô vui cười, và anh hy vọng chúng làm cô trẻ lại. Lúc này ít ra anh cũng có một thứ khác để kể với vợ mình. Leah.

Leah chào anh với giọng mới mẻ và giả vờ lấy làm vui mừng rằng anh cũng nhận ra cô, vì cô đã lớn rồi – như cô nói – trở nên một phụ nữ già dặn. Cô giới thiệu đứa bé gái, con bé không ngẩng nhìn lên và vẫn giữ điệu nhịp bước, và đứa con trai, nhìn ra xa và lẩm bẩm. Cô nói đùa với đứa con trai không thể nào buông tà áo mẹ ra. “Chúng ta băng qua đường đây, các con.”

Tên đứa con trai là David và con gái là Shelley. Ray không nhớ được những cái tên trên báo đã đọc. Anh biết những cái tên này đang được mọi người ưa chuộng.

Cô bảo họ đang ở nhà với gia đình bên chồng.

Không phải là thăm viếng mà là ở chung. Ray không nghĩ nhiều về chuyện ấy mãi đến sau này, nhưng cũng có thể chẳng có ý nghĩa gì.

“Chúng tôi đang trên đường tới bưu điện.”

Anh nói với cô rằng anh cũng từ đó mà ra, nhưng họ chưa làm xong việc xếp loại thư.

“Ồ, tệ quá. Thế mà các cháu hy vọng rằng sẽ có một bức thư gởi từ cha chúng, phải không David?”

Thằng bé lại cầm lấy cái váy của cô.

“Chờ cho đến khi họ xếp loại xong,” cô bảo. “Có lẽ lúc đó sẽ có một cái thư như thế.” Có cảm giác như Leah không muốn rời khỏi Ray, mà Ray cũng không muốn thế, nhưng cũng khó mà nghĩ ra được chuyện gì để đứng lại bên nhau một lúc nữa.

“Tôi sắp đi đến tiệm thuốc tây.” Anh bảo.

“Ồ thế à.”

“Tôi phải đi mua thuốc cho vợ tôi.”

“Ồ tôi hy vọng là cô không còn đau bệnh nữa.”

Rồi anh cảm thấy như có chút gì như phụ bạc và anh bảo, ngắn gọn. “Không, không tiến bộ nhiều.”

Leah nhìn qua vai của Ray và chào một người nào đó cũng với giọng điệu vui vẻ như cô đã chào anh trước đó một lúc.

Đó là vị mục sư của nhà thờ, người chăn chiên mới, hoặc khá mới, người có vợ là kẻ đã đòi có một ngôi nhà được sửa sang tử tế.

Leah hỏi liệu hai người đàn ông có quen biết nhau không và họ nói có, họ biết nhau. Cả hai đều nói bằng một giọng chứng tỏ là họ không biết nhau rõ lắm, nhưng cũng tương đối hài lòng họ có biết nhau. Ray để ý người đàn ông không mang cổ cồn trắng.

“Không đến nỗi vì thế mà phạm pháp,” vị mục sư nói, có lẽ tin rằng nên đùa vui vẻ một chút . Ông bắt tay Ray.

“Thật may mắn,” Leah nói. “Tôi muốn hỏi mục sư một vài câu và bây giờ ông đã ở đây.”

“Tôi đang ở đây.” Mục sư nói.

“Tôi muốn nói về lớp học ngày Chủ nhật,” Leah nói. “Tôi tự hỏi. Tôi có hai đứa nhỏ và tự hỏi khi nào và phải làm thủ tục gì và tất cả mọi thứ.”

“Ồ vâng ạ.” Ông mục sư nói.

Ray có thể thú nhận rằng anh không thích người khác nói về công việc nhà thờ ở nơi công cộng. Không muốn ai đề cập đến chuyện ấy, như thể chúng đang được mọi người đem ra bàn tán ngoài đường nhưng vị mục sư biết cách che đậy sự khó chịu của mình và cũng có thể có vài sự đền đáp về phía ông ta khi nói chuyện với một cô gái như Leah.

“Chúng ta nên thảo luận về chuyện ấy,” ông bảo. “Hãy làm một cái hẹn với tôi bất cứ lúc nào.”

Ray bảo anh phải đi rồi.

“Rất vui được gặp lại bạn,” anh nói với Leah và gật đầu chào người đàn ông mặc áo tu sĩ.

Anh bước đi, có thêm hai thông tin mới. Cô ta sẽ ở đây khá lâu, nếu cô thu xếp lớp học vào ngày Chủ nhật. Và cô chưa loại bỏ khỏi thế giới của mình các tín ngưỡng mà cô từng lớn lên với chúng.

Anh trông đợi sẽ gặp lại Leah một lần nữa, nhưng điều đó không xảy ra . Khi về nhà anh bảo Isabel về chuyện cô gái đã thay đổi thế nào và cô bảo anh, tất cả những thứ ấy đều có vẻ thông tục tầm thường, không có gì đặc biệt.

Isabel tỏ ra hơi bực mình, có lẽ vì cô phải chờ anh khá lâu để mang cà phê cho mình. Người giúp việc chỉ đến sau chín giờ và cô bị cấm, sau một tai nạn bị bỏng, tự mình làm các việc trong nhà.

*

Tình hình ngày càng xấu đi, có một vài việc đáng sợ xảy ra cho đến trước mùa Giáng sinh năm ấy, rồi Ray phải xin phép nghỉ một thời gian. Họ rời thị trấn để tới thành phố lớn, nơi có thể tìm thấy một số bác sỹ chuyên khoa. Isabel được nhập viện ngay tức khắc và Ray kiếm được một căn phòng tạm trú dành cho người thân của bệnh nhân từ ngoại tỉnh. Bỗng nhiên anh không còn trách nhiệm gì nữa ngoài việc đến thăm Isabel nhiều giờ mỗi ngày và ghi xuống những phản ứng của cô đối với các phương pháp điều trị. Thoạt tiên anh cố làm cho cô quên bệnh tật đi bằng cách nói về quá khứ của họ, những nhận xét của anh về bệnh viện và những bệnh nhân khác. Anh đi bộ mỗi ngày bất chấp thời tiết và kể cho vợ nghe về những chuyện ấy. Anh mang những tờ báo tới và đọc cho cô nghe các bản tin. Cuối cùng cô bảo, “những thứ ấy thì tốt cho anh, anh yêu à, nhưng em đã qua khỏi chuyện ấy rồi.” “Qua khỏi cái gì?” Anh hỏi lại, nhưng cô nói, “ồ xin đừng”, và sau chuyện ấy anh chỉ đọc thầm những cuốn sách mượn từ thư viện. Cô bảo “anh đừng lo nếu em nhắm mắt lại. Em biết anh đang ngồi ở đó.” Isabel đã được chuyển từ phòng săn sóc cấp cứu vào một phòng có bốn người đàn bà bệnh tình tương tự như cô, mặc dù có một người thỉnh thoảng ngồi dậy la lớn về phía Ray, “Hãy hôn chúng tôi đi.” Thế rồi một ngày kia anh bước vào và thấy một người đàn bà khác nữa nằm trên giường của Isabel. Trong một lúc anh thoáng nghĩ hay là vợ mình đã chết mà chẳng ai báo tin cho anh. Nhưng người bệnh nhân liến thoắng ngồi ở góc giường kêu lên, “Trên lầu.” Với vẻ vui sướng hay tự hào.

Và đó là điều đã xảy ra. Isabel không thức dậy vào buổi sáng và vì vậy được chuyển tới một khu vực khác nơi có vẻ chứa những người bệnh không có cơ hội hồi phục, ít cơ hội hơn những người nằm ở chỗ cũ – nhưng sẽ không qua đời dễ dàng.

“Anh nên về nhà đi.” người ta bảo Ray. Họ nói họ sẽ thông báo cho anh biết nếu tình hình thay đổi.

Như thế cũng đúng. Trước hết vì anh đã ở quá lâu trong khu vực dành cho thân nhân người bệnh, anh cũng đã nghỉ quá lâu từ sở cảnh sát ở Maverly. Tất cả mọi dấu hiệu đều chứng tỏ anh nên trở về đó.

Thay vì vậy anh quyết định ở lại thành phố. Anh xin được việc làm ở trong bệnh viện như một người thợ sửa nhà, dọn dẹp, lau chùi nhà cửa. Anh tìm được một căn hộ có bàn ghế, một ít đồ đạc trong ấy, không quá xa nơi ở của vợ.

Anh về nhà cũ, nhưng chỉ một thời gian ngắn. Ngay khi tới, anh đã thu xếp việc bán nhà và bán tất cả đồ đạc trong ấy. Anh giao hết cho người bán nhà mọi việc và chấm dứt liên lạc, anh cũng không giải thích gì nhiều cho ai cả. Anh chẳng quan tâm đến chuyện xảy ra ở nơi chốn ấy. Những năm tháng đã từng trải qua ở thị trấn, những điều anh biết về nó, dường như trôi tuột qua tay không để lại gì.

Anh có nghe nói đến chuyện đồn đại về người mục sư của nhà thờ, tìm cách li dị vợ, vì một quan hệ thông dâm. Ngoại tình với một người trong họ đạo đã là điều xấu xa, nhưng dường như vị mục sư kia thay vì giữ cho nó càng im lặng càng tốt và trốn đi đến những nơi tu thân sửa mình hay phục vụ trong những xứ đạo xa xôi, thì lại chọn đối mặt với dàn nhạc từ trên bục nhà thờ. Ông ta có nhiều điều hơn chỉ là thú tội. Mọi thứ đều là đóng kịch, ông ta bảo. Những lời giảng của ông về kinh Phúc âm và những điều răn mà ông không hề tin tưởng, và tất cả những lời giảng đạo về tình yêu và tình dục, những lời khuyên mực thước, rụt rè và lảng tránh: thảy đều sự giả tạo. Ông ta bây giờ trở thành một người hoàn toàn tự do, tự do để nói với mọi người rằng thật sung sướng được ca tụng thân xác lẫn tinh thần. Người đàn bà đã làm nên điều thay đổi lớn lao này cho ông ta, dường như thế, chính là Leah. Chồng cô ta, chàng nhạc sỹ, Ray được bảo vậy, đã từng tìm cách quay lại với cô nhưng Leah không muốn thế nữa. Anh ta đổ trách nhiệm lên người mục sư, nhưng anh ta lại là một chàng say sưa rượu chè – người chồng của Leah – khiến cho chẳng ai biết được có nên tin ở lời nói của anh ta hay không. Mẹ của anh thì chắc chắn là tin ở anh, bởi vì bà đã đuổi cổ Leah ra khỏi nhà và giữ những đứa trẻ con lại. Đối với Ray đó chẳng qua là những tính cách đáng ghê tởm. Sự thông dâm, thói say sưa nghiện ngập và những vụ tai tiếng – ai biết được ai đúng ai sai? Ai mà quan tâm? Cô bé ấy đã lớn, biết làm dáng và biết trả giá cũng như tất cả những kẻ khác. Sự lãng phí của thời gian, sự lãng phí của đời sống bởi những người mò mẫm lăng quăng đi tìm sự vui thú và không để ý đến một điều gì quan trọng cả trên đời.

Tất nhiên, khi anh có dịp trò chuyện với Isabel, mọi chuyện khác hẳn. Không phải vì Isabel đi tìm những câu trả lời – thật ra cô đã làm anh có cảm giác rằng ở đời có nhiều chuyện mà anh chưa nghĩ tới. Thế rồi cô kết thúc bằng cách cười phá lên.

Ở chỗ làm mọi chuyện đều yên ổn. Người ta hỏi anh có muốn tham gia vào đội bóng Ki và anh cám ơn họ nhưng bảo anh không có thì giờ. Thật ra anh có rất nhiều thì giờ, nhưng muốn dành tất cả cho Isabel. Để ý đến mọi điều thay đổi, mọi sự giải thích, không để điều gì lướt đi mà không được nhìn thấy.

Tên cô ấy là Isabel, anh thường nhắc các y tá như vậy nếu họ nói, “Bây giờ đây, thưa bà,” hoặc nói, “Được rồi tiểu thư ơi, chúng ta làm thế này.”

Rồi từ từ anh cũng làm quen với cách nói của họ. Rồi cũng có những thay đổi. Nếu không phải ở Isabel thì là ở chính anh.

Mới đầu anh gặp cô mỗi ngày một lần. Thế rồi hai ngày một lần. Rồi hai lần mỗi tuần.

*

Bốn năm. Anh nghĩ cũng là một kỷ lục. Anh hỏi những người săn sóc cô có phải thế không và họ đều nói, “Phải rồi, cũng gần đến đó thôi.” Họ có thói quen trả lời mơ hồ về bất cứ chuyện gì.

Anh đã không còn có ý tưởng ám ảnh về chuyện cô có suy nghĩ hay không. Anh cũng không còn ngồi chờ cô mở mắt ra. Chỉ là vì anh không thể nào bỏ đi và để cô lại một mình ở một nơi héo tàn cô quạnh.

Cô đã thay đổi từ một người đàn bà rất gầy, không phải thành một đứa trẻ, nhưng là một bộ xương cách trí lùng nhùng, với một chỏm tóc như chùm lông chim sẵn sàng rụng đi mỗi phút với nhịp thở rời rạc của cô.

Có những phòng rộng lớn dùng để luyện tập và thể dục nối với bệnh viện. Anh chỉ nhìn thấy chúng khi nào vắng người, tất cả dụng cụ được dọn dẹp và phòng tắt ánh sáng. Nhưng một đêm kia khi ra về anh đi qua một con đường khác xuyên qua tòa nhà vì một lý do nào đó và chợt thấy đèn còn sáng.

Và khi anh đi vào để xem thử có chuyện gì anh nhìn thấy một người vẫn còn ở đó. Một người đàn bà. Cô ta ngồi xoạc chân lên một quả bóng được bơm căng, nghỉ ngơi trên đó, hoặc có lẽ đang cố nhớ lại xem cô ta cần làm gì tiếp theo.

Đó là Leah. Mới đầu anh không nhận ra cô, nhưng anh nhìn lại một lần nữa và đó là Leah. Có thể anh đã không vào, có lẽ thế, nếu như anh kịp nhận ra đó là ai, nhưng bây giờ thì đã muộn, anh đã đi một nửa đoạn đường, định tới tắt đèn. Cô ta nhìn thấy anh.

Cô bước ra khỏi quả bóng. Cô mặc một bộ đồ thể thao và lên cân thấy rõ.

“Tôi đã nghĩ rằng có lúc tôi sẽ gặp lại anh,” cô nói. “Isabel thế nào?”

Có một chút ngạc nhiên khi nghe cô ta gọi Isabel bằng tên, hoặc là nói chuyện về vợ anh như thể cô ta biết rõ.

Anh kể cho Leah nghe vắn tắt về Isabel. Không có cách nào khác ngoài việc nói vắn tắt mà thôi.

“Thế anh có nói chuyện được với cô ấy không?” Cô ta nói.

“Không nói được nhiều đâu.”

“Ồ anh phải nói chứ. Anh không được ngừng nói chuyện với họ.”

Làm sao cô ta lại nghĩ mình có thể biết nhiều thứ như thế?

“Anh không ngạc nhiên gặp tôi chứ, phải thế không? Chắc anh nghe chuyện gì rồi?”

Anh không biết trả lời ra sao.

“Ồ,” anh nói.

“Cũng đã lâu tôi nghe nói rằng anh ở đây và những chuyện tương tự, thế rồi tôi đoán là anh cũng biết tôi tới đây.”

Anh nói với cô anh không hề biết.

“Tôi làm công việc giải trí,” cô bảo anh. “Cho những bệnh nhân bị ung thư. Nếu như họ có thể.”

Anh nói anh nghĩ đó là việc tốt.

“Tốt lắm chứ. Tôi muốn nói là cả tôi nữa. Tôi rất yên ổn, nhưng đôi khi có chuyện này chuyện nọ đến tai mình. Nhất là trong bữa ăn tối. Khi mọi chuyện có thể trở nên kỳ quặc.”

Bây giờ cô nhận ra là anh không biết rõ cô nói về chuyện gì và cô bắt đầu giải thích, với một chút hào hứng.

“Tôi muốn nói là tôi ở đây không có bọn trẻ, anh không biết là cha chúng ở với bọn trẻ sao?

“Không,” anh nói.

“Ồ vậy à. Bởi vì người ra nghĩ rằng mẹ của anh ta có thể coi sóc chúng. Anh ấy là thành viên của hội những người nghiện rượu đang cai, nhưng dư luận đã không đi theo hướng ấy nếu không có bà ta.”

Cô khụt khịt mũi và lấy tay chùi nước mắt một cách có phần khinh mạn.

“Đừng bực mình anh nhé – mọi chuyện không tệ lắm đâu. Em chỉ bỗng dưng bật khóc thôi. Khóc cũng không phải là chuyện quá xấu đâu, cho đến khi nào mình trở thành quen với nó.”

Người đàn ông ở trong hội cai nghiện kia chắc phải là anh chàng chơi saxophone. Nhưng thế thì ông mục sư kia và những chuyện xảy ra ồn ào dưới đó?

Như thể anh đang hỏi cô ta ra miệng, cô bảo, “Ồ thế thì. Carl. Mấy chuyện đó ồn ào lên một lúc, phải thế không? Tôi phải đi khám cái đầu của mình mất.”

“Carl lập gia đình trở lại,” cô ta tiếp tục. “Chuyện ấy làm cho anh ta thấy dễ chịu hơn. Tôi muốn nói là bởi anh ta phải vượt qua những điều mà anh ta đã làm với tôi. Thật là chuyện nực cười. Anh ta cứ thế mà lập gia đình với một nữ mục sư. Chắc anh biết bây giờ người ta để phụ nữ làm mục sư rồi chứ. Vậy thì cô ta là một mục sư như vậy. Thế rồi anh chàng kia trở thành giống như là vợ của một mục sư vậy. Tôi nghĩ chuyện đó thật là quái gở.”

Mắt ráo hoảnh, miệng cười. Ray biết rằng còn có nhiều chuyện khác nữa, nhưng anh không đoán được.

“Anh chắc ở đây lâu rồi. Anh có chỗ ở riêng của mình chứ?”

“Vâng.”

“Anh nấu ăn bữa tối cho anh và làm tất cả mọi thứ chứ?”

Anh bảo cô đúng vậy.

“Tôi có thể làm mấy việc ấy cho anh, thỉnh thoảng. Liệu cái đó có hợp không?”

Mắt cô ta sáng lên nhìn vào mắt anh.

Anh nói chuyện đó có thể, nhưng nói thật là không đủ phòng ở chỗ của anh cho thêm một người nữa để di chuyển xoay xở cùng một lúc.

Rồi anh bảo anh đã không gặp Isabel trong vài ngày và anh phải làm chuyện ấy ngay.

Cô gật đầu ra vẻ hơi đồng ý. Cô không tỏ vẻ bực mình hay khó chịu gì cả.

“Hẹn gặp lại anh nhé.”

“Sẽ gặp lại.”

Người ta đi tìm anh khắp nơi. Isabel cuối cùng đã ra đi. Họ nói chữ “ra đi”, như thể cô vừa ngồi dậy và bỏ đi. Khi có người nào tới kiểm tra cô một giờ trước, cô vẫn còn ở đó, thế mà bây giờ cô đã đi rồi.

Anh thường tự hỏi có gì khác nhau giữa hai chuyện ấy.

Nhưng sự trống vắng ở chỗ nằm của cô thật đáng kinh ngạc.

Anh nhìn người y tá, bàng hoàng. Người y tá tưởng rằng anh muốn hỏi cần phải làm gì tiếp theo và cô bắt đầu chỉ cho anh ta. Ngồi vào chỗ của vợ mình. Anh hiểu người y tá, nhưng vẫn bàng hoàng ngờ vực.

Anh tưởng chuyện đó đã xảy ra từ lâu với Isabel, nhưng không phải thế. Cho đến bây giờ.

Isabel đã cầm cự cho đến nay, nhưng bây giờ cô không tồn tại nữa. Không hiện hữu, như thể chưa từng. Và mọi người quanh đây chạy vội vã, như thể sự kiện khủng khiếp này có thể bị đảo ngược bằng cách dàn xếp này nọ. Và anh nữa, tuân theo những phong tục, ký vào những nơi anh được yêu cầu phải ký, thu xếp cho phần còn lại, tro cốt, của người đã mất.

Thật là chữ toàn hảo – “phần còn lại”. Như thể một điều gì còn để lại chờ khô đi trong lớp bụi bồ hóng trên nóc tủ.

Rồi anh bước ra ngoài, giả vờ như mình là người đang có một bổn phận bình thường và chính đáng cũng như mọi người, đặt chân này lên trước chân kia.

Điều anh mang đi, tất cả những gì anh mang đi với mình, là sự thiếu vắng, một điều gì như sự thiếu không khí, thiếu một cách thở đúng mức trong buồng phổi của anh, sự khó nhọc mà anh nghĩ là mình sẽ chịu đựng mãi mãi.

Cô gái mà anh đã từng trò chuyện, từng quen biết – cô ta nói về con cái của mình. Việc cô để mất những đứa trẻ ấy. Làm quen với điều ấy. Chuyện bực mình trong bữa ăn tối.

Một chuyên viên về mất mát, cô ta có thể có biệt danh như thế – còn anh thì chỉ là một tay mơ, khi đem so sánh với cô. Còn bây giờ, anh cũng quên luôn tên cô ấy. Đã mất tên rồi, mặc dù anh từng biết nó quá rành rẽ. Đang mất, đã mất. Một chuyện đùa đối với anh chăng, nếu bạn muốn thế.

Anh bước gấp lên khi cái tên ấy bỗng trở lại với anh.

Leah.

Thở phào nhẹ nhõm, bình an, anh nhớ đến cô.

Chú thích của người dịch:

(1) plot, cốt truyện, để phân biệt với story, câu chuyện.

(2) Dante, tức Durante degli Alighieri, 1265- 1321, là nhà thơ lớn của Ý và của thế giới. Thiên đường (Paradiso, Paradise, Heaven) là phần thứ ba và cuối cùng của vở Hài kịch thánh thần của Dante, sau phần Inferno và Purgatorio.

(*) nhận xét riêng của người dịch: truyện này, Leaving Maverley, tiêu biểu cho nghệ thuật kể chuyện của Alice Munro, sức hấp dẫn của nó.

bài đã đăng của Alice Munro


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)