Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

NGUYỄN TRÃI: BỀ TÔI CỦA BỐN DÒNG VUA (Phần 2/5)

0 bình luận ♦ 18.01.2018

4. Chuyến đi Trung quc (1410 1417)

舟中偶成

佩劍攜書膽氣粗
海山萬里片帆孤
途中日月三冬過
客裡親朋一字無
異境每驚新歲月
扁舟重憶舊江湖
四方壯志平生有
此去寧辭我僕痡

Chu trung ngẫu thành

Bội kiếm huề thư đảm khí thô
Hải sơn vạn lý phiến phàm cô
Ðồ trung nhật nguyệt tam đông(52) quá
Khách lý thân bằng nhất tự vô
Dị cảnh mỗi kinh tân tuế nguyệt
Biển chu trùng ức cựu giang hồ
Tứ phương tráng chí bình sinh hữu
Thử khứ ninh từ ngã bộc phô

Ngu nhiên thành thơ khi trong thuyn

Thật táo tợn dám cắp sách đeo gươm!
(Theo) cánh buồm côi vượt muôn dặm biển núi.
Gần hết mùa đông hãy còn trên đường,
Thân bằng không một chữ gửi đến đất khách.
Chỉ e phải đón năm mới nơi cảnh lạ,
Trong thuyền con chợt nhớ thuở giang hồ xưa.
Bình sinh nuôi tráng chí đi khắp bốn phương,
Không lẽ từ chối chuyến này vì gã đày tớ mệt mỏi?

Qua câu 8, Nguyễn so sánh chuyến viễn du đầu tiên trong đời mình với chuyến đi Trường châu của cha hơn ba mươi năm trước. Ứng Long từng nói “Vạn lý ninh từ ngã bộc phô 萬里寧辭我僕痡,” Không l t chi chuyến đi muôn dm vì gã đày t mt mi? Nguyễn bạo gan hơn cha nhiều. Ứng Long khóc sướt mướt vì đi xa đến 100 km cách quê nhà, Nguyễn chỉ liên tưởng thói giang hồ thời trẻ khi lênh đênh thực sự ngoài vạn dặm.

Cánh buồm cô đơn nhưng thuyền phải chở nhiều người. Thái độ ung dung của Nguyễn chứng tỏ nhóm nhân sự sang Trung quốc hợp pháp, tức dưới chuẩn y của chính quyền Giao Chỉ. Lộ trình công vụ chắc chắn phải theo tuyến trạm dịch đương thời cũng là đường di chuyển của công văn thư tín. Ngày 5/5/1410, bộ Lễ trình vua Minh đề xuất của Hoàng Phúc về việc thiết lập lộ trình thủy bộ mới từ bắc sông Lô (sông Hồng nay) qua Tân An (Quảng Ninh nay) đến Khâm châu (Quảng Đông thời Minh, Quảng Tây nay) rồi Hoành châu (Quảng Tây nay) gồm 10 trạm thủy và 3 trạm bộ (Minh Thực lục II, 336). Hoành châu là điểm nối tuyến mới vào tuyến nội địa đang hoạt động. Có thể Nguyễn sang Nam Kinh theo tuyến này. Nhóm người An Nam ngừng tại trạm nào đó thời gian khá lâu nên Nguyễn mới mong thư nhà.

Nguyễn nghĩ mình đủ khả năng du thuyết, như Phạm Thư hay Trương Nghi từ dân Ngụy sang làm tướng Tần, nên có phần hào hứng. Tuy nhiên, tầm nhìn từ đáy giếng Thăng Long khiến chú ếch Ức Trai ngộ nhận. Tần là nước ngoại vi, quân đội mạnh trên nền tảng văn hóa thô phác nên phải dùng nhân tài trung nguyên phủ dụ các nước trung nguyên. Giao Chỉ ngoài cả ngoại vi, trình độ nho gia địa phương theo nhận xét của Tham chính Lưu Bân: “…Dùng các giáo quan như Lê Cnh Tuân người bn x, thc ra bn này ch chung hư văn, chưa thy (cái hay ca) s thc hc. Nay xin tuyn các lão thành có hc, theo khuôn kh sư phm, dy các sĩ t biết l nghĩa ca Trung Quc..(53) (Minh Thực lục I, 348) Cách dụng chữ Nho ở Giao Chỉ cũng khác với mẫu quốc khiến vua Minh đọc tờ tâu của một thổ quan phải buông ra nhận xét: “Li l b lu, đáng ghét…..”(54) (Minh Thực lục II, 122) Về chế tạo quân khí hay xây dựng công trình, người Giao như Lê Trừng, Nguyễn An thành công trước người Hán; nhưng về văn hóa thuần Hán, so mức sắc sảo giữa học giả vùng xôi đậu như Đông Quan với học giả chính gốc Hoa Hạ chẳng khác nào so sự sắc bén giữa dao bếp và bảo kiếm. Nguyễn nhận thức điểm này chỉ sau một thời gian ngắn đặt chân lên đất Trung Hoa.

潯州

潯州城下鼓鼙聲
客路還淹數月程
溪洞有氓山八萬
成樓吹角月三更
岸篁瑟瑟悲風起
江水悠悠旅夢清
老我世途艱險熟
中宵不寐獨傷情

Tầm châu

Tầm châu thành hạ cổ bề thanh
Khách lộ hoàn yêm sổ nguyệt trình
Khê động hữu manh sơn bát vạn
Thú lâu xuy giốc nguyệt tam canh
Ngạn hoàng sắt sắt bi phong khởi
Giang thuỷ du du lữ mộng thanh
Lão ngã thế đồ gian hiểm thục
Trung tiêu bất mị độc thương tình(55).

Tm châu

Ngoài thành Tầm châu trống trận vang vang,
Lộ trình xứ khách phải trì hoãn thêm vài tháng.
Núi chập chùng, dân sống trong khe động,
Trăng thâu đêm, chòi gác trổi tù và.
Gió buồn nổi lên, tre bên bờ xào xạc,
Dòng nước trôi êm, mộng lữ khách nhẹ nhàng.
Ta lão luyện đường đời, gian hiểm quen thuộc cả,
Nửa đêm chưa ngủ, thương xót riêng mình!

Tầm châu nay là thành phố cấp huyện Quế Bình, trực thuộc thành phố Quế Cảng thuộc khu tự trị Quảng Tây, nơi sông Kiềm (Qianjiang) và sông Úc (Yujiang) gặp nhau tạo nên sông Tầm. Như thế, Nguyễn đi thuyền trên sông Úc rời Hoành châu (Hoành huyện nay) theo hướng đông bắc đến Tầm châu. Từ đó, Nguyễn xuôi sông Tầm về đông qua Bình Nam tới Ngô châu.

clip_image001
Lộ trình từ Hoành châu (Hengxian nay) đến Ngô châu (Wuzhou) [bản đồ Google]

Năm 1410, Minh Thành tổ bận rộn chinh chiến với Mông Cổ. Trở về vào cuối năm, vua Minh huy động ngay từ sáu ty Đô Tứ Xuyên, Quảng Tây, Giang Tây, Hồ Quảng, Vân Nam, Quý Châu và mười bốn vệ gồm 24.000 quân giao Trương Phụ sang chinh phạt Trùng Quang đế Trần Quý Khoáng.(Minh Thực lục I, 343) Chuyến đi của Nguyễn ngắc ngứ có thể do nguồn lực nội địa bị điều động ra thảo nguyên hay xuống An Nam nên thiếu phương tiện vận chuyển cho các trạm dịch. Hơn nữa, gần đến năm mới, cường độ hoạt động của bộ máy chắc chắn bị giảm thiểu do một số nhân sự phải quay lại quê nhà.

Nguyễn thị Kiều Trang, lần theo thơ đi sứ của Phùng Khắc Khoan (1528 – 1613), đã dựng lại lộ trình dành cho đại diện An Nam Đô thống sứ ty từ Trấn Nam quan đến Bắc Kinh.[11] Kết hợp tuyến dịch trạm do Hoàng Phúc xác lập với lộ trình Phùng Khắc Khoan năm 1597, chúng ta thấy Nguyễn rời Giao Chỉ bằng thuyền, theo lộ trình mười ba trạm đến Hoành châu. Các địa điểm tiếp theo như Tầm châu, Bình Nam, Ngô châu, Thiều châu, Giang Tây đều là tên các trạm hoặc thành phố thuộc tuyến đường từ Quảng Tây qua Quảng Đông – Giang Tây – Chiết Giang đến Giang Tô (thủ phủ là Kim Lăng) mà hơn 100 năm sau họ Phùng vẫn sử dụng. Lộ trình này không qua Hồ Nam, khác tuyến đi của các sứ đoàn cống Thanh vào thế kỷ XVIII, XIX.

Chưa vượt Ngũ Lĩnh, Nguyễn đã mất phấn chấn ban đầu. Thời gian chờ đợi kéo dài lộ rõ thân phận dân thuộc địa bèo bọt. Ông dạn dày hơn, ít bồng bột hơn, nhưng cũng bớt tin tưởng vào tương lai hơn. Thực ra, nhiều người Giao Chỉ được bổ quan nội địa như: Nguyễn Quân chức Tả Thị lang bộ Hình Bắc Kinh, Đồng Ngạn Dực và Lê Tư Khải chức Hữu Thị lang,(Minh Thực lục I, 293) Vương Nhữ Tướng chức Tả Tham chính ty Bố chính Sơn Đông, Vương A Lỗ chức Tả Tham nghị ty Bố chính Sơn Tây… (Minh Thực lục I, 295) Các vị nêu trên cùng Mạc Thúy, Nguyễn Huân, Đỗ Duy Trung, Lương Nhữ Hốt là những nhà cai trị sành sỏi việc quân. Nguyễn Trãi chỉ là nho gia thuần túy, thiếu kỹ năng quản lý chính quyền và điều khiển quân đội. Khả năng “hiến phú 獻賦”, dâng hiến văn chương của ông không thể sánh với nhà nho gốc Hán, như vậy, thế mạnh ở Giao Chỉ trở thành vô nghĩa tại Trung Hoa.

平南夜泊

片帆高颭晚風輕
暮宿平南古縣城
燈影照人和月影
樹聲敲夢併灘聲
湖山有約違初志
歲月如流漫此生
夜半戍樓吹畫角
客中悽愴不勝情

Bình nam(56) dạ bạc

Phiến phàm cao chiếm vãn phong khinh
Mộ túc bình nam cổ huyện thành
Đăng ảnh chiếu nhân hòa nguyệt ảnh 
Thụ thanh xao mộng tính than thanh
Hồ sơn hữu ước vi sơ chí 
Tuế nguyệt như lưu mạn thử sinh
Dạ bán thú lâu xuy họa giốc
Khách trung thê sảng bất thăng tình

Đêm đu thuyn Bình Nam

Gió chiều hây hẩy phập phồng cánh buồm cao,
Nghỉ lại thành cổ huyện Bình Nam lúc gần tối.
Người đắm trong ánh trăng lẫn ánh đèn,
Mộng vờn giữa tiếng lá hòa tiếng sóng.
Ước hẹn núi hồ: lỡ rồi chí cũ!
Vèo trôi năm tháng: sống uổng kiếp này.
Nửa đêm, tù và rúc lên từ tháp canh,
Nơi đất khách, lòng buồn thương khôn xiết….

Câu 8 “Bình Nam dạ bạc” và “Tầm châu” truyền tải chung một tâm tư cho thấy hai bài được viết vào thời điểm gần nhau, cùng thuộc quãng thời gian hành trình chậm chạp. Nếu ở Tầm châu, Nguyễn còn thoáng nghĩ tích cực như tự hào sự già dặn đường đời thì ở Bình Nam ông bỗng ngập chìm oán phẫn. Nhìn nhận rõ hơn vị trí dân Man trên đất Hán, hi vọng nặng nề khi chờ đợi kéo dài, còn nguyên nhân nào khác đẩy Nguyễn đến tâm trạng bi quan thái quá? Căn cứ bài “Thiều châu tức sự” diễn tả mùa tảo mộ “Thiên khí thanh minh tam nguyệt tam 天氣清明三月三,” Mng ba tháng ba, tri vào tiết Thanh Minh để tính ngược lại ta thấy Nguyễn đã đón năm mới tại Bình Nam. Ăn Tết xứ người hẳn là trải nghiệm khôn kham, càng thảm hơn nếu kẻ tha phương vừa mất tất cả. Nguyễn nắm trong tay nhiều cái không: không sự nghiệp, không thân bằng quyến thuộc, không xác định ngày đến, không trông ngày về. Nửa đêm đất khách, chúng ta hiểu tiếng còi sừng thê lương dày vò kiếp người trống rỗng đến mức nào.

Nỗi bi thiết cuộn qua theo năm cũ, Nguyễn đến Thương Ngô với đầu óc tỉnh táo và minh mẫn.

梧州

路入青梧景更嘉
岸邊陽柳簇人家
九疑積翠峰如玉
二廣分流水若叉
琳館空聞飛白鶴
仙人不見袖青蛇
火山冰井真奇事
舊俗相傳恐亦差

Ngô Châu

Lộ nhập thanh ngô cảnh cánh gia
Ngạn biên dương liễu thốc nhân gia
Cửu nghi tích thuý phong như ngọc
Nhị quảng phân lưu thuỷ nhược xoa
Lâm quán(57) không văn phi bạch hạc(58)
Tiên nhân bất kiến tụ thanh xà(59)
Hỏa sơn(60) băng tỉnh(61) chân kỳ sự
Cựu tục tương truyền khủng diệc soa.

Ngô châu

Đường vào Thanh Ngô cảnh càng đẹp,
Nhà dân ẩn khuất dưới dương liễu bên bờ.
Núi Cửu Nghi đọng sắc biếc trông như ngọc,
Sông (nối liền) Nhị Quảng chia dòng nhìn tựa cái xiên.
Nghe nói đền Ngọc có hạc trắng bay,
Không thấy tiên dấu rắn xanh trong tay áo.
Núi lửa, giếng băng việc thực kỳ quái,
Sợ rằng lời truyền xưa là sai.

Cửu Nghi là rặng núi trải dài qua các huyện Ninh Viễn, Lam Sơn thuộc Vĩnh châu, tỉnh Hồ Nam, giáp giới Quảng Tây. Theo truyền thuyết, vua Thuấn được an táng nơi đây. Đào Duy Anh và Mai Quốc Liên đều cho rằng Nguyễn Trãi nhầm núi ở Thương Ngô (Ngô châu) với núi Cửu Nghi Hồ Nam do Cửu Nghi còn mang tên khác là Thương Ngô. Tuy nhiên, khoảng 400 năm sau, khi Nguyễn Du đi trên Tầm giang qua thành Ngô vẫn nhắc núi Cửu Nghi.[12] Không rõ Cửu Nghi được nhìn thấy từ Ngô châu là mặt nam dãy núi ngăn cách Hồ Nam-Quảng Tây hay là cụm núi trùng tên tại địa phương.

Nguyễn đi từ Bình Nam sang Ngô châu, tức từ tây sang đông. Nhị Quảng phân lưu, không phải hợp lưu, chỉ có thể là miêu tả về địa điểm dòng Tầm giang phân thành hai nhánh trước khi vào thành Ngô. Như vậy cũng phù hợp với ý “Lộ nhập Thanh Ngô 路入青梧”, Đường vào Thanh Ngô.

clip_image002
Thành phố Ngô châu bên các dòng nước [bản đồ Google]

Theo bản đồ, sau khi rẽ đôi, Tầm giang (Xunjiang) hợp lại tại phía nam Ngô châu. Gần sát nơi đây, Quế giang (Guijiang) chảy vào sông Tầm tạo thành Tây giang (Xijiang) hướng xuống Quảng châu đổ ra biển. Ngô châu (Wuzhou) như thế nằm ngay vị trí bốn nhánh sông hội tụ.

Thoát khỏi thời gian trì trệ, Nguyễn thay cái nhìn vào nội tâm lúc đợi chờ bằng cái nhìn tò mò ra thế giới bên ngoài. Những điều thu thập được gồm các chuyện truyền khẩu trong dân gian. Thay vì nhận xét cách tổ chức chính quyền, quân đội hay sinh hoạt tầng lớp cao, ông chỉ nói đến văn hóa, kiến thức bình dân. Điều đó tiết lộ thân phận bé mọn trên đường tìm cơ may mới. Nguồn thông tin thực tế đến từ hạng thần dân thấp thỏi của mẫu quốc. Xưa kia, Ứng Long từng trải nghiệm lần đi sứ khổ sở, tuy nhiên chúng ta vẫn thấy thấp thoáng ao đài ngập ánh trăng, thấy dinh thự có tượng hổ canh gác và cuộc rượu thâu đêm. Chuyến sang Minh của Nguyễn nhiều trầm tư nhưng thiếu phù hoa.

Như trên đã nói, sông Quế và sông Tầm hợp lưu tại Ngô châu tạo thành Tây giang. Rời Ngô châu, Nguyễn xuôi Tây giang về đông đến khu vực Tam Thủy (thuộc Phật Sơn nay) thì rẽ trái vào Bắc giang (Beijiang) để ngược lên bắc hướng tới Thiều châu (nay là thành phố Thiều Quan). Chùa Nam Hoa, cách trung tâm thành phố khoảng 22km về phía đông nam, là nơi Lục tổ Huệ Năng (638 – 713) đại hưng Phật giáo.[13]

遊南華寺

神錫飛來幾百春
寶林香火契前因
降龍伏虎機何妙
無樹非臺語若新
殿側起樓藏佛缽
龕中遺跡脫真身
門前一派漕溪水
洗盡人間劫劫塵

Du Nam Hoa tự

Thần tích(62) phi lai kỷ bách xuân
Bảo lâm hương hoả khế tiền nhân
Hàng long phục hổ cơ hà diệu
Vô thụ phi đài ngữ nhược tân
Ðiện trắc khởi lâu tàng phật bát
Kham(63) trung di tích thoát(64) chân thân(65)
Môn tiền nhất phái tào khê(66) thuỷ
Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần

Viếng chùa Nam Hoa

Gậy tầm xích linh thiêng bay đến từ mấy trăm năm,
(Việc thừa kế) đèn nhang chùa Bảo Lâm hợp với nhân duyên trước.
Hàng rồng phục hổ, căn cơ thật thần diệu,
Không cây chẳng đài, lời nói vẫn tinh khôi.
Cạnh điện, dựng lầu để giữ gìn bát phật,
Trong khám, còn dấu tích thoát bỏ chân thân.
Trước cổng, dòng Tào khê tuôn chảy,
Rửa sạch bụi bặm nhiều kiếp nhân gian.

clip_image003
Lộ trình từ Ngô châu (Wuzhou) đến Thiều châu (Shaoquan nay) [bản đồ Google]

Chùa Nam Hoa thành lập năm 502 bởi sư Trí Nhạc Tam Tạng người Ấn Độ với tên ban đầu là Bảo Lâm. Năm 968 đời Tống Thái tông, Bảo Lâm được đổi thành Nam Hoa. Chùa hiện nay thuộc thị trấn Tào Khê, huyện Khúc Giang, thành phố Thiều Quan. Tu viện nổi tiếng khắp Đông Á vì là nơi phát sinh pháp tu đốn ngộ mới mẻ.

Bài thơ tựa đề “Viếng chùa Nam Hoa” nhưng thực ra chỉ đề cập các chi tiết liên quan đến vị tổ thứ sáu. Khi khai sơn, thầy Trí Nhạc đã tiên đoán một trăm bảy mươi năm sau sẽ có bậc thượng sư đến giảng pháp tại chùa. Câu 2 trình bày kết quả lời tiên đoán đó.

Huệ Năng (638 – 713) nhà nghèo, tự giác ngộ sớm khi còn bán củi để sinh nhai. Không hài lòng mức “ngộ” của mình, ngài tìm đến thầy Hoằng Nhẫn chùa Đông Sơn (huyện Hoàng Mai, Kỳ châu, Hồ Bắc) để học đạo. Huệ Năng được truyền y bát sau khi “triệt ngộ”. Vâng lời Ngũ tổ, ngài về phương nam ẩn thân gần mười sáu năm, sau đó tạm dừng chân tại chùa Pháp Tính (Quảng châu) theo lời mời của sư trụ trì Ấn Tông, rồi chuyển sang chùa Bảo Lâm. Nơi đây, ngài thành lập phái Thiền Nam tông.

Tương truyền, Lục tổ hàng phục được rồng cọp. Người bình dân thú vị về pháp thuật phi phàm, tuy nhiên, tu sĩ hiểu “rồng cọp” như sự “vọng động” của tâm. Xin nhắc lại công án nổi tiếng về lá phướn bay để hiểu phần nào cái “động” này: Hai v sư nhìn lá phướn bay, tranh cãi nhau. Mt v nói lá phướn đng, v kia nói gió đng. Lc t đi ngang nói chng phi phướn, chng phi gió, tâm đang đng.

Câu 4 đề cập bài kệ mà nhờ nó Huệ Năng được Ngũ tổ chọn làm truyền nhân. Vì bài kệ là đối ứng của một bài kệ khác viết bởi đại đệ tử Thần Tú, cũng là ứng viên kế thừa y bát, nên chúng tôi chép cả hai ra đây.

Nguyên văn kệ Thần Tú như sau:

身佀菩提樹
心如明鏡臺
峕时勤拂拭
莫使惹塵埃

Thân tự bồ đề thụ
Tâm như minh kính đài
Thời thời cần phất thức
Mạc sử nhạ trần ai

Thân tựa cội bồ đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn chăm quét dọn,
Chớ để bụi trần bám vào.

Nguyên văn kệ Huệ Năng như sau:

菩提本無樹
明鏡亦非臺
本來無一物
何處惹塵埃

Bồ đề bản vô thụ
Minh kính diệc phi đài
Bản lai vô nhất vật
Hà xứ nhạ trần ai

Bồ đề vốn không phải cây,
Gương sáng cũng chẳng phải đài.
Xưa nay vốn không phải vật,
Bụi bặm bám vào đâu!

clip_image004
Cổng chùa Ngũ tổ (Đông Sơn) với bài kệ Thần Tú bên trái, bài kệ Huệ Năng bên phải
http://www.zgfj.cn/lifec/d/file/dy/5/2013-04-20/d548b77cc47618ae4848977fc410e73f.jpg

Trong cảm nhận của Thần Tú, thân và tâm tồn tại dưới dạng tinh khiết trong suốt. Trong cảm nhận của Huệ Năng, thân và tâm đều là “không”. Sư phụ Hoằng Nhẫn chọn Huệ Năng vì biết đệ tử đã đạt mức khai ngộ cực cao.

Huệ Năng bãi việc truyền y bát nên khi ngài qua đời chúng tăng đưa bát khất thực và nhục thân(67) của ngài dưới dạng một bức tượng vào tháp Linh Chiểu靈炤 trong khuôn viên chùa Nam Hoa để thờ cúng. Tháp Linh Chiểu năm tầng nguyên thủy làm bằng gỗ được xây dựng dành riêng cho di tích Huệ Năng. Do hỏa hoạn, tháp được làm lại bằng đá và gạch vào đời Tống (960 – 1279). Thời điểm viếng Nam Hoa tự, Nguyễn thấy bức tượng mà ông gọi là “chân thân” trong tầng thấp nhất của ngôi tháp này.(68)

Nguyễn nhẹ nhõm khi viếng chùa, nhưng phải phiêu bồng tiếp vì ông đến Trung nguyên không để tìm thầy mà để tìm công danh.

Nguyễn sẽ đi thuyền đến thị trấn Nam Hùng, điểm cuối cùng chuỗi dịch trạm đường thủy. Từ đây, hành khách lên bộ vượt Ngũ Lĩnh đến Nam An, Giang Tây. Từ Nam An, lại dùng thuyền theo sông Cám đến Hồng Đô, thủ phủ Giang Tây.

Trên đèo Đại Dữu, Nguyễn Trãi có dịp viếng miếu thờ nhà nho lừng danh Trương Cửu Linh (678 – 740).

韶州文憲廟

反狀當年辨羯兒
至明先見若蓍龜
濟時儒術生平有
諫主忠言死後知
萬古不磨金鑑錄
千年猶享曲江祠
高風追想渾如昨
手拂青苔認古碑

Thiều châu văn hiến miếu(69)

Phản trạng đương niên biện yết nhi(70)
Chí minh tiên kiến nhược thi qui
Tế thì nho thuật sinh bình hữu
Gián chúa trung ngôn tử hậu tri
Vạn cổ bất ma kim giám lục(71)
Thiên niên do hưởng khúc giang từ(72)
Cao phong truy tưởng hồn như tạc
Thủ phất thanh đài nhận cổ bi

Miếu th ông Văn Hiến người Thiu châu

Xưa kia, cáo trạng tố phản chỉ rõ tên rợ Yết,
Trí sáng suốt tiên đoán mọi việc y như bói cỏ thi, mai rùa.
Lúc sinh thời, sở đắc nho thuật để giúp đời,
Sau khi mất, lời gián chúa của tôi trung mới được hiểu.
Muôn thuở, “kim giám lục” vẫn không mai một,
Nghìn năm, đền Khúc giang sẽ mãi khói hương.
Nhớ lại phong độ cao nhã, tưởng việc mới hôm qua,
Lấy tay phất rêu xanh săm soi bia cổ.

Văn Hiến là tên thụy của Trương Cửu Linh (678 – 740), chính khách kiêm nhà thơ đời Đường. Ông tự Tử Thọ, người Khúc giang, Thiều châu (thành phố Thiều Quan nay). Trương Cửu Linh hay chữ từ bé, nổi tiếng thần đồng. Ông đỗ Tiến sĩ năm 702, trải nhiều chức quan tại trung ương lẫn địa phương. Năm 732, thăng Trung thư Thị lang đồng Trung thư Môn hạ Bình chương sự. Năm sau, thăng Trung thư lệnh tức Tể tướng. Năm 735, gia phong Kim tử Quang lộc Đại phu, Thủy Hưng huyện bá.

Trương hiền minh, chính trực, hoài bão vì dân. Văn chương và nhân cách của ông nức tiếng đương thời. Từ lê thứ, đồng liêu đến hoàng đế đều ca ngợi “phong độ Cửu Linh”.

Về nhân sự, Trương chủ trương tuyển quan trên căn bản năng lực, đạo đức. Ông từng đề cử nhiều người về sau làm quan được tiếng thơm như Nghiêm Đình Chi, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên……Ông phản bác việc dùng Lý Lâm Phủ hoặc Trương Thủ Khuê làm Tể tướng, dâng sớ cảnh báo Đường Huyền tông về khả năng tạo phản của An Lộc Sơn. Cửu Linh thiếu thiện cảm với người kém nho học và giới quân nhân chuyên nghiệp.

Về quản trị xã hội, ông lập Thái Phỏng sứ ở mười đạo chuyên giám sát hoạt động quan lại cấp châu huyện nhằm khuyến thiện, trừng ác, tạo điều kiện cho dân đen nói lên oan khuất. Hơn nữa, ông đề xuất ít dùng hình phạt, giảm thống khổ cho phạm nhân. Mặt nông nghiệp được chú trọng. Cửu Linh soạn “Chế độ tịch điền” khuyến khích vua quan chủ động lễ cày mùa xuân làm gương khuyến nông cho cả nước. Ông trực tiếp chịu trách nhiệm trồng thử nghiệm lúa gạo ở bắc Ngũ lĩnh. Dù Trương trọng nghề nông hơn, nhưng chính ông mở rộng đèo Đại Dữu để tăng cường lưu thông hàng hóa từ Quảng châu đến Hoa Bắc và ngược lại. Quảng châu đương thời là trung tâm ngoại thương nhộn nhịp với thành phần cư dân gồm cả các thương nhân đến từ Tây Á, Nam Á và Đông Nam Á. Đại Dữu là chướng ngại cuối cùng của đường tơ lụa trên biển hướng đến Trường An. Thời ông làm tướng, dân chúng đầy đủ cơm ăn áo mặc.

Ngày 14/9/736, nhân sinh nhật Huyền tông, vương công đại thần dâng những tấm gương quý lên hoàng đế. Đây là loại bảo vật thịnh hành thời đó,[14] gương báu thâm nhập vào cả bài kệ Thần Tú trích dẫn bên trên. Khác mọi người, Trương Cửu Linh tiến vua quyển “Thiên thu(73) kim giám lục千秋金鏡錄”, Ghi chép v gương vàng nghìn năm. Quần thần, hoàng gia mong Huyền tông nhìn thấy dung mạo tôn quý của mình, Khúc giang nguyện vua nhìn thấy tâm mình. Hoàng đế ban chiếu thư cảm ơn và ngợi khen.

Sự giàu mạnh của đế quốc khiến Đường Huyền tông tự mãn. Nhà vua có xu hướng ngả sang hưởng thụ, xao lãng chính sự. Năm 737, do Lý Lâm Phủ sàm tấu, Trương Cửu Linh bị giáng làm Kinh châu Đại đô đốc phủ Trưởng sử. Năm 740, ông qua đời khi về quê Thiều châu trẩy mộ cha mẹ được vua truy tặng chức Kinh châu Đại đô đốc, thụy Văn Hiến. Năm 756, lúc chạy loạn An Lộc Sơn vào đạo Kiếm Nam (Tứ Xuyên, Trùng Khánh nay) rồi nhường ngôi cho thái tử, Huyền tông nhớ lại lời can gián xưa của Cửu Linh nên ban thư truy thưởng đồng thời cử người đến Thiều châu cúng viếng mộ ông.

Ngoài vai trò chính khách, Cửu Linh còn là một văn nhân thực sự tài hoa. Văn ông tải đạo, trình bày ý thức rõ ràng về trách nhiệm của nhà cầm quyền. Trong một bài thơ ứng đối với hoàng đế, ông viết:

每勞蒼生念
不以黃屋尊

Mỗi lao thương sinh niệm
Bất dĩ hoàng ốc tôn

Mỗi lần để dân lo lắng
Không xem ở nhà vàng là tôn quý

Theo ông, nếu dân không được ấm no hạnh phúc, thì người quản trị xã hội bất xứng với chức vụ và quyền lợi của mình.

Trong một bài chiếu viết nhân danh vua, ông khẳng định:

言念苍生必必遍于天下

Ngôn niệm thương sinh tất tất biến vu thiên hạ

Lời nói, ý nghĩ đều hướng về dân đen và phải phổ biến khắp thiên hạ

Hoặc:

以誠告示其或知歸何必用威然後致理?

Dĩ thành cáo thị kỳ hoặc tri quy hà tất dụng uy nhiên hậu trí lý?

Lấy lòng thành cáo thị dân sẽ hiểu mà theo về, hà tất dùng oai lực rồi sau đó lại dùng án?

Quan niệm thân dân của ông khiến nhiều chính trị gia “hiện đại” phải đỏ mặt.

Văn ông còn tải tình, loại tình vừa chân phương theo phong cách Hán Ngụy, vừa diễm lệ kiểu Lục triều. Dưới đây xin ghi lại bài “Vọng nguyệt hoài viễn 望月懷遠”, Ngm trăng nh người xa bất hủ của ông, một thủ lĩnh thi phái Lĩnh Nam:

望月懷遠[15]

海上生明月
天涯共此時
情人怨遙夜
竟夕起相思
滅燭憐光滿
披衣覺露滋
不堪盈手贈
還寢夢佳期

Vọng nguyệt hoài viễn

Hải thượng sinh minh nguyệt
Thiên nhai cộng thử thì
Tình nhân oán dao dạ
Cánh tịch khởi tương tư
Diệt chúc liên quang mãn
Phi y giác lộ ty
Bất kham doanh thủ tặng
Hoàn tẩm mộng giai kỳ

Ngắm trăng nhớ người xa

Trăng nhô rạng trên mặt biển
Khách chân trời cùng ngắm như ta
Tình nhân oán hận đêm xa cách
Mối tương tư tuôn trào suốt canh khuya
Tắt đèn vì thương ánh sáng tròn đầy
Choàng áo bởi biết sương ngấm ướt
Không thể vốc trăng tặng người
Quay về buồng ngủ để gặp nhau trong mộng

Lướt qua sự nghiệp Văn Hiến công, chúng ta phát hiện ngay cụ Trương chính là hình tượng nhà nho mẫu mực trong suy nghĩ của Nguyễn Trãi.[16]

過嶺

前崗日落馬虺隤
行盡梅關不見梅
夾道千松撐漢立
緣雲一路擘山開
長安日近聊舒目
故國天遙重感懷
唐相一從通此道
不知今幾百年來

Quá lĩnh

Tiền cương(74) nhật lạc mã hôi đồi
Hành tận mai quan(75) bất kiến mai
Giáp đạo thiên tùng xanh hán lập
Duyên vân nhất lộ phách sơn khai
Trường an(76) nhật cận liêu thư mục
Cố quốc thiên dao trọng cảm hoài
Đường tướng(77) nhất tòng thông thử đạo
Bất tri kim kỷ bách niên lai

Qua đèo

Mặt trời lặn nơi đồn canh phía trước, ngựa đã mỏi mệt,
Đến tận ải Mai lại chẳng thấy mai!
Ven lộ, nghìn cội tùng chống thẳng Ngân hà,
Nương mây, một lối đi chẻ xuyên qua núi.
Mặt trời Trường An gần gũi, tạm thư trông ngóng,
Quê cũ tít tắp chân mây, trĩu nặng cảm hoài.
Từ lúc tướng nhà Đường khai mở đường này,
Tới nay không biết mấy trăm năm rồi!

clip_image005
Mai quan nhìn từ phía Giang Tây. By Zhangzhugang – Own work, CC BY-SA 3.0
https://commons.wikimedia.org/w/index.php?curid=33050221

Nguyễn sáng tác bài này khi đứng ngay đỉnh đèo, nơi có cửa ải, chứ chưa xuống dốc vì tùng mọc ở nửa phía nam. Nửa phía bắc trồng mai đến nay hãy còn. Từ vị trí cao nhất, Nguyễn mường tượng thấy cả Trường An lẫn quê nhà.

Thời cổ, ải trên đèo mang tên Hoành Phố quan. Đèo được mở rộng vào năm Khai Nguyên IV (716) khi Cửu Linh còn giữ chức quan khiêm tốn thuộc sảnh Trung thư chứ chưa đảm trách vị trí Tể tướng. Bề rộng đường khoảng năm đến sáu mét, đến đời Tống mới lát đá. Trước đó, đèo nhỏ hẹp hơn nhưng không phải “dấu thỏ đường dê” như ta thường hình dung. Tống Chi Vấn (khoảng 660 – 712), khi vượt Mai Lĩnh năm 705 để đến nơi lưu đày từng viết “Độ lĩnh phương từ quốc, Đình diêu nhất vọng gia 度嶺方辭國停軺一望家,”[17] Qua đèo xem như cách lìa bn quán, Ngng xe ngóng mãi quê nhà. Cụ Tống du hành bằng “diêu 軺”, xe nga c nh, loại xe mà tùy tùng có thể khiêng qua những đoạn gập ghềnh.

Năm 1790, sứ giả Tây Sơn Phan Huy Ích (1751 – 1822) qua Đại Dữu đã sáng tác bài “Du Mai lĩnh 踰梅嶺” với cặp kết tình cờ gần giống hệt hai câu kết của Ức Trai trong bài “Thiều châu Văn Hiến miếu”. Để nổi rõ tâm tình Nguyễn Trãi, chúng tôi chép lại nguyên văn bài “Du Mai lĩnh” của Phan Huy Ích dưới đây để so sánh.

踰梅嶺[18]

舆志傳聞大庾梅
迂途今擁使旌來
痼根蔥蔚漫林長
寒磴岧嶢截嶺開
泉石生涼猿叫晚
海天渺望鴈飛迴
曲江風度高千古

Du mai lĩnh

Dư chí truyền văn đại dữu mai
Vu đồ kim ủng sứ tinh lai
Cố căn thông uất mạn lâm trưởng
Hàn đặng thiều nghiêu tiệt lĩnh khai
Tuyền thạch sinh lương viên khiếu vãn
Hải thiên diểu vọng nhạn phi hồi
Khúc giang phong độ cao thiên cổ
Tư dịch bi minh tỏa lục đài

Vượt Đèo Mai

Từng nghe sách địa dư nói về mai Đại Dữu,
Nay cầm cờ sứ vượt đường xa đến đây.
Cây lưu niên sinh trưởng tươi tốt khắp rừng,
Bậc đá lạnh vươn cao cắt xuyên qua núi.
Đá suối tỏa hơi mát, vượn kêu trong chiều,
Trời biển mênh mang, nhạn bay trở lại.
Phong độ Khúc giang nêu cao thiên cổ,
Lần dò đọc bài minh trên bia đá rêu phong.

Cụ Phan bình thản vượt đèo, có phần hãnh diện vì đến cửa ải nổi tiếng dưới cờ sứ giả. Ông chỉ hiếu kỳ tìm dấu vết vị tể tướng nhà thơ chứ không nghĩ ngợi nhiều. Tống Chi Vấn buộc phải qua đèo, cảm thấy vào cảnh khổ nên tâm tư chuyên chú ngày về. Nguyễn Trãi nửa mừng vì gần đến Kim Lăng, nửa hoài nhớ quê cũ nhưng chẳng tơ tưởng chuyện quay lui, có lẽ vì cuộc khởi nghĩa Hậu Trần đang nóng bỏng vào lúc đó. Phan Huy Ích thuộc về Đại Việt, ông miêu tả cảnh sắc bằng con mắt du lãm. Tống Chi Vấn thuộc Trung nguyên, ông òa khóc khi thấy loài hoa mọc rẽ về phương Bắc: “Lệ tận bắc chi hoa 淚盡北枝花.” [19] Nguyễn Trãi không thuộc đâu cả, ông nhớ An Nam nhưng mong tới Trường An. Lờ mờ nhận ra kiếp người uổng phí nhưng phải trôi theo thời cuộc, như một cánh bèo.

Động lực nào giúp Nguyễn kiên trì đi tới? Hai lần nhắc Trương Cửu Linh, Ức Trai tiết lộ giấc mơ Đại Minh của nhà du thuyết. Về già, cụ Nguyễn nhắc lại khát vọng xưa: “Cửu vạn đoàn phong ký tích tằng, Đương niên thác tỷ bắc minh bằng 九萬摶風記昔曾當年錯比北溟鵬,” Nh xưa tng cưỡi gió bay cao chín vn dm, By gi nhm so mình vi chim bng bin bc.

Bên kia đèo Mai không xa lắm là thành phố Giang Tây danh tiếng.

江西

自古鴻都稱勝地
今朝客裡暫相過
煙收南浦晴光好
日落西山暮景佳
告訐成風憐俗薄
詞章有學中科多
旌揚鐵柱今猶在
碑刻千年蘚已花

Giang Tây

Tự cổ hồng đô(78) xưng thắng địa
Kim triêu khách lý tạm tương qua
Yên thu nam phố(79) tình quang hảo
Nhật lạc tây sơn(80) mộ cảnh gia
Cáo kiết thành phong liên tục bạc
Từ chương hữu học trúng khoa đa
Tinh dương(81) thiết trụ(82) kim do tại
Bi khắc thiên niên tiển dĩ hoa

Giang Tây

Từ xưa, Hồng đô nổi tiếng là xứ của danh thắng,
Sáng nay, trên đường đi tạm ghé qua.
Khói ngừng trên Nam Phố, phong quang trong trẻo,
Mặt trời xuống Tây Sơn, đẹp cảnh hoàng hôn.
Kiện cáo thành thói quen, thương phong tục bạc!
Nghiệp từ chương theo đuổi, nhiều người khoa cử thành danh.
Nay hãy còn trụ sắt Tinh Dương,
Bia khắc nghìn năm rêu lốm đốm.

Danh thắng bậc nhất của Hồng đô đối với văn nhân như Nguyễn Trãi là gác Đằng vương. Tiếng tăm tòa lầu truyền xa nhờ kiệt tác “Đằng vương các tự 滕王閣序” của Vương Bột (650 – 676), trong đó có hai câu “Họa đống triêu phi nam phố vân, Châu liêm mộ quyển tây sơn vũ 畫棟朝飛南浦雲珠簾暮捲西山雨,”[20] Sáng sm, mây t bến nam bay vn mái lu chm tr; Chiu ti, cun rèm châu ngm mưa núi tây. Lầu xưa chỉ còn phế tích vào thời điểm tác giả ghé Nam Xương. “Giang Tây” vắng bóng cả Vương Bột lẫn tòa lầu, riêng “tây sơn – nam phố” vẫn như cũ. Nguyễn miêu tả sức thời gian công phá theo cách rất đặc thù.

Tương tự Nguyễn Trãi, dân Trung Hoa hiện đại vẫn chê người Giang Tây hay cãi cọ. Thói quen kỳ khôi có thể là hậu quả dai dẳng của mâu thuẫn giữa những nhóm dân di cư về phương nam qua từng giai đoạn khác nhau. Ham cãi vã nhưng lại dựa vào luật pháp bởi dân chúng Giang Tây thấm đẫm truyền thống văn hóa đáng nể. Đây là quê quán, nơi quy ẩn hay làm việc của nhiều danh sĩ như Đào Tiềm (365-427), Lý Bột (? – 831), Âu Dương Tu (1007 – 1072), Vương An Thạch (1021 – 1086), Chu Hy (1130 – 1200), Văn Thiên Tường (1236 – 1283)… Lý Bột là người khai sinh Bạch Lộc động, một trường học địa phương thuộc khu vực Lư Sơn, huyện Cửu Giang. Đời Nam Đường (937 – 975), tại địa điểm này, triều đình thành lập Bạch Lộc quốc tường, tức Lư Sơn quốc học. Sang thời Bắc Tống (960 – 1127), Thái tông (976 – 997) nâng cấp Bạch Lộc quốc tường thành Bạch Lộc động thư viện, một trong sáu trung tâm giáo dục lớn nhất Trung Hoa thời bấy giờ. Tuy nhiên, khi Bắc Tống suy yếu, thư viện bị bỏ bê. Đời Nam Tống, nhân dịp nhậm chức tại Nam Xương giai đoạn 1179 – 1181, Chu Hy cho tu sửa Bạch Lộc động thư viện. Thư viện không chỉ tàng trữ thư tịch mà còn là nơi tế lễ, nghiên cứu giáo dục, và là điểm giảng thuyết của nhiều tên tuổi lớn như Lục Cửu Uyên (1139 – 1192), Lữ Tổ Khiêm (1137 – 1181)…. Nhờ nền móng đặt bởi thầy Chu, Tống nho hùng cứ Giang Tây suốt tám thế kỷ. Nhiều thư sinh thành công khoa cử là hoa trái sản sinh từ vùng đất của danh sư, danh tường.

Ngoài Nho học, Đạo giáo cũng rất xương thịnh tại Hồng châu. Hứa Tinh Dương là tổ sư chi phái Đạo giáo khởi thủy mang tên Hiếu đạo. Tương truyền, ông thành tiên rồi bay lên trời cùng toàn bộ gia đình, nhiều đệ tử và cả gia súc trong nhà. Một người cháu dựng ngôi đền tên Du Duy dưới chân Tây sơn, trên nền nhà cũ, để tưởng niệm ông. Hiếu đạo được nhiều đời vua Đường-Tống bảo trợ. Năm 1010, Tống Chân tông đổi tên “Du Duy quán” thành “Ngọc Long cung”. Năm 1116, Tống Huy tông, ban thêm mỹ tự Vạn Thọ nên ngôi đền trở thành “Ngọc Long Vạn Thọ cung”. Về sau, giáo lý Hiếu đạo được bổ sung thêm khái niệm “trung” để hình thành Tịnh Minh Trung Hiếu đạo.[21] Thời điểm Nguyễn Trãi du hành Giang Tây, Ninh vương Chu Quyền (1378 – 1448), em trai Minh Thành tổ Chu Đệ, người góp công sức đáng kể giúp Yên vương tranh đoạt ngôi vua của Kiến Văn đế, đã nhận Nam Xương làm thực ấp. Ninh vương mến mộ Đạo giáo từ trẻ, về cuối đời, ông trở thành tín đồ của Tịnh Minh đạo và dành nhiều thời gian tu luyện tại Thiên Bảo động thuộc khu vực Tây sơn. [22]

Chúng ta đã cùng Nguyễn Trãi ghé thuyền vào năm dịch trạm trên đất Trung Hoa. Thông thường vào thời điểm bắt đầu mỗi chuyến phiêu lưu, tâm trạng con người rất phấn khích. Như vậy, khi vượt mười ba trạm dịch từ Đông Quan đến Hoành châu trước đó ít lâu, Nguyễn Trãi có phóng bút tác phẩm nào không? Xét kỹ tập hợp thơ chữ Hán Ức Trai, chúng tôi thấy có. Các bài “Quan hải 關海”, “Bạch Đằng hải khẩu 白藤海口”, “Vân Đồn 雲屯” đều được viết ra nhân chuyến hành trình này. Chúng rất quan trọng vì lúc rời An Nam, Nguyễn tổng kết những gì vừa trải nghiệm để dứt áo hướng về chọn lựa mới.

關海

樁木重重海浪前
沉江鐵鎖亦徒然
覆舟始信民猶水
恃險難憑命在天
禍福有媒非一日
英雄遺恨幾千年
乾坤今古無窮意
卻在滄浪遠樹煙

Quan hải

Thung mộc trùng trùng hải lãng tiền
Trầm giang thiết tỏa diệc đồ nhiên
Phúc chu thủy tín dân do thủy(83)
Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên
Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
Anh hùng di hận kỷ thiên niên
Càn khôn kim cổ vô cùng ý
Khước tại thương lang viễn thụ yên

Đóng ca bin

Trước sóng biển, đóng cọc gỗ hết lớp này đến lớp khác,
Lại đặt ngầm xích sắt dưới sông, đều uổng công thôi!
Bị lật thuyền mới biết dân như nước,
Đã cậy thế hiểm thì khó tựa mệnh trời.
Họa phúc có duyên đâu phải chợt đến trong ngày,
Anh hùng đành lưu hận mấy nghìn năm.
Ý vô cùng của thiên địa xưa nay,
Hiện ra nơi sương khói trên hàng cây xa bên dòng nước.

Theo lộ trình đề xuất bởi Hoàng Phúc, có thể suy đoán Nguyễn Trãi đã ra biển theo tuyến sông Hồng – sông Đuống – sông Kinh Thầy – sông Giá (hoặc Đá Bạc) – sông Bạch Đằng.(84) Chuyến đi được thực hiện chưa lâu sau trận chiến năm 1407 lúc dấu tích công trình phòng thủ còn rõ nét. Bốn câu đầu, Nguyễn khẳng định “địa lợi” chỉ là một yếu tố để tiến hành chiến tranh, nhà Hồ thiếu quan tâm “nhân hòa” và “thiên thời” nên thất bại. Trước kia, qua Bạch Đằng giang phú, Trương Hán Siêu từng khẳng định tương tự khi cho rằng quân Trần đại thắng không chỉ do “quan hà chi hiểm 關河之險” tức địa thế hiểm trở, mà còn do “ý đức chi mạc kinh 懿德之莫京” tức đức độ lớn lao của lãnh đạo. Trong kết luận, ngoài “quan hà” Trương nhắc “ý đức” thay vì nhắc “trời” hay “người”; có lẽ theo ông, đức lớn khiến hai vua Trần thuận lòng trời, được lòng người. Ý tứ và ngôn từ bài Quan hải cho thấy Nguyễn Trãi liên tưởng bài phú Thăng Phủ, nhưng ông nhấn mạnh trục thiên-địa-nhân hơn. Vì sao? Vì Nguyễn muốn biện minh hành động của mình. Ông phải tìm lối đi khác bởi nhà Hồ thờ ơ với dân mà đánh mất “thiên mệnh”. Ai cấm nhà nho từ bỏ một triều đại như thế?

Trình diện người Minh, Nguyễn Trãi hội nhập trở lại với cộng đồng ưu tú tại Đông Quan. Có lẽ nhờ tận mắt chứng kiến cảnh gần như toàn bộ nho sĩ An Nam hợp tác với chính quyền mới, Nguyễn đã nhận thức lại hoạt động của họ Hồ. Cải cách cấp tốc thiếu cơ sở ủng hộ từ các tầng lớp xã hội, đặc biệt từ địa chủ hào trưởng và trí thức, khiến Đại Ngu đổ vỡ nhanh chóng dưới áp lực bên ngoài lẫn bên trong. Sau chiến bại, dân trại chỉ nhớ nhà Trần, dân kinh lộ ngả theo Hoàng Phúc. Lòng trung từng giữ với họ Hồ dần biến thành hoài niệm. Chính Phi Khanh đã quay lưng với chủ trong giờ phút nguy cấp nhất, hành động của phụ thân ít nhiều tác động đến tinh thần người con hiếu thảo. Dùng danh hiệu “anh hùng” tôn vinh Hồ Quý Ly, trong thực chất Nguyễn xác định chúa cũ chưa xứng bậc vương giả. Nhà nho giữ lòng trung với một hoàng đế thụ mệnh trời, ai lại trung với vị anh hùng trơ vơ trên đầu dân chúng? Phê phán họ Hồ tích họa, Nguyễn hành động như nhân vật chịu báng trong “Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra!” Nhưng thay đổi nhận thức có gì sai? Trời đất ngụ ý vô cùng trong làn khói. Không-có-hợp-tan, biến chuyển thiên hình vạn trạng chỉ là vận động bình thường của vũ trụ, gồm cả tâm lý con người.

白藤海口

朔風吹海氣凌凌
輕起吟帆過白藤
鱷斷鯨刳山曲曲
戈沉戟折岸層層
關河百二由天設
豪傑功名此地曾
往事回頭嗟已矣
臨流撫景意難勝

Bạch Đằng hải khẩu

Sóc phong xung hải khí lăng lăng(85)
Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng
Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc
Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng
Quan hà bách nhị(86) do thiên thiết
Hào kiệt công danh thử địa tằng
Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ
Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Ca bin Bch Đng

Gió bấc dậy biển, khí thế lồng lộng,
Nhẹ dương buồm thơ lướt qua Bạch Đằng.
Núi khúc khuỷu như sấu bị chặt, kình bị mổ,
Bờ lau trùng điệp tựa kích gãy, giáo chìm.
Trời đặt chỗ hiểm, hai người chống được trăm người,
(Nên) Đất này từng là chỗ hào kiệt lập công danh.
Quay đầu lại, than ôi, việc cũ qua rồi!
Đến dòng nước viếng cảnh, ý khôn tả xiết……

Bài này có thể ví như “Bạch Đằng giang phú” thu nhỏ. Để rõ hơn nguồn hứng của Nguyễn, xin ghi lại nguyên văn các đoạn tương quan dưới đây. Trương Hán Siêu tả cảnh hai bên bờ: “Chử địch ngạn lô sắt sắt sưu sưu, chiết kích trầm giang khô cốt doanh khâu 渚获岸蘆瑟瑟颼颼折戟沉江枯骨盈邱,”[24] bãi lách b lau rì rào xào xc, giáo gãy chìm xung sông, xương khô đy gò. Nguyễn hình dung đồi núi như đống xác giặc hay xác thuyền, bờ lau lách tiêu điều như đống thương chìm giáo gãy chồng chất. So sánh như thế hoàn toàn giống ý Hán Siêu. Về nguyên nhân chiến thắng của Hưng Đạo vương, Trương cho rằng: “Tín thiên tiệm(87) chi thiết hiểm, Lại nhân kiệt dĩ điện an 信天塹之設險 賴人傑以奠安,”[25] tht là: hào tri to him, li nh: người tài đnh an. Hai câu 5, 6 tương ứng của Nguyễn Trãi dẫn đến câu hỏi lớn: Trần thành công nhờ khai thác thế hiểm tự nhiên, tại sao Hồ thất bại?

Với Hán Siêu, dĩ vãng chiến thắng còn mãi: “Anh phong khả tưởng, khẩu bi bất san. Hoài cổ nhân hề vẫn thế, lâm giang lưu hề hậu nhan 英風可想口碑不刊懷古人兮隕涕臨江流兮厚顏,”[26] Anh hùng đáng tưởng, bia ming chăng mòn. Nh người xưa mà l rơi, nhìn dòng sông mà mt. Với Ức Trai thì ngược lại, vãng sự thành-bại vĩnh viễn trôi qua. Muốn hiểu hai chữ “dĩ hĩ 已矣” trọng lượng đến mức nào hãy đọc Nguyễn Du: “Phúc bồn dĩ hĩ nan thu thủy, Đoạn ngẫu thương tai vị tuyệt ti 覆盆已矣難收水斷藕傷哉未絕絲,”[27] Nước đ ri, vét làm sao? Ngó sen dù đt tơ nào còn vương! Nhóm Hậu Trần ở Thanh Nghệ làm được gì? Họ chưa giết hết người Minh đã quay sang giết người Việt. Nhóm tinh hoa đồng bằng làm được gì? Họ lũ lượt kéo sang Kim Lăng khiến cả nước hầu như trống rỗng. Bản thân Nguyễn làm được gì? Lặng lẽ lên thuyền đến Trung Hoa như nhiều trí thức khác! Người Nam còn cơ may nào khẳng định vận mệnh riêng của mình? Nguyễn không diễn tả bằng lời, nhưng hành động phát đi tín hiệu rằng: theo ông, lịch sử đã sang trang.

雲屯

路入雲屯山復山
天恢地設付奇觀
一盤藍碧澄明鏡
萬斛鴉青鬌翠鬟
宇宙頓清塵海岳
風波不動鐵心肝
望中岸草萋萋綠
道是藩人駐舶灣

Vân đồn

Lộ nhập vân đồn san phục san
Thiên khôi địa thiết phó kỳ quan
Nhất bàn lam bích trừng minh kính
Vạn hộc nha thanh đóa thúy hoàn
Vũ trụ đốn thanh trần hải nhạc
Phong ba bất động thiết tâm can
Vọng trung ngạn thảo thê thê lục
Đạo thị phiên nhân trú bạc loan

Vân Đn

Đường vào Vân Đồn núi lại tiếp núi,
Đất trời mênh mông ban tặng cảnh quan diệu kỳ.
(Mặt biển) tựa cái mâm màu biếc trong vắt như gương,
(Hòn đảo) xanh đen to vạn hộc trông giống búi tóc màu thúy.
Vũ trụ hốt nhiên quét sạch biển núi bụi bặm,
Sóng gió không lay động tâm can kiên cường.
Nhìn vào bờ thấy cỏ xanh tươi tốt,
Nghe nói đó là vụng đỗ thuyền của người Phiên.

Văn khí “Quan hải”, “Bạch Đằng hải khẩu” và “Vân Đồn” là như nhau. Ngôn từ rắn rỏi, nhẹ nhõm, ngẫm nghĩ quá khứ nhưng hướng đến ngày mai cho thấy tác giả đương tuổi cường tráng. Dựa vào thông tin nghèo nàn lưu lại, có thể suy đoán Nguyễn theo dòng Bạch Đằng ra biển vào các dịp: lẫn tránh Hậu Trần ở Đông Triều (1407 – 1410), sang Kim Lăng trình diện (khoảng 1410 – 1411), vua Thái tông phục chức (1439 – 1442). Tâm thức bình an, tận hưởng thú vị du hành cho phép loại trừ thời điểm sáng tác trong ray rứt sợ sệt quãng 1407 – 1410. Ngoài khí văn cứng cỏi, các yếu tố như cọc gỗ cản đường thủy quân Minh còn trùng điệp ngay cửa biển, ký ức xốn xang về nhà Hồ hãy tươi rói, kiến thức non nớt về vị trí đậu thuyền nước ngoài ở Vân Đồn… cho phép bỏ qua thời điểm sáng tác trong quãng 1439 – 1442. Tự nhủ sóng gió không lay động được tim gan bằng sắt thể hiện chí cương quyết tìm cơ hội từ triều đình nhà Minh của Nguyễn. Lựa chọn như thế vì lộ trình trước mặt nhà thơ không có ngả ba.

Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi được thu thập từ rất sớm bởi rất nhiều người như: Phan Phu Tiên (thế kỷ XV), Trần Khắc Kiệm (thế kỷ XV), Dương Đức Nhan (thế kỷ XV), Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII), Dương Bá Cung (thế kỷ XIX)…. Qua lời dẫn Ức Trai thi tập, Dương Bá Cung cho biết ông tham khảo Tinh tuyển (Dương Đức Nhan), Việt âm (Phan Phu Tiên) và Toàn Việt thi tập (Lê Quý Đôn) để làm sách. Sang thế kỷ XX, nhiều người hay nhóm đã dịch hoặc biên tập các bản dịch thơ Ức Trai, tiêu biểu nhất có nhóm Phan Võ-Lê Thước-Đào Phương Bình (1962), Đào Duy Anh (1969), Hoàng Khôi (1972), Bùi Văn Nguyên (1994), nhóm Mai Quốc Liên (1998)… Trong đó, hai nhóm Phan-Lê-Đào và Mai Quốc Liên xếp các bài thơ có yếu tố liên quan đến Trung Quốc vào diện tồn nghi vì sử liệu chính thức hay dân gian, thậm chí gia phả, đều không đề cập sự kiện Nguyễn Trãi sứ Hoa. Cụ Đào Duy Anh dù tin Nguyễn xuất ngoại nhưng dè dặt xếp các bài tồn nghi vào mục riêng, đoán là sáng tác khi sang Trung quốc.

Hoàng Khôi biên dịch Ức Trai thi tập theo thứ tự sắp đặt bởi Dương Bá Cung, Bùi Văn Nguyên sau khi bổ sung các bài mới do ông phát hiện vẫn xếp theo thể loại. Hai vị không ngờ vực gì về các bài thơ sáng tác trên đất Trung Hoa. Thao tác như Hoàng Khôi hay Bùi Văn Nguyên tuy đơn giản nhưng ít cảm tính hơn vì nếu chỉ đặt niềm tin vào sử liệu sẵn có mà xem nhẹ bản thân thi phẩm thì việc xếp đơn vị thơ nào vào diện tồn nghi thiếu căn cơ vững chắc. Phân loại thơ sáng tác theo từng thời kỳ như cụ Đào càng mông lung bởi chưa xác lập tương đối chuẩn xác tiểu sử tác giả. Oliver William Wolters (1915 – 2000) từng có ý kiến sáng suốt khi xem thơ Việt thế kỷ XIII, XIV như nguồn sử liệu chớ nên bỏ qua,[28] nhưng chỉ vì tin vào phân kỳ của Đào Duy Anh mà bình giải mười một bài thơ chữ Hán Nguyễn Trãi trong lầm lạc.[29] Chúng ta đã biết, thư tịch Đại Việt hoàn toàn không ghi nhận sự kiện Ứng Long làm quan nhà Trần và từng được vua Trần cử đi sứ Minh; thơ văn Nhị Khê lưu truyền cũng đủ mơ hồ trên hai việc này. Cho đến nay, tất cả bài viết về thân phụ Nguyễn Trãi đều cho rằng cụ chỉ ra làm quan dưới đời Hồ. Tuy nhiên, Minh Thực lục lại chép Ứng Long đến Nam Kinh với tư cách phó sứ năm 1396, triều vua Trần Thuận tông, khi đang nhiệm chức Thiếu trung Đại phu.

Có bài lấn cấn nổi cộm như “Đồ trung ký hữu 途中寄友”, hay “Quá hải 過海”. “Đồ trung ký hữu” còn được chép trong thi tập khác với chút dị biệt và được cho là của Hồ Xuân Hương; ngoài ngôn từ khuôn sáo nghèo nội dung, hoàn cảnh tác giả nếu xét chi li, không tương hợp cuộc đời Ức Trai. “Quá hải” có lẫn một câu lấy từ bài thơ Lê Lợi cho khắc trên vách núi Hào Tráng (Hòa Bình nay) vào năm 1432. Hành động đưa thơ vua vào thơ mình khó thể xảy ra trong sinh thời Nguyễn Trãi. Hoặc ngược lại, nếu thơ Hào Tráng do Nguyễn Trãi soạn theo mệnh, ông không thể mang câu thơ đã dâng vua gắn vào thơ riêng. Cụ Đào có lý khi cho rằng “Đề Lư thị gia phả 題盧氏家譜”, “Lam quan hoài cổ 藍關懷古” là thơ người khác lẫn vào vì ý tứ, ngôn ngữ lạ lẫm so với phong cách nghệ thuật Ức Trai. Nhưng “Tặng Khổng Nhan Mạnh tam thị tử tôn Giáo thụ Thái Bình 贈孔顏孟三氏子孫教授太平”, “Thiều châu tức sự 韶州即事” hay “Đề Nam Hoa thiền phòng 題南花禪房” lại không nằm ngoài luồng thơ chung. Nhiều yếu tố cấu thành ba đơn vị thơ này cũng xuất hiện trong các bài thơ khác. Chúng tôi tránh dùng “Đồ trung ký hữu”, Quá hải”, “Đề Lư thị gia phả”, “Lam quan hoài cổ” làm cơ sở để phân tích tâm lý Ức Trai vì thận trọng, cũng vì sợ lạc đường. Tuy nhiên, vô số việc phải làm để kết luận chúng không do Nguyễn Trãi sáng tác. Cần thêm nhiều chứng cứ, nhiều thao tác chứng minh trên nhiều phương diện mới đạt kết quả thuyết phục. Theo thiển ý, nên dựa vào thơ văn Ức Trai để tái dựng tiểu truyện của ông thay vì dựa vào tư liệu lịch sử thiếu thốn để hoài nghi nguồn gốc số tác phẩm nào đó. Không có cơ sở để khẳng định chính sử hay dã sử đáng tin cậy hơn các tác phẩm từ lâu được cho là viết bởi Ức Trai, nếu không muốn nói ngược lại. (88) Từ tiểu truyện gần đúng, việc thẩm định, luận giải gia tài Nguyễn Trãi sẽ thuận lợi hơn.

Chúng tôi cân nhắc nhiều mới tuyển lựa, dịch xuôi dăm bài thơ được viết trong chuyến du hành Trung Hoa. Cách dùng từ, nguồn cảm hứng, lối ẩn dụ, cấu trúc …, nói rộng hơn là thi pháp, cho thấy chuỗi sáng tác nằm trong một mạch nghĩ, một mạch thơ và cụ thể hơn là một mạch đường. Nghi thức trang trọng đón tiếp khách An Nam vắng mặt trong các ghi chép, thay vào đó là hình ảnh sầu tư của chòi canh, hoặc âm thanh dễ gây xúc động của trống trận, tù và. Vài điểm nhấn tuy nhỏ nhưng đủ thể hiện Nguyễn không mang thân phận sứ thần, cũng không đi lại quá tự do tới mức chệch khỏi các dịch trạm quản lý bởi dân binh địa phương. Cách di chuyển phù hợp hoàn cảnh thổ quan An Nam cầm giấy khám hợp sang trình diện bộ Lại ở Kim Lăng. Thế kỷ XX khó tưởng tượng các chuyến đi như thế vì chúng chỉ xảy ra trong thời đoạn rất ngắn so với lịch sử ngàn năm tự chủ của người Nam. Chúng tôi chẳng đắn đo khi xem các bài thơ bên trên là của Ức Trai vì thiếu hẳn cơ sở để nói ngược lại, chỉ thắc mắc vì sao thơ làm bên chính quốc sót lại ít đến vậy. Theo thông tin từ các văn bản do chính ông viết, như một dạng nhật ký, Nguyễn rời Giao Chỉ khoảng năm 1410 và hồi hương năm 1417. Trừ thời gian đi, về nhiều nhất hai năm, ông còn đến năm năm sống, làm việc trong lòng mẫu quốc. Với bút lực dồi dào, trái tim nhạy cảm và kỹ năng ngôn ngữ tuyệt vời, chắc chắn suốt thời kỳ lưu lạc Nguyễn từng viết số lượng thơ gấp nhiều lần số lượng cảm tác trên đường đi. Trong bài “Thanh Minh”, sáng tác dọc hành trình về An Nam, Ức Trai bắt chước Thiếu Lăng gượng uống rượu để vơi nỗi nhớ nhà. Điều đó cho thấy dù chức phận chưa cao nên không được sử Minh phản ánh việc bổ nhiệm hay điều chuyển, Nguyễn vẫn có cuộc sống an toàn, trên mức nghèo kiết. Văn nhân họ Nguyễn bình yên với sách vở tùy thân, duyên do gì chỉ còn sót mươi đơn vị thơ trong đó chẳng bài nào thể hiện công việc thực tế của tác giả? Theo thiển ý, đa phần thơ Ức Trai sáng tác tại Trung nguyên đã bị tiêu hủy có chủ định. Ai thực hiện việc đó, vì mục đích gì xin được bàn sau.

Có lẽ không phải tình cờ, ba nhân vật xuất hiện trong nhật ký hành trình lại đại diện cho ba dòng tư tưởng hình thành phẩm chất người trí thức Nguyễn Trãi. Đại sư Huệ Năng thuộc dòng Phật, Tể tướng Trương Cửu Linh dòng Nho, mờ nhạt hơn có Chân quân Hứa Tốn dòng Đạo.

Giữa Huệ Năng, Văn Hiến và Ức Trai có điểm nào chung? Xin thưa có. Cả ba đều người Lĩnh Nam, Huệ Năng gần Nguyễn hơn vì ông có ngoại hình và tiếng nói khác với đồng đạo. Văn Hiến quê ở Thiều châu là vùng hẻo lánh đời Đường, thời điểm đa số đại quan triều đình gốc từ Hoa Bắc. Cả hai đều thành công vượt bậc, được dân Hoa Hạ kính thờ. Nhắc đến hai vị, Nguyễn củng cố lòng tự tín kèm kỳ vọng trước tương lai. Đặc biệt, “gã mọi rợ” Huệ Năng đủ sức tế độ dân Hán, người Giao áo mũ như Nguyễn lẽ nào lại không!

Giữa Huệ Năng, Tinh Dương và Ức Trai có điểm nào chung? Xin thưa có. Hai vị giáo chủ đều thủ đắc tài nghệ hàng phục quái vật sống dưới nước. Truyền thuyết “hàng long” hình tượng hóa đại công khắc chế tình trạng lụt lội thường xuyên tại đại vực nam Trường giang. Từ khía cạnh tôn giáo, đó là khả năng điều hướng cái tâm để tiếp cận bất diệt. Với một nhà nho như Nguyễn, câu chuyện mang thông điệp gì ? Phải chăng là biểu trưng của nỗ lực phi thường để phụng sự, với cứu cánh đưa bách tính đến đài xuân? Nó phù hợp lý tưởng “bảo dân nhi vương 保民而王”,[30] che ch dân đ làm vua của Mạnh tử mà Nguyễn tâm đắc.

Xét vị thế ở triều đình và năng lực hoạt động bao quát, Nguyễn Trãi không bằng Trương Cửu Linh. Chức danh cao nhất của Nguyễn là Đồng Trung thư lệnh, vị trí thứ hai trong Trung thư sảnh. Nếu quan Bình Chương từng hoạt động kinh tế hay quân sự, thì Nguyễn chỉ chuyên chú vào soạn thảo văn thư hay các việc liên quan đến văn hóa-giáo dục. Tuy vậy, phong cách hai vị chẳng khác gì nhau. Cả hai đều thúc giục hoàng đế thi hành nhân chính, đều quan niệm nhà cầm quyền phải đảm bảo cuộc sống ấm no cho mọi người, và đều đặt niềm tin không điều kiện vào bản chất thiện lương của dân chúng.

Chú thích:

(52) Tam đông: ở đây chỉ tháng thứ 3 mùa đông, tức tháng chạp. Mùa đông sắp hết nên tác giả sợ cảnh đón Tết xứ người trong câu 5.
(53) Nguyên văn: 除授教官黎景恂等緣是土人誠恐徒上虛文未見實效乞選老成有學堪為師範者典教俾其子弟習知中國禮義. (Minh Thực lục I, 882)
(54) Nguyên văn: 其詞鄙俚可憎. (Minh Thực lục II, 572)
(55) Thơ Nguyễn Tịch (210 – 263): “Dạ trung bất năng mị…Ưu tư độc thương tâm 夜中不能寐….憂思獨傷心,” Gia đêm không ng được Lo nghĩ thương tâm riêng mình.
(56) Bình Nam: nay là huyện Bình Nam, trực thuộc thành phố Quế Cảng, Khu tự trị Quảng Tây.
(57) Quán : có lẽ dùng chữquán 觀” thì chuẩn hơn.
(58) Ngô châu, nay là thành phố trực thuộc Khu tự trị Quảng Tây, có núi tên Bạch Hạc gần cửa sông Quế đổ vào sông Tầm. Bạch Hạc sơn và Bạch Hạc quán tựa lưng vào núi giờ đã thành địa điểm du lịch. Lâm quán có thể chính là Bạch Hạc quán xưa.
(59) Câu chuyện dường như thất truyền. Ngô châu hiện có trại nuôi rắn rất lớn, âm vang của vùng đất từng sinh sôi nhiều rắn, kèm theo nhiều huyền thoại về rắn.
(60) Hỏa sơn: núi Tây Nham, ở phía nam Ngô châu, hiện vẫn là thắng cảnh thu hút du khách. Tương truyền, hoàng đệ vua Nam Việt Triệu Đà chôn kiếm trên núi, thỉnh thoảng gươm báu tỏa hào quang về đêm nên người địa phương gọi Tây Nham là núi lửa.
(61) Băng tỉnh: còn gọi là “băng tuyền”. Nay là công viên sinh thái cách trung tâm Ngô châu khoảng 120km.
(62) Tích: gậy bằng thiếc tra vòng kim loại dùng để đi khất thực.
(63) Kham: tầng thấp nhất của tháp Phật, hoặc trang thờ Phật.
(64) “Thoát 脫” không phù hợp thực tế bằng chữ “thuế 蛻”, thoát xác.
(65) Chân thân: thân xác thế gian của bậc giác ngộ.
(66) Tào Khê: tên dòng suối chảy trước cổng chùa.
(67) Huệ Năng sở đắc nhục thân “kim cương bất hoại”. Sau thị tịch, thân thể ngài chỉ khô dần chứ không phân hủy. Ở chùa Đậu (Hà Nội), có hai tượng nhục thân tương tự của hai vị sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường (thế kỷ XVII). Ở Buryatia (Nga), cũng có tượng nhục thân của Lạt ma Dashi-Dorzho Itigilov (thế kỷ XX).
(68) Hiện nay, tượng Huệ Năng được dời sang kiến trúc mới, chưa xuất hiện lúc Nguyễn du hành, gọi là điện Lục tổ. Điện dành chỗ thờ thêm tượng chân thân của hai vị trụ trì thời Minh là Đan Điền Đại sư (1535 – 1614) và Hàm Sơn Đức Thanh (1546 – 1623).
(69) Miếu Văn hiến: tưởng niệm Trương Cửu Linh, tể tướng nhà Đường, tước hiệu Thủy Hưng Văn Hiến bá. Miếu được dựng trên Mai lĩnh để ghi công ông mở rộng đường đèo.
(70) Yết nhi: chỉ An Lộc Sơn (703 – 757), có mẹ người Đột Quyết, gây nên loạn An Sử dưới đời Đường Minh hoàng.
(71) Kim giám lục: tức Thiên thu kim giám lục, quyển sách Cửu Linh viết làm quà tặng sinh nhật Đường Huyền tông năm 736. Sách bàn luận thịnh suy đời xưa, lấy xưa làm gương soi đời nay.
(72) Khúc giang từ: khu vực đền thờ họ Trương, gồm cả mộ phần của ông cùng nhiều người thân thích. Đền nằm ở chân núi La Nguyên động, huyện Trinh Giang, thành phố Thiều Quan.
(73) Thiên thu là tên lễ hội mừng sinh nhật hoàng đế tổ chức theo sáng kiến của Tể tướng Trương Thuyết (663 – 730) và triều thần . Hội Thiên thu đầu tiên khai mạc vào ngày 5 tháng 8 năm Khai Nguyên XVII (729).
(74) Cương: đồn canh. Nguyễn Trãi nhận xét ngựa kiệt sức vừa lúc tới đỉnh đèo.
(75) Mai quan: Trương Cửu Linh (678 – 740) khi mở rộng đèo đã trồng nhiều mai bên đường nên dân gian lấy tên hoa làm tên cửa ải. Người đời Tống thay mai bằng tùng ở sườn phía nam.
(76) Trường An: chỉ Kim Lăng, kinh đô nhà Minh đương thời.
(77) Đường tướng: chỉ Trương Cửu Linh.
(78) Hồng đô: nay là thành phố Nam Xương, thủ phủ tỉnh Giang Tây.
(79)(80) Nam phố, tây sơn: hai địa điểm được Vương Bột đề cập trong “Đằng vương các tự”. Nam phố có lẽ là bến thuyền chính của thành phố, tây sơn có thể là cụm núi ngày nay mang tên Mai lĩnh, nằm về phía tây trung tâm Nam Xương khoảng 15km. Ở đây, Nguyễn Trãi gián tiếp nhắc đến danh thắng Gác Đằng vương và câu chuyện chàng thanh niên họ Vương làm kinh động quan khách dự lễ khánh thành tòa lầu mới tu sửa.
(81) Tinh dương: tức Hứa Tốn (239 – 336), tự Kính Chi, người đời Đông Tấn (317 – 420). Ông sáng lập Tịnh Minh đạo, một dạng Đạo giáo tiếp thu nhiều yếu tố từ Nho giáo và tín ngưỡng dân gian. Tinh Dương là tên huyện (nay thuộc Tứ Xuyên) nơi Hứa Tốn làm quan cai trị rất thành công. Ông được đời sau tôn mỹ hiệu “Hứa chân quân” hoặc “Hứa Tinh Dương chân nhân thiên sư”.
(82) Thiết trụ: trụ sắt do Hứa chân quân dựng lên để trấn yểm thủy quái. Đạo quán nơi Hứa Tốn trú ngụ nay có tên Ngọc Long Vạn Thọ cung (tức Thiết Trụ cung), nằm ở chân núi cùng tên Tây sơn, là tổ sơn của Tịnh Minh đạo.
(83) Khổng tử gia ngữ: “Phù quân giả, chu dã; thứ nhân giả, thủy dã. Thủy sở dĩ tải chu, diệc sở dĩ phúc chu 夫君者、舟也;庶人者、水也。水所以載舟,亦所以覆舟,” Vua là thuyn, dân là nước. Nước đ ch thuyn mà cũng có th lt thuyn (dẫn theo Trần Trọng Dương). Thiên “Vương chế”, sách Tuân tử có câu tương tự: “Quân giả, chu dã, thứ nhân giả, thủy dã; thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu 君者、舟也,庶人者、水也;水則載舟,水則覆舟,” Vua là thuyn, th nhân như nước; nước ch thuyn, cũng làm lt thuyn. Tuân tử (313 TCN – 238 TCN) không nhận lời này của ông mà nói rằng trích xuất từ “truyện 傳”, tác phm gii nghĩa kinh có trước đó.
(84) Theo Đào Duy Anh, sông Bạch Đằng là sông Chanh hiện nay.[23]
(85) Gió bấc nổi khi thủy triều bắt đầu lên. Ca dao địa phương còn truyền: “Nước lên, gió bấc chớ qua sông Rừng.” Như vậy, Nguyễn xuôi con nước đến cửa biển vừa lúc dòng chảy đảo chiều.
(86) Quan hà bách nhị: vị trí hiểm yếu về mặt quân sự, nơi hai người (nhị) có thể địch trăm (bách) người. Xưa chỉ ải Hàm Cốc của nước Tần.
(87) Thiên tiệm: hào trời, ví sông Bạch Đằng như hào nước giữ thành. “Thiên tiệm”, chứ không phải “thiên” đóng vai chủ ngữ trong câu, đi song song với “nhân kiệt” ở vế sau. “Thiên” ở đây có nghĩa “tự nhiên” hay “thiên nhiên”, không phải “ông trời”.
(88) Theo thời gian, việc thêm bớt, sửa đổi văn bản viết tay là điều khó tránh. Tuy nhiên, điều chỉnh văn thơ xuất phát từ động cơ mang tính văn học hay ngữ học; điều chỉnh sử liệu lại xuất phát từ động cơ chính trị. Do vậy, sử liệu bị sửa đổi sẽ khiến người đọc lệch hẳn khỏi dữ kiện ban đầu. Ngược lại, văn thơ thường bị hiện đại hóa ngôn từ nhưng không thoát khỏi chủ đề nguyên thủy, hoặc tệ hơn là bị giả mạo nhưng hàng giả dĩ nhiên phải trông giống hàng thật.

Tài liu tham kho :

[11] Xem Nguyễn thị Kiều Trang, V quan h sách phong, triu cng Minh Đi Vit, Nxb Chính trị Quốc gia Sự Thật, trang 355-359.
[12] Xem Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nguyn Du toàn tp 2, Mai Quốc Liên – Vũ Tuân Sán dịch nghĩa và chú thích, Nxb Văn Học (2015), trang 424-425.
[13] Thông tin liên quan đến Huệ Năng chủ yếu trích từ quyển Lc t Đi sư, con người & huyn thoi, Nguyễn Minh Tiến, Nxb Tôn Giáo.
[14] Về ý nghĩa của gương đồng, xem Eugene Y. Wang, Mirror, Moon, and Memory in Eighth-Century China: From Dragon Pond to Lunar Palace. Bản điện tử: https://eaa.fas.harvard.edu/files/eaah/files/tan gmirror.pdf.
[15] Trương Cửu Linh, Toàn Đường thi quyn 48, Vng nguyt hoài vin, bản điện tử: http://ctext.org/quan tangshi/48.
[16] Thông tin về Trương Cửu Linh lấy từ bài viết của Vũ Tường 宇祥, tiếng Việt http://vn.ming hui.org/ news/80695-moi-lan-de-dan-lo-o-nha-vang-chang-xung.html, tiếng Trung http://www.minghui.org/mh/ar ticles/2017/6/6/349230.html và mục Zhang Jiuling thuộc New World Encyclopedia. (http://www.newworldency clopedia.org).
[17] Tống Chi Vấn, Toàn Đường thi quyn 52, Đ Đi Du lĩnh, bản điện tử : http://ctext.org/quantangshi/52.
[18] Phan Huy Ích, D Am ngâm lc tp III, Du Mai lĩnh, bản dịch Ban Hán Nôm UBKHXH, Nxb Khoa học Xã hội, trang 89-91.
[19] Tống Chi Vấn, Toàn Đường thi quyn 52, Đ Đi Du lĩnh, bản điện tử : http://ctext.org/quantangshi/52.
[20] Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyn dch tp I, Đng vương các, Nxb Thuận Hóa (2007), trang 175-176.
[21] Xem Kwang-Ching Liu & Richard Shek, Heterodoxy in late Imperial China, Daoism and Orthodoxy – The Loyal and Filial Sect (Richard Shek), University of Hawaii Press 2004, Trang 139 – 171.
[22] Xem Richard G. Wang, The Ming Prince and Daoism : Institutional Patronage of an Elite, Oxford University Press 2012, Phần mở đầu (Prologue).
[23] Xem Đào Duy Anh, Đt nước Vit Nam qua các đi, Nxb Hồng Đức (tái bản 2015), trang 541 – 554.
[24], [25], [26] Xem Viện Văn Học, Thơ văn Lý-Trn tp 2, Bch Đng giang phú, Nxb Khoa học Xã hội (1988), trang 737-745.
[27] Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nguyn Du toàn tp 2, Ng gia đ cu ca cơ, Nxb Văn Học 2015, trang 366-369.
[28] O. W. Wolters, Monologue, Dialogue and Tran Vietnam, trang 3, bản điện tử : https://ecommons. cornell.edu /bitstream/handle/1813/13117/Wolters_TranVietnam.pdf;sequence=1
[29] O. W. Wolters, Mt khách l trên chính đt nước mình, bản dịch Ngô Bắc, Tạp chí Gió O (Hoa Kỳ), bản điện tử : http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacWoltersNguyenTraiTho.htm.
[30] Xem Đoàn Trung Còn (biên dịch), T thư, Mnh t quyn nht, Lương Hu vương chương cú thượng, Nxb Thuận Hóa (2013), trang 22-23.

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)