Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

NGUYỄN TRÃI: BỀ TÔI CỦA BỐN DÒNG VUA (phần 1/5)

0 bình luận ♦ 16.01.2018

LTS: “Nguyễn Trãi: Bề tôi của bốn dòng Vua” của Lê Tư là một biên khảo công phu, dài hơi, dựng lại hành trạng của một trong những khuôn mặt chính trị và văn hóa lớn của dân tộc Việt Nam là Nguyễn Trãi bằng cách phân tích thơ của ông mà tác giả xem như một thứ tự truyện, “tự truyện qua nhật ký thơ”, đồng thời đối chiếu với những dữ kiện lịch sử. Nguyễn Trãi ở đây có phần khác với Nguyễn Trãi mà ta thường biết qua sách sử, một Nguyễn Trãi rất bình thường, rất “người”. Do đó, “bài viết có thể gây khó chịu” vì chúng ta “đã quen với tiểu sử Nguyễn Trãi được biên soạn phù hợp với thời nay,” theo tác giả cho biết. Nguyễn Trãi sống trong một thờ đại nhiễu nhương, trải qua bốn triều đại khác nhau trong cuộc đời mình: Trần, Hồ, Minh, Lê. Trước khi về với Lê Lợi, ông đã từng phục vụ cho nhà Minh. “Vua Hậu Trần đối xử với ông và thân tộc bằng bạo ngược, vua Minh dùng lễ đối xử với trí thức An Nam. Việc Nguyễn chọn thờ vua Minh không mâu thuẫn giáo huấn Khổng Mạnh nếu xem Đại Việt là thành viên của thế giới Hoa Hạ. Đó cũng là lựa chọn chung của hầu hết nho sĩ đương thời.” Tại sao? Vì “Về cơ bản, đánh bại Minh là quân Trại, đánh bại Thanh là quân Nam Hà. Người đồng bằng sông Hồng từ khi Nho giáo thâm nhập đa số có xu hướng ủng hộ Trung Hoa chống lại các cộng đồng Việt khác. Xét thực tế, phản ứng dân trung châu trước giặc Tàu không chỉ bị quy định bởi não trạng văn hóa mà còn bởi điều kiện tự nhiên. Tầng lớp ưu tú muốn duy trì cơ nghiệp hay địa vị xã hội đành phải hợp tác với kẻ mạnh vì họ không có địa lợi để lẩn tránh, cũng thiếu nguồn nhân lực ngoài kiềm tỏa để tích lũy sức bật lại như người phía nam.” Chính thời gian hợp tác với Minh làm khó cho ông sau này trong triều đình nhà Lê, kể cả vụ án Lệ Chi viên.

Để kết luận, tác giả nhận xét, “Nguyễn Trãi trưởng thành trong thời loạn. Về cuộc sống, Ông tự thán: “Nhất sinh lạc thác, Một đời luân lạc (,,,) Cả sinh lẫn tử dường như đều lầm lỡ.”

Da Màu xin mời quý độc giả thưởng lãm.

 

A. TIU S TÓM TT:

Nguyễn Trãi sinh năm 1380, năm 1400 đậu Thái học sinh. Tương truyền, ông giữ chức Ngự sử đài Chính chưởng dưới đời Hồ (1400 – 1407). Tuy nhiên, không hoạt động nào của Nguyễn được sử ký ghi nhận trong giai đoạn này.

Năm 1407, Vĩnh Lạc xâm phạm Đại Ngu, Giản Định đế nổi lên kháng cự sau khi quân Hồ tan rã. Nguyễn Trãi bị nhóm Hậu Trần truy sát do gia tộc bên ngoại trước đó hợp tác với họ Hồ, về sau cha và cậu ruột lại đầu hàng giặc Minh. Ông ẩn tránh đến năm 1410 mới ra trình diện chính quyền mới.

Từ 1410 đến 1417, Nguyễn Trãi lưu lạc Trung Hoa. Có lẽ do ông phục vụ Minh triều với chức vụ thấp nên sử Trung Hoa không chép lại hành trạng.

Theo Tổng binh Lý Bân về Giao Chỉ năm 1417, Nguyễn làm việc trong bộ máy thuộc địa đến khi họ Lý qua đời năm 1422.

Năm 1423, Nguyễn Trãi tìm đến Lê Lợi, được giao vai trò thư ký riêng cho thủ lĩnh khởi nghĩa. Thừa lệnh chủ, Nguyễn viết nhiều thư giao thiệp với người Minh; hoặc mệnh lệnh dạy bảo, úy lạo quân nhân. Các văn bản này về sau được Trần Khắc Kiệm gom thành Quân trung từ mệnh tập (1480).

Năm 1427, khi quân Lam Sơn tiến ra châu thổ sông Hồng, “Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ” Nguyễn Trãi được thăng chức “Triều liệt Đại phu, Nhập nội Hành khiển, Lại bộ Thượng thư kiêm hành Khu mật viện sự.” Ông từng đích thân cùng hàng tướng họ Tăng đi chiêu dụ thành Tam Giang.

Tức vị hoàng đế năm 1428, Lê Lợi sai Nguyễn Trãi viết Đại cáo công bố quá trình chiến đấu dẫn đến thành công mỹ mãn của lực lượng kháng chiến. Nguyễn Trãi được phong “Tuyên phụng Đại phu, Nhập nội Hành khiển, Môn hạ hữu Gián nghị Đại phu, đồng Trung thư lệnh sự, tứ kim tử ngư đại, Thượng hộ quốc Quan phục hầu, tứ tính Lê Trãi.”

Cuối năm 1429, Nguyễn Trãi bị tống giam nhưng sau đó được thả ngay. Tuy nhiên, ông mất hết chức tước và bị thẩm vấn kéo dài. Ngoài lý do bị tình nghi liên can mưu phản của Trần Nguyên Hãn, có thể ông gặp rắc rối do các mối quan hệ phức tạp thời cộng tác với người Minh.

Năm 1432, ông chỉ được phục chức “Vinh lộc Đại phu, Nhập nội Hành khiển tri Tam Quán sự.” Năm 1433, Lê Thái tổ băng, Nguyễn Trãi viết Văn bia Vĩnh lăng.

Từ năm 1433 đến năm 1437, theo ghi chép của Toàn Thư, bên cạnh nhiệm vụ Thừa chỉ, Nguyễn Trãi phụ trách mảng văn hóa-giáo dục của triều đình.

Do tranh chấp về “lễ nhạc” với Lương Đăng năm 1437, Nguyễn Trãi bị bãi truất nhưng vẫn còn giữ chức quan nhàn. Năm 1439, Lê Thái tông phục hồi cho ông. Trong biểu tạ ơn, Ức Trai xưng là “Vinh lộc Đại phu, Nhập nội Hành khiển, Môn hạ sảnh tả ty hữu Gián nghị Đại phu kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ tri Tam Quán sự, Đề cử Côn Sơn Tư Phúc tự, Á đại trí tự, tứ quốc tính Lê Trãi.”

Năm 1442, vua đi tuần miền đông, duyệt binh ở thành Chí Linh, nhân tiện ghé Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi. Khi nghỉ lại Lệ Chi viên trên đường về kinh, hoàng đế thức suốt đêm với vợ lẽ Ức Trai là Nguyễn thị Lộ rồi mất. Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc.

Năm 1464, Lê Thánh tông cho người con còn sống sót của Nguyễn Trãi tên Anh Vũ làm quan huyện. Năm 1467 lại ra lệnh sưu tập thơ văn của ông.

B. T TRUYN QUA NHT KÝ THƠ:

1. Thi hc sinh trước năm 1400

Nguyễn Trãi xuất hiện lần đầu trong văn học qua bài thơ “Gia viên lạc 家園樂”, Thú vườn quê của Nguyễn Ứng Long. Cha ông tả đứa bé con mình mới lên sáu đã mê đọc sách: “Lục tuế nhi đồng phả ái thư 六歲兒童頗愛書.” Phan Huy Chú tin rằng cháu nhỏ chính là Ức Trai sau này.[1]

Qua tác phẩm dưới đây, Nguyễn Trãi cho biết ông được gửi vào trường lớp chính quy để học tập. Do Ứng Long là quan Đại phu triều Trần, có thể hiểu “trường văn” mà tác giả nhắc đến chính là Quốc tử giám tại kinh đô. Nguyễn đang đối diện rắc rối ảnh hưởng đến việc học và thi.

Mn thut XII

Trường văn nằm ngả mấy thu dư,
Uổng tốn công hèn biện lỗ ngư.(1)
Còn miệng tựa bình(2) đà(3) chỉn(4) giữ,
Có lòng bằng trúc(5) mỗ(6) nên hư.
Én từ nẻo lạc nhà Vương Tạ,(7)
Quạt đã hầu thu lòng Tiệp Dư.(8)
Chỉn sá(9) lui mà thủ phận,
Lại tu thân khác mặc(10) thi thư.

Tạm hiểu như sau: Mấy năm miệt mài trong nhà trường, Công dùi mài kinh sử đành phí uổng. Mồm miệng đã giữ kín như miệng bình, Lòng trống rỗng giũ sạch mọi việc. Từ khi én lạc đường không bay vào nhà Vương-Tạ, Lòng đối với Tiệp Dư như chiếc quạt xếp lại. Nên thủ phận mà rút lui, Tìm nghề nghiệp khác bỏ mặc thi thư.

Hai câu đề tác giả tự trách nỗ lực học hành phí hoài, có vẻ như thi hỏng. Nhưng nếu chỉ thi hỏng, không nhất thiết phải giữ mồm giữ miệng hay tự kìm nén cảm xúc như trình bày qua cặp trạng. Cặp luận thể hiện gia thế đi xuống do nhà vua lạnh nhạt, đây là lời giải thích lý do tại sao phải cư xử cẩn trọng như đề cập bên trên. Hai câu kết tỏ ý muốn bỏ cuộc đua thi thư để theo nghiệp khác.

Thời điểm nào nho sinh Nguyễn Trãi thi trượt cùng lúc với Ứng Long bị triều đình ghẻ lạnh?

Ức Trai đỗ Thái học sinh năm Thánh Nguyên I (1400), như vậy, bài thơ phải xuất hiện trước đó. Cân nhắc năm sinh 1380 và lời thơ tương đối già dặn của tác giả, chúng ta có thể thu hẹp thời gian tác phẩm ra đời vào quãng 1392 – 1399. Năm 1393, Toàn Thư ghi nhận khoa thi Thái học sinh vào mùa xuân lấy đỗ ba mươi người. Năm 1396, ghi nhận việc cải cách nội dung các bước thi cử nhưng không nhắc đến khoa thi kèm theo; tuy vậy, có thể tin rằng từng có kỳ thi hương theo qui định mới trong năm 1396 vì triều đình khó thể công bố cải cách mà bỏ qua thể nghiệm.[2] Như vậy, Nguyễn Trãi có thể thi trượt khóa 1393 hoặc khóa 1396.

Ức Trai di tập còn giữ được bài thơ Nguyễn Ứng Long tiễn Lê Dung Trai lên đường sứ Bắc vào cuối năm 1394 hoặc đầu năm 1395. Lời thơ điềm đạm thể hiện tư cách một vị đại quan có địa vị ổn định. Dựa vào đó, có thể loại trừ trường hợp “Mạn thuật XII” được viết ra sau khóa thi 1393.

Năm 1396, Thiếu trung Đại phu Nguyễn Ứng Long cùng Thông phụng Đại phu Đào Toàn Kim đi sứ nhà Minh báo tin Thượng hoàng Nghệ tông qua đời. Vua Minh từ chối phúng điếu. Rủi ro hơn, chánh sứ họ Đào mất trên đường về. Lợi dụng hoàn cảnh bối rối, nhà Minh áp lực đòi đất biên thùy. Trần Thuận tông bãi nhiệm Ứng Long do chuyến đi kết cục thảm hại. Dấu vết trách phạt còn lưu trong hai bài bát cú “Ngẫu tác 偶作”, Ngu nhiên làm thơ và “Mộ thu 暮秋”, Cui thu với các câuTriển Cầm yên vãng phi tam truất 展禽焉往非三黜,” Trin Cm đến nơi nào chng b ba ln bãi trut hay “Tao nhân hà tất oán giang ly 騷人何必怨江蘺,” Nhà thơ hà tt phi oán c Giang ly. “Ngẫu tác” nói về Liễu Hạ Huệ, “Mộ thu” nhắc Khuất Nguyên, là các danh sĩ bị biếm truất không thỏa đáng.[3]

Hai luồng thông tin trên hướng chúng ta đến kết luận: tác phẩm ra đời năm 1396. Kết quả thi tiêu cực cộng hưởng tai họa mất chức của cha khiến Nguyễn dao động niềm tin vào hoạn lộ. Cha bị thất sủng, con có khả năng bị cấm thi hoặc thi đỗ vẫn không được bổ nhiệm. So sánh gia đình mình với hai họ Vương-Tạ đại quý tộc đời Tấn, lại so sánh cha với nàng Ban Tiệp dư từng được Hán Thành đế sủng ái, Nguyễn đã gián tiếp xác nhận Ứng Long có địa vị cao trong triều đình và được vua Trần nể trọng. Thông tin như thế khác hẳn kết quả nghiên cứu truyền thống vốn cho rằng Nguyễn Ứng Long chỉ ra làm quan dưới đời Hồ.

Từ bỏ nho học chỉ là lời nói lẫy. Nguyễn càng nhận rõ trách nhiệm cá nhân khi cha gánh chịu thua thiệt trên quan trường. Nếu cha chùn bước, con phải dấn thân. Bài thơ dưới đây diễn đạt mạnh mẽ ao ước thành đạt:

Ngôn chí VII

Đã mấy thu nay để(11) lệ nhà,
Duyên nào đeo đẳng khó chăng tha.
Một thân lẫn quất đường khoa mục,
Hai chữ mơ màng việc quốc gia.(12)
Tài liệt lạt(13) nhiều nên kém bạn,
Người mòn mỏi hết phúc còn ta.
Quân thân chưa báo lòng canh cánh,
Tình phụ cơm trời áo cha.

Chao đảo bước tiến thân chỉ tạm thời, nho đạo là con đường duy nhất Nguyễn lựa chọn và đeo đẳng. “Ngôn chí” cho biết Nguyễn tạm rời Côn Sơn (hoặc Nhị Khê) nhiều năm để theo đuổi học vấn tại kinh thành. Trở ngại nhiều nhưng chưa bao giờ ông bỏ cuộc. Mộng gánh vác việc triều đình, tức mộng làm quan, luôn vấn vít hành trình khoa mục khổ nhọc. Câu 5 một lần nữa nhấn mạnh trầy trật thi cử, câu 6 vui mừng vì còn được tiếp tục trường văn trong khi nhiều đồng khóa kém phúc đành chấp nhận rơi rụng. Phí tổn nuôi con ăn học thời đó hẳn rất đáng kể và chỉ nhà phú quý mới kham nổi. Nhưng thư sinh dòng dõi như Nguyễn có con đường nào khác phù hợp hơn để lập công danh! Phải thi đỗ mới nắm bắt cơ hội phụng sự hoàng triều đồng thời mang đến vẻ vang cho cha mẹ. Do cặp thực nói về quan hệ vua-tôi, cặp luận tưởng đến quan hệ cha-con nên “hai chữ” được mơ màng phải là hai chữ “quân-thần”. Ức Trai đặt nặng nghĩa vụ trung-hiếu, nhưng chúng ta nên chú ý riêng về lòng trung qua mỗi giai đoạn. Nguyễn Trãi từng thể hiện hồn hậu sự trung thành với vua Trần, vua Hồ, vua Minh và vua Lê. “Quân” trong bài thơ trên chỉ Trần Thuận tông, người trị vì quãng 1388 – 1398.

Rủi cho hoàng gia Trần nhưng may cho nhà họ Nguyễn là Thuận tông bị Hồ Quý Ly ép đi tu vào năm 1398. Hoàng tử An lên ngôi tại Tây đô lúc ba tuổi, hoàn toàn bị khống chế bởi quyền thần. Đại vương Quý Ly bắt đầu tái tổ chức triều chính chuẩn bị soán đoạt. Thời cuộc thay đổi hóa giải áp lực án phạt lên Ứng Long đồng thời mở sinh lộ mới cho cả gia đình.

Ngôn chí VI

Trường ốc ba thu uổng mỗ(14) danh,
Chẳng tài đâu xứng chức tiên sinh.(15)
Cuốc cùn ước xáo vườn chư tử,(16)
Thuyền mọn khôn đưa biển lục kinh.(17)
Án sách cây đèn hai bạn cũ,
Song mai hiên trúc một lòng thanh.
Lại mừng nguyên khí vừa thịnh,
Còn cậy vì hay một chữ đinh.(18)

Về già, Nguyễn Trãi có câu thơ nhớ thời đi học: Thiếu niên trường c tiếng hư bay. Ông học giỏi có tiếng nhưng không hiểu sao lại trượt khóa thi 1396. Mối hận lòng khiến Nguyễn tự đay nghiến rằng mình kém khả năng, như cuốc cùn xới cánh vườn rộng, như thuyền mọn vượt biển mênh mông. Ý thức năng lực sơ sài đã thôi thúc người thanh niên cố công rèn luyện trong điều kiện sinh hoạt đạm bạc. Ứng Long bị ngồi chơi xơi nước nên bổng lộc hẳn sút giảm nhiều gây ảnh hưởng đến con cái. Trong thất vọng, chàng thư sinh bắt gặp hy vọng le lói từ biến pháp của Hồ Quý Ly. Thực hiện công việc mới phải cần nhân sự mới. Nguyễn tự tin sẽ thành công nhờ vốn văn học của mình.

Kẹt vướng giữa bế tắc, lòng trung với họ Trần nhòa nhạt nhẹ nhàng. Năm 1398, Thái thượng Nguyên quân Hoàng đế Trần Ngung rời ngôi tôn. Vị đạo sĩ tân tòng lo bảo toàn sinh mệnh nên không quan tâm thiên mệnh.

2. Thi H (1400 1407)

Cả ba bài thơ làm trong tuổi học trò bên trên đều thể hiện sinh hoạt thanh bạch của người chưa sành thú phong lưu. Thiếu niên Nguyễn Trãi lúc đó chưa tơ tưởng tới trà, rượu và đàn bà.

Theo bài tựa Ức Trai thi tập do Trần Khắc Kiệm viết năm Hồng Đức XI (1480), Nguyễn nhậm chức Trung thư Ngự sử đài Chánh chưởng sau khi đỗ Thái học sinh.[4] Tác phẩm dưới đây cho thấy Nguyễn quen thuộc với cách chuẩn bị trà của tầng lớp trí thức có quyền thế. Trong thực tiễn xã hội bất ổn, gu ẩm thực cầu kỳ vẫn được duy trì.

T thán XXXVII

Nẻo từ(19) nước có đao binh,
Nấn ná am quê cảnh cực thanh.
Đình Thấu Ngọc(20) tiên(21) xanh(22) tuyết nhũ,(23)
Song mai hoa điểm quyển Hy kinh.(24)
Hẹn này nỡ phụ ba đường cúc,(25)
Tiếc ấy vì hay một chữ đinh.(26)
Mọi sự đã chăng còn ước nữa,
Nguyện xin thấy một thuở thăng bình.

Tạm hiểu như sau: Từ khi nước có chiến tranh. Nấn ná quê nhà nơi phong cảnh tuyệt đẹp. Trong đình Thấu Ngọc, đun chảo nước thạch nhũ tinh khiết. Bên cửa sổ trồng hoa mai, đọc quyển Hy kinh. Có hẹn với ba luống cúc nhưng lỡ dỡ rồi! Thật tiếc chỉ vì ta là người trí thức có trách nhiệm. Bây giờ chẳng cầu ước điều gì. Chỉ mong thấy cảnh thanh bình.

Để định tuổi bài thơ, chúng ta căn cứ vào năm điểm: a. nơi tác giả sống là một “nước”, b. chiến tranh xảy ra ngay trong lãnh thổ Việt, c. phức hợp động Thanh Hư sang trọng với đình Thấu Ngọc chưa xuống cấp, d. Nguyễn Trãi đang làm quan, e. Trãi đỗ Thái học sinh chưa lâu lắm, còn kiểu hãnh diện trẻ trung là mình biết chữ.

Dựa vào điểm đầu tiên, ta loại trừ thời gian An Nam mang danh Giao Chỉ Thừa tuyên Bố chính sứ ty, tức từ 1407 đến 1428. Dựa vào điểm thứ hai, có thể khép thời gian vào quãng đời Hồ, tức từ 1400 đến 1407; vì dưới đời Lê Thái tổ, Lê Thái tông, chiến tranh chỉ xảy ra nơi phên dậu hoặc ngoài biên giới. Điểm thứ ba, thứ tư và thứ năm củng cố nhận xét dựa vào điểm thứ hai.

Cuộc “đao binh” xảy ra trong nước có thể là trận tấn công của Hàn Quan và Hoàng Trung vào Đại Ngu mùa hè năm 1406 để đưa Trần Thiêm Bình về nước thay thế họ Hồ. Nhằm nghênh địch, vua Hồ đã áp dụng chiến thuật vườn không nhà trống tại các xứ Lạng châu, Vũ Ninh, Bắc Giang, Gia Lâm, Tam Đái. Dời dân qui mô dĩ nhiên gây xáo trộn lớn đời sống tại trung châu. Có lẽ Nguyễn thăm nhà trong giai đoạn hỗn loạn này. Không loại trừ chính vùng quê ngoại cũng nhận lệnh chuẩn bị di tản nếu cần thiết. Hai chữ “nấn ná” giúp chúng ta biết Nguyễn chỉ được phép về nhà để thu xếp điều gì đó thật nhanh chóng rồi phải trở lại nhiệm sở. Ức Trai dùng Hy kinh để dự đoán những gì sắp xảy ra. Cầu nguyện bình an chứng tỏ bói toán bằng Dịch chưa mang đến sự tin tưởng, hoặc ông đã linh tính hậu quả từ mối loạn là cực lớn. Lòng luyến thương hoa cúc nổi lên như điềm gỡ báo trước cuộc chia ly dằng dặc mười năm.

Điều Nguyễn Trãi lo sợ rồi cũng ập đến.

T thán XXX

Vận trị cùng loàn chỉn(27) đếm thì,(28)
Bằng(29) ta sinh uổng có làm chi.
Ơn vua luống nhiều phần đội,
Việc nước nào ích mỗ(30) bề.(31)
Rắp(32) tới, đã chăng hay chốn tới,
Hầu(33) đi, lại chửa biết đường đi.
Tôi ngươi(34) hết tấc lòng trung hiếu,
Ai há liệu nơi thịnh suy.

Tạm hiểu như sau: Thời vận trị rồi đến loạn là quy luật. Ta sống uổng phí vì không làm gì được (để cưỡng lại). Từng chịu ơn vua rất nặng. Mà chẳng giúp chút gì cho nước. Muốn tiếp tục đi nhưng không biết tới đâu. Định tìm ngõ khác lại chưa biết đằng nào. Phận tôi con luôn hết lòng trung hiếu. Bất kể triều đại thịnh hay suy.

“Tự thán XXX” được viết ra lúc chế độ sụp đổ. Nguyễn từng kinh qua hai lần trạng huống như thế, một lần cuối đời Trần và lần thứ hai cuối đời Hồ. Cuối Trần, Nguyễn không hoang mang vì quốc gia được xếp đặt lại bởi năng lượng từ luồng nguyên khí mới. Cuối Hồ, Nguyễn dở dang vĩnh viễn sự nghiệp do hoàng gia bị người Minh áp giải về phương bắc. Giữ lòng trung rất khó vì chẳng ai mưu sự khôi phục nhân danh họ Hồ để ông có thể tham gia. Tình trạng tuyệt đại đa số sĩ nhân bỏ rơi Đại Ngu quay sang hợp tác với giặc có lẽ khiến Nguyễn bàng hoàng. Ông nhắc nhở đám đông phù thịnh bằng tấm gương bản thân lẻ loi. Nhưng muốn bảo toàn trung-hiếu phải có kế hoạch chống trời nào đó, kế hoạch mà Nguyễn không sao nghĩ ra được.

Ức Trai không có nhiều thời giờ ngẫm ngợi về lòng cô trung. Đống tro tàn Đại Ngu đã tái sinh mầm sống khác, vừa mới mẻ vừa cổ kính. Tựa vào bộ rễ đâm sâu ruột đất hàng thế kỷ, sinh thể đó phục hồi tuổi trưởng thành trong chớp mắt và chua chát đặt vấn đề với tất cả những ai từng coi rẻ phẩm giá của nó.

3. Ba năm chy trn (1407 1410)

Khác với cha mình, Nguyễn Trãi không nghĩ ngay đến việc đầu hàng hay hợp tác với quân chiếm đóng. Ban đầu, có lẽ ông cùng một số đồng chí dù tản mát vẫn duy trì liên lạc để đồng tâm ứng phó với tình hình, đặc biệt với chính sách chiêu hiền của vua Minh. Bài thơ dưới đây cho thấy Nguyễn cùng một số cựu đồng liêu trao đổi về việc có nên ra làm quan với chính quyền thuộc địa hay không.

鄉先生韻柬諸同志

愁來咄咄漫書空
天地無窮嘆轉蓬
世事灰心頭向白
衰顏借酒暈生紅
覽輝擬學鳴陽鳳
遠害終為避弋鴻
淪落天涯俱是客
年來出處略相同

Họa hương tiên sinh vận giản chư đồng chí

Sầu lai đốt đốt(35) mạn thư không
Thiên địa vô cùng thán chuyển bồng(36)
Thế sự khôi tâm đầu hướng bạch 
Suy nhan tá tửu vựng sinh hồng
Lãm huy(37) nghĩ học minh dương phụng(38)
Viễn hại chung vi tỵ dặc hồng
Luân lạc thiên nhai câu thị khách
Niên lai xuất xử(39) lược tương đồng

Ha vn v tiên sinh đng hương gi các đng chí

Buồn đến, viết loạn hai chữ “cha chả” lên không,
Than mình như cỏ bồng trôi dạt trong trời đất vô cùng.
Lòng nguội lạnh việc đời, tóc sắp bạc,
Vẻ mặt tiều tụy, nhờ rượu mà đỏ hồng.
Ngắm ánh sáng, định học chim phượng hót đón mặt trời,
Lẩn xa tai vạ, rốt cuộc lại như chim hồng tránh tên.
Đều là khách luân lạc bên trời,
Cho đến nay, chúng ta đều có kế sách xuất xử như nhau.

Câu 1 mượn tâm tình của Ân Hạo khi mất hết chức tước, rơi xuống hàng thứ dân, bị lưu đày, để bày tỏ sự bàng hoàng trước biến động. Câu 6 khẳng định ý muốn học theo Ngự sử Lý Thiện Cẩm đời Đường, người được đương thời mệnh danh “minh dương phụng 鳴陽鳳”, chim phượng hót đón mt tri. Như vậy, có phần chắc bài thơ ra đời ngay sau khi quân Minh thắng trận khiến tác giả đột ngột gián đoạn công việc yêu thích ở đài Ngự sử đồng thời phải tránh nạn nơi xa.

Giống như “chuyển bồng 轉蓬”, c bng trôi dt là tự gẫm thân phận của Đỗ Phủ khi rời Thành Đô đến Từ châu tránh cuộc nổi dậy của Từ Tri Đạo (762). Cụ Đỗ từng chạy loạn An Lộc Sơn tới Thành Đô, lại gặp loạn, buộc đi tiếp sang Từ châu. Như vậy, Nguyễn có thể đã chạy giặc Minh, sau đó lại tiếp tục chạy những đám giặc phái sinh nổ ra khi chính quyền Hồ sụp đổ.

Hai chữ “lãm huy” nhắc về thời đại xã hội đảo lộn mà nhà thơ Khuất Nguyên nước Sở phải chịu đựng. Giả Nghị, qua phú “Điếu Khuất Nguyên”, cho rằng thuở đó mọi sự đều trái khoáy: bọn trộm cắp tự xem mình thanh cao, quân đội dùng lừa để kéo binh xa, trái bầu xốp được quý hơn vạc nhà Chu… Với Nguyễn, thời điên đảo quá mức tương ứng buổi mạt Trần. Ông ví mình như chim phượng đã thấy vầng sáng Hồ Quý Ly và đã lựa chọn.

Ngoài Giả Nghị, Lưu Khắc Trang (1187 – 1269) cũng lưu lại dấu ấn trên sáng tác của Nguyễn. Lưu thuộc phái thơ “giang hồ”. Thành viên phái này chuộng lời lẽ bình dị, hướng về chủ đề cuộc sống thường nhật. Khắc Trang có câu thơ rất nổi tiếng “Minh dương phụng hóa tác hàn thiền 鳴陽鳳化作寒蟬,” Chim phượng hót đón mt tri hóa làm con ve mn. Sự lệch lạc giá trị xã hội hẳn tái xuất hiện gay gắt sau thời Hồ khi tập hợp người ủng hộ quân Minh bật lên ở châu thổ, đồng thời tập hợp phục quốc-phục thù Hậu Trần hoạt động sôi sục từ Thanh Nghệ vào Nam.

Câu 7 đặc tả tình trạng nhà thơ đang trải nghiệm. Bạn bè dù luân lạc nhưng không đối diện nguy hiểm, riêng Nguyễn phải tìm nơi lẩn tránh bọn người chỉ muốn trao đổi với ông bằng cung tên.

Ức Trai lẩn tránh ai? Theo Minh Thực lục, Thành tổ chủ trương dùng “lễ” để mời quan lại cũ và những người có kỹ năng chuyên môn ra cộng tác. Thực tế, số hưởng ứng rất đông, nhiều vị chưa làm quan chính thức cũng hăng hái góp mặt. Trương Phụ duyệt xét, tiếp nhận 9.000 nhân tài lần lượt đưa về kinh. Số từ chối loe hoe dăm người, trong đó có hai nho sĩ Bùi Ứng Đẩu, Lý Tử Cấu. Vài vị nữa không được nêu tên là hạ trai học sinh, chức phận chỉ ở mức “thư lại”. Hai cụ Bùi, Lý ương ngạnh chẳng bị bắt bớ gì. Như thế, chủ thể muốn hành xử bạo lực không là quân Minh(40), họ là người quen nên ông biết phải lánh nơi nào.

Bài thơ dưới đây thuật lại cuộc sống ẩn nấp của tác giả:

秋夜客感其一

旅舍蕭蕭席作門
微吟袖手過黃昏
秋風落葉羈情思
夜雨青燈客夢魂
亂後逢人非夙昔
愁中送目寓乾坤
到頭萬事皆虛幻
休論凡亡與楚存

Thu dạ khách cảm kỳ I

Lữ xá tiêu tiêu tịch tác môn
Vi ngâm tụ thủ quá hoàng hôn
Thu phong lạc diệp cơ tình tứ
Dạ vũ thanh đăng khách mộng hồn
Loạn hậu phùng nhân phi túc tích
Sầu trung tống mục ngụ càn khôn
Đáo đầu vạn sự giai hư huyễn
Hưu luận phàm vong dữ sở tồn

Cm xúc đêm thu nơi đt khách kỳ 1

Nhà trọ vắng vẻ, lấy chiếu làm cửa,
Rút tay vào tay áo, ngâm khẽ qua buổi hoàng hôn.
Lá cuốn gió thu, chạnh tình lữ thứ,
Đèn biếc đêm mưa, mộng hồn tha phương.
Sau loạn, không gặp ai là người cũ,
Giữa nỗi buồn, trơ mắt nhìn đất trời.
Vạn sự cuối cùng đều huyễn ảo,
Thôi đừng bàn chuyện Phàm mất với Sở còn.

Chữ “khách” của Nguyễn Trãi và Phi Khanh mang nội hàm giống nhau. Bất kỳ nơi nào không phải Nhị Khê hay Côn Sơn đều là đất khách. Đông Triều, Đông Quan hoặc Trung Hoa đều vậy. Thời cuộc biến chuyển chóng mặt tạo nên hiệu ứng như nhau trên tâm lý hai thế hệ, hai cha con đều nhìn nhận tính hư huyễn của trần thế mỗi khi triều đại thay đổi. Đó là cảm giác của nhà nho khi họ thiếu vua.

Câu 5 so với “Loạn hậu giao du phi phục tích 亂後交遊非復昔,” Sau lon bng hu chng còn như trước [5] của Phi Khanh chỉ sai biệt ba chữ, cấu trúc giống hệt. Hai người tuy vậy khác nhau nhiều. Phi Khanh muốn gặp người quen nhưng khó gặp. Nguyễn Trãi phải tìm đến nơi không ai biết mình.

Sống hiu quạnh, Nguyễn có dịp nghiền ngẫm sự kiện nhà Hồ sụp đổ. Triều đại tiêu vong mang theo tuổi trẻ cùng niềm hi vọng vào tương lai. Hội chứng Đại Ngu đeo đẳng lâu dài gần như suốt cuộc đời. Về sau, mỗi dịp qua nơi nào có di tích triều cũ ông đều chìm trong suy tư pha lẫn thương cảm.

Câu 8 khá đặc sắc. “Phàm vong dữ Sở tồn”, Phàm mt vi S còn là ý trích từ câu chuyện giữa vua hai nước Phàm-Sở chép trong Nam Hoa kinh.[6] Cổ nhân chủ yếu biện luận tính tương đối của hiện tượng “tồn tại” và “không tồn tại”. Tuy nhiên, qua đó chúng ta thấy khái niệm “quốc 國”, nước được hiểu bằng hai cách. Nước là vua-triều đình hoặc là đất đai-sông núi thuộc chủ quyền vị vua đó. Vua có thể mất, triều đình có thể tan rã nhưng giang sơn vẫn thế; hoặc ngược lại.

Phàm với Sở là những ai? “Mất” là Hồ. “Còn” là Minh hay Hậu Trần? Chúng tôi thiên về “Hậu Trần” vì thời điểm này Giản Định vụt sáng sau trận Bô Cô. Người An Nam họ Nguyễn so sánh hai yếu tố Việt hơn là so sánh Việt với kẻ lạ là Minh.

Nguyễn Trãi tin rằng mình đang “ưu quốc 憂國”, lo âu vic nước. Câu hỏi thoáng qua trong bài thơ trên là: “quốc” nào?

亂後感作

神州一自起干戈
萬姓嗷嗷可奈何
子美孤忠唐日月
伯仁雙淚晉山河
年來變故侵人老
秋越他鄉感客多
卅載虛名安用處
回頭萬事付南柯

Loạn hậu cảm tác

Thần châu nhất tự khởi can qua
Vạn tính ngao ngao khả nại hà 
Tử Mỹ(41) cô trung Đường nhật nguyệt
Bá Nhân(42) song lệ Tấn sơn hà
Niên lai biến cố xâm nhân lão 
Thu việt tha hương cảm khách đa
Tạp tải hư danh an dụng xứ 
Hồi đầu vạn sự phó Nam kha(43)

Sau lon, xúc cm thành thơ

Từ khi chiến tranh dậy trên đất thần thiêng,
Muôn họ kêu thương, biết làm sao được!
Tử Mỹ ôm lòng cô trung với triều Đường,
Bá Nhân tuôn hai dòng lệ khóc nước Tấn.
Lâu nay biến cố dồn dập khiến người sớm già,
Trải mùa thu đất khách dâng tràn cảm xúc.
Ba mươi năm, chỉ còn hư danh thì dùng được gì?
Quay đầu lại, gửi muôn việc vào giấc Nam Kha.

Cùng bài thơ “Đề chùa Đông Sơn” với câu “Tam thập niên dư trần cảnh mộng 三十餘年塵境夢,” Hơn ba mươi năm mng gia cõi trn, tác phẩm này cho thấy khoảng năm 1409/1410 Nguyễn Trãi vẫn chưa ra đầu Minh. Nơi ẩn trốn nhiều khả năng là vùng núi Đông Triều, địa danh ông cách điệu thành “Liêu Đông”.

“Vạn tính ngao ngao 萬姓嗷嗷”(44) từng khiến Ứng Long vô cùng xúc động dưới đời Trần nhưng lại không cản được Phi Khanh sớm hàng giặc đời Hồ. Ngược lại, muôn họ xao xác tác động mạnh mẽ đến Nguyễn Trãi vào đỉnh điểm gian nguy. Ông khẳng định lòng trung thành với vua Hồ đồng thời khóc thương vương quốc Đại Ngu non trẻ. Phản ứng ban đầu mang tính bản năng báo hiệu ngả rẽ về sau, hướng rẽ hẳn vượt ngoài tưởng tượng của chính Nguyễn.

Ba năm lẫn trốn đủ để Nguyễn cảm thấy mọi việc đã an bài. Học vị tiến sĩ chẳng mang lại thuận lợi hay sức thu hút trong mưu đồ tái lập triều cũ, cũng không giúp kẻ vô hình từ bỏ ý định gây hại. Trang sử nhà Hồ khép lại vĩnh viễn, các nhóm nổi dậy đều hướng về Hậu Trần. Nguyễn hoàn toàn lạc lõng trước tình hình biến đổi.

Từ cảm nhận cuộc đời huyễn ảo đến khẳng định gửi muôn sự cũ vào giấc Nam Kha thể hiện chuyển dịch tế vi về nhận thức. Quá khứ nửa thực nửa mơ rốt cục thiếu hẳn phần thực. Nước “Đường”, nước “Tấn” đã ngừng tồn tại trong không gian lẫn thời gian. Gác việc xưa lên cành hòe có nghĩa Nguyễn bắt đầu nghĩ về những gì phải làm trong tương lai.

Bài thơ dưới đây đề cập sự việc thân thích ly tán, kẻ mất người còn. Có lẽ Nguyễn không có nhiều tin tức về thân quyến khi trốn tránh tận “Liêu Đông”, khi tiếp xúc lại với người cậu ông mới rõ sự tình. Nguyễn nhắc đi nhắc lại cảnh gia tộc tan tác nhiều lần trong những sáng tác của mình.

寄舅易齋陳公

兵餘親戚半離零
萬死殘軀偶一生
往事空成槐國夢
別懷誰寫渭陽情
不來自擬同王式
避亂終當學管寧
欲問相思愁別處
孤齋風雨夜三更

Ký cữu Dịch Trai Trần công

Binh dư thân thích bán ly linh
Vạn tử tàn khu ngẫu nhất sinh
Vãng sự không thành Hòe quốc mộng(45)
Biệt hoài thùy tả Vị dương tình(46)
Bất lai tự nghĩ đồng Vương Thức
Tỵ loạn chung đương học Quản Ninh
Dục vấn tương tư sầu biệt xứ 
Cô trai phong vũ dạ tam canh

Gi ông cu h Trn hiu Dch Trai

Sau binh lửa, phân nửa quyến thuộc chia lìa, rơi rụng.
Trải vạn lần tưởng chết, thân tàn ngẫu nhiên được sống.
Việc xưa đã trở thành giấc mộng nước Hòe,
Nhớ nhung khi ly biệt sao tả được tình Vị dương!
Tự bắt chước Vương Thức nên không đến,
Rốt cuộc, để tránh loạn đành theo Quản Ninh.
Muốn hỏi chốn tương tư sầu biệt?
(Đó là) gian phòng vắng mưa gió suốt ba canh.

Vương Thức: nho sĩ đời Tây Hán. Được dân chúng ngưỡng mộ, suy tiến chức Bác sĩ. Thức bị Giang Công do đố kỵ mà làm nhục. Ông nói với mọi người rằng : “Ta không định đến, các người cố khuyên ta đến nên mới bị nhục như vầy.” Sau đó về nhà, không ra làm quan nữa.

Quản Ninh: người nước Ngụy đời Hậu Hán. Ông sang Liêu Đông chạy giặc Hoàng cân, nhiều người đi theo sống thành làng ấp. Ông dạy Thi Thư cho họ, triều đình gọi không về.

Qua hai câu 5 và 6, Nguyễn Trãi nói khá rõ tình huống hiện tại. Bắt chước Vương Thức, ông từ khước trình diện nhà cầm quyền mới do sợ người ganh ghét xúc phạm. Học Quản Ninh, ông dời đến núi rừng để tránh loạn, chính quyền Minh mời cũng không về. Thoát chết vạn lần chứng tỏ có người quyết liệt loại trừ ông.

Nên chú tâm nguyên nhân từ chối trình diện chính quyền thuộc địa nêu ra bởi tác giả. Ông ngại miệng đời, chứ chẳng phải chăm chăm nuôi lòng trung với triều đại cũ. Ông từng ví mình với Tử Mỹ nhà Đường, Bá Nhân nhà Tấn, ở đây lại nói chệch đi. Ngoài quan điểm xem việc xưa đã thành mộng nước Hòe, áp lực nào khác khiến Nguyễn chuyển ý? Muốn thấu hiểu cần biết “Quản Ninh An Nam” phải tránh giặc “Hoàng Cân An Nam” nào.

Lực lượng thực sự nằm sau ngụ ý “giặc Hoàng cân” vào giai đoạn đó chỉ có thể là nhóm kháng chiến đứng đầu bởi vua Giản Định. Anh ruột Giản Định là Trang Định vương Trần Ngạc vốn mâu thuẫn với Trần Nguyên Đán từ thời Đế Hiện còn sống. Ngạc từng làm thơ cả Hán lẫn Nôm châm chọc quan Tư đồ. Hiềm thù bùng phát khi cậu ruột Nguyễn Trãi tên Trần Thúc Dao, người quy thuận Minh rất sớm nên được giao giữ đất Diễn châu, bị Giản Định giết cả nhà vào cuối năm 1407. (Toàn Thư II, 238) Thân thích cụ Nguyễn hao hụt đến phân nửa nhiều khả năng do phe nổi dậy tàn sát vì trước đó chi họ Nguyên Đán bỏ rơi dòng vua Trần, xoay qua cộng tác với họ Hồ, rồi về sau nhiều người trong gia tộc lại theo giặc Minh.

Để trả lời câu hỏi “cháu đang ở đâu?” Nguyễn cho địa điểm thật chính xác về mặt tâm trạng: nơi vắng vẻ mưa gió suốt đêm. Ông tránh cho cậu ruột biết nơi tạm trú chứng tỏ cuộc chạy trốn là một bi kịch.

Ẩn lánh kéo dài đưa Nguyễn tới tình trạng ngày càng nan giải. Ngoài khó khăn vật chất chắc chắn sẽ đến, người liên lạc bí mật giữa ông và thế giới bên ngoài có vẻ đã biến mất.

寄友








Ký hữu

Loạn hậu thân bằng lạc diệp không
Thiên biên thư tín đoạn thu hồng
Cố viên quy mộng tam canh vũ
Lữ xá ngâm hoài tứ bích cùng
Đỗ Lão(47) hà tằng vong vị bắc
Quản Ninh do tự khách liêu đông
Thành trung cố cựu như tương vấn
Vị đạo thiên nhai nhậm chuyển bồng

Gi bn

Sau loạn, bà con bạn hữu như lá rụng sạch,
Ven trời, chim hồng mùa thu ngừng bặt việc đưa thư.
Mưa suốt ba canh, da diết mộng nhớ vườn xưa,
Dế rộn bốn vách, áo não hồn thơ quán trọ.
Lão Đỗ chưa từng quên Vị Bắc,
Quản Ninh còn tự làm khách Liêu Đông.
Nếu người quen cũ trong thành có hỏi thăm,
Xin nói giúp: tôi như ngọn cỏ bồng quay cuồng nơi góc trời.

Bà con bạn hữu rơi rụng để lại gánh nặng tâm lý lớn lao. Chính sự hung bạo quá mức của người có lúc làm chủ gần nửa Đại Việt khiến Nguyễn dần thay đổi để ngả sang quyết định khác. Hơn nữa, “thu hồng” vắng bóng hẳn. Dựa vào câu “Nhân tự thu hồng lai hữu tín 人似秋鴻來有信,” Người ta chim hng mùa thu bay đến mang theo tin tc của Tô Đông Pha, ta hiểu rằng chỉ dăm người biết Nguyễn ở đâu và họ dần dần không lui tới nữa. Mơ hồ tình hình bên ngoài sẽ dẫn tới việc bất lực trong dự đoán nguy hiểm luôn chờ chực.

Thực tại nặng nề khiến “ngày xưa” đẹp đẽ. Côn trùng rả rích dưới mưa lạnh phảng phất tiếng “hàn thiền”. Giấc mơ chim phượng ê chề hơn bao giờ hết.

Câu 5, ngoài ý nhớ bạn văn, còn cho thấy Nguyễn đã theo triều đình Hồ chạy khỏi Tây đô cùng đồng liêu. Ông chia sẻ với bạn kỷ niệm đau xót đồng thời thông báo rằng vẫn phải di chuyển liên tục trong khu vực rộng lớn được ký hiệu là Liêu Đông. Ông chưa định hướng tương lai rõ rệt.

Năm 1409, quân Hậu Trần tiến đến bến La, Hạ Hồng, khá gần nơi Nguyễn ẩn nấp. Một bộ phận ủng hộ Giản Định do Nguyễn Sư Cối chỉ huy hoạt động ngay tại Đông Triều. Phải chăng nguy hiểm đe dọa buộc ông đầu thú?

Phan Huy Chú cho rằng Trương Phụ ép Nguyễn Phi Khanh viết thư khuyên Nguyễn ra hàng.[8] Thông tin này thiếu cơ sở vì quan Đại Lý Tự khanh tự nguyện đầu giặc rất sớm (1407) trong khi Nguyễn chỉ ra trình diện hai hoặc ba năm sau. Quyết định của ông dựa trên thực tiễn nhiều hơn tuân theo lời dạy của cha, nếu quả thật có thư khuyến dụ đó.

Bài dưới đây có lẽ được sáng tác khi Nguyễn nằm trong tay người Minh, chờ sang Trung quốc.

寄友








Ký hữu

Bán sinh thế lộ thán truân chiên
Vạn sự duy ưng phó lão thiên
Thốn thiệt đãn tồn(48) không tự tín
Nhất hàn như cố(49) diệc kham liên
Quang âm thúc hốt thời nan tái
Khách xá thê lương dạ tự niên
Thập tải độc thư bần đáo cốt
Bàn vô mục túc(50) tọa vô chiên

Gi bn

Nửa đời người, sao đường trần quá khổ nhọc!
Mọi sự đành phó mặc trời già.
Hễ tấc lưỡi còn thì vẫn tự tin,
Chỉ đáng thương tội vẫn nghèo như cũ.
Tháng ngày trôi chớp nhoáng, thời không quay lại,
Nhà khách lạnh buồn, đêm đằng đẳng như năm.
Đọc sách mười năm, nghèo đến tận xương.
Chỗ ngồi không tấm lót, mâm cơm không rau mục túc.

Ông khó làm Quản Ninh mãi với nghề đọc sách vì sẽ rơi vào bế tắc khi tiền bạc dự trữ cạn kiệt. Không có phương tiện sinh nhai, bị phe Giản Định tìm diệt, cứu tinh duy nhất của Nguyễn chính là người Minh. Hãy để ý hai chữ “khách xá ” ở câu 6. Khác với “lữ xá ” là quán trọ, khách xá thuộc diện triều đình quản lý. Cũng như Ứng Long ngày trước phải lưu lại “thành nam khách xá” chờ quyết định tổ chức từ Đế Hiện, Nguyễn Trãi ở nhà khách phía nam Đông Quan chờ sắp xếp của Ty Bố chính. Xét tình trạng sinh hoạt hết sức đạm bạc, có thể đoán bài “Thủ vĩ ngâm” chữ Nôm nổi tiếng cũng ra đời vào thời điểm này. Đây là lúc Nguyễn chưa làm việc chính thức cho Minh, nhưng mất danh xử sĩ. Ông chưa nhận lương bổng trong khi tiền dành dụm được từ thời gian làm quan cho nhà Hồ đã hết.

Nửa đời người Nguyễn Trãi tức vào khoảng các năm 1409, 1410. Lối thoát mịt mờ khiến nhà thơ phó mặc số phận. Thoáng buông xuôi cho thấy Nguyễn đã nản cuộc sống lẩn trốn vô vọng. Nhưng noi dấu Trương Nghi hay Phạm Thư, Ông nuôi ước ao tồn tại trong môi trường mới bằng tài năng biện luận của chính mình. Nhắc trường hợp Trương-Phạm kèm ý niệm “thời nan tái ”, thi không quay li báo hiệu biến chuyển tinh thần thầm kín. Nguyễn ngẫm ngợi nhiều về “thời” trên căn bản Chu Dịch, ông luôn ứng xử theo “thời”. Nhiều “đêm đằng đẳng như năm” đã đưa Nguyễn đến bến bờ chính trị khác.

Trương Nghi (? – 309TCN),[9] chính khách sáng giá thời Chiến quốc, vốn người nước Ngụy. Thuở hàn vi tìm công danh ở Sở, do ngoại hình nghèo khó, bị thuộc hạ quan Lệnh doãn Chiêu Dương nghi lấy cắp ngọc họ Hòa trong một buổi tiệc và nọc ra đánh đòn. Người vợ xót xa trách móc. Trương hỏi vợ: “Đầu lưỡi ta còn không?”. Bà đáp: “Còn”. Ông bảo: “Thế thì được.”

Về sau, Tần Huệ Văn vương dùng Trương làm thừa tướng để thi hành chính sách liên hoành. Phục vụ vua Tần, Nghi gây nhiều thiệt hại cho chính nước Ngụy, quê hương ông.

Phạm Thư (? – 255TCN),[10] tự Thúc, người nước Ngụy. Ông nhà nghèo, làm môn khách của đại phu Tu Giả. Khi Giả được cử đi sứ Tề, Thư theo hầu. Tề Tương vương thấy Thư ứng đối trôi chảy nên ban thưởng hậu, muốn giữ lại làm khách khanh. Thư từ tạ xin về. Tu Giả ganh giận Thư, báo tướng quốc Ngụy Tề rằng Thư tiết lộ tin mật cho vua Tề biết. Phạm Thư bị đánh đập đến gần chết. Về sau, Thư làm tướng quốc nước Tần, xui Tần Chiêu Tương vương đánh phá Ngụy. Lúc Tu Giả đại diện Ngụy đến cầu hòa, Thư giả ăn mặc rách rưới yết kiến sứ thần. Giả thương xót hỏi: “Phạm Thúc vẫn nghèo như cũ ư?”

Nhân tiệc chia tay Tu Giả, Thư yêu cầu Ngụy phải nộp tướng quốc Ngụy Tề cho Tần. Biết tin, Ngụy Tề sợ hãi chạy sang Triệu. Sau cùng, vua Tần buộc được Triệu nộp đầu Ngụy Tề.

Trương Nghi và Phạm Thư, hai người nhờ làm tướng nước Tần mà rửa được hận riêng, không nệ gây hại quê hương Ngụy. Nhắc đến họ, phải chăng Nguyễn Trãi bộc lộ oán thù với nhóm Hậu Trần, thủ phạm khiến ông luôn tháo chạy trong tình trạng “vạn tử nhất sinh 萬死一生”, mười nghìn ca chết mt ca sng, phải chịu cảnh “thân bằng lạc diệp không ”, thân bng như lá rng sch? Qua bài thơ, Nguyễn ngầm tin cho bạn biết ông sẽ dựa vào Minh để cởi giận, điểm khởi đầu là hai bàn tay trắng. Sức chịu đựng của Nguyễn đã tới hạn, ông biết “quyền mưu” mới phù hợp lối sống thời loạn. Đây là lựa chọn lớn, Trương-Phạm thuộc dòng chảy “Tung hoành gia”, một trong chín trường phái học thuật Trung Quốc cổ. “Quốc” trong quan niệm của các nhà du thuyết là phần hợp thành của “thiên hạ”, việc từ bỏ “quốc” này để phục vụ “quốc” khác không liên quan đến đạo đức. Vua Hậu Trần đối xử với Nguyễn và thân tộc bằng bạo ngược, vua Minh dùng lễ đối xử với trí thức An Nam. Việc Nguyễn chọn thờ vua Minh không mâu thuẫn giáo huấn Khổng Mạnh nếu xem Đại Việt là thành viên của thế giới Hoa Hạ.(51) Đó cũng là lựa chọn chung của hầu hết nho sĩ đương thời.

Ức Trai rất hăm hở thực hiện dự định của mình.

Ghi chú :

A. Phần chữ Hán thơ Ức Trai lấy từ Nguyn Trãi toàn tp tân biên quyn I, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nhà xuất bản Văn Học (2010). Chủ biên: Mai Quốc Liên. Phần dịch sang tiếng Việt tham chiếu các bản dịch của: Nguyn Trãi toàn tp (1976), Viện Sử học; c Trai di tp b sung – phn văn chương (1994), Bùi Văn Nguyên; Nguyn Trãi toàn tp tân biên quyn I (2010), Trung tâm nghiên cứu Quốc học
B. Phần thơ Nôm Ức Trai lấy từ Nguyn Trãi Quc âm thi tp, Trung tâm nghiên cứu Quốc học, Nhà xuất bản Văn Học (2014). Chủ biên: Mai Quốc Liên. Phần chú giải và tìm hiểu ý nghĩa tham chiếu các phiên bản của: Nguyn Trãi Quc âm thi tp (1957), Trần Văn Giáp/Phạm Trọng Điềm (bản điện tử của Lê Văn Đặng www.han-nom.org); Nguyn Trãi toàn tp (1976), Viện Sử học; Thơ quc âm Nguyn Trãi (1994), Bùi Văn Nguyên; Tng tp Văn hc Nôm Vit Nam tp I (2008), Viện nghiên cứu Hán Nôm; Nguyn Trãi Quc âm thi tp (2012), Phạm Luận; Nguyn Trãi Quc âm t đin (2014), Trần Trọng Dương; Nguyn Trãi Quc âm thi tp (2014), Trung tâm nghiên cứu Quốc học.
C. Các chi tiết lịch sử đều trích từ bộ Đi Vit s ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả: Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long. Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Toàn Thư – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.
D. Các ghi chép của người Minh đều trích từ bộ Minh Thc Lc, quan h Trung quc Vit Nam thế k XIV – XVII (bn dch H Bch Tho), Nhà xuất bản Hà Nội (2010). Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Minh Thực lục – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.
E. Ngày tháng đi kèm niên hiệu là ngày âm lịch.

Chú thích:

(1) Biện lỗ ngư: phân biệt chữ “lỗ 魯”và chữ “ngư 魚”, chỉ sự học hành
(2) Miệng tựa bình: do tục ngữ “thủ khẩu như bình 守口如瓶”, gi mm mép như ming bình (bưng kín). Chỉ sự im lặng chấp nhận, hoặc rộng hơn là nói năng thận trọng.
(3) Đà: nếu là phó từ thời gian, “đã” đối không chỉnh từ “mỗ” câu dưới. Có thể ngày xưa còn mang nghĩa khác, như vật gì đó để dằn, bịt kín nắp bình.
(4) Chỉn: vẫn còn, chỉ có.
(5) Lòng bằng trúc: lòng trống rỗng như ruột cây trúc.
(6) Mỗ: số lượng nhỏ. Mỗ nên hư: dù vướng bận chút gì cũng nên xả bỏ.
(7) Vương Tạ: Họ Vương, họ Tạ. Vương Đạo (276 – 339), Tạ An (320 – 385) đều là đại thần Đông Tấn. Con em hai nhà vọng tộc thường mặc áo đen nên ngõ vào khu họ ở mang tên “Ô y hạng 烏衣巷”, Ngõ áo đen. Câu 5 lấy cảm hứng từ bài “Ô y hạng” của Lưu Vũ Tích (772 – 842): “Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến, Phi nhập tầm thường bách tính gia 舊時王謝堂前燕 飛入尋常百姓家,” Chim én ngày xưa đu trước dinh th Vương T, Nay bay vào nhà trăm h tm thường. Cả câu hàm ý thời cuộc thay đổi, vị thế gia đình đi xuống.
(8) Tiệp dư: một cấp bậc cung phi. Ở đây chỉ Ban Tiệp dư đời Hán Thành đế (trị vì 33TCN – 7 TCN), người ví mình như chiếc quạt trong mùa thu mát, tức bị bỏ rơi.
(9) Chỉn sá: Hãy nên.
(10) Mặc: bỏ mặc, không quan tâm đến.
(11) Để: bỏ, gác lại.
(12) Việc quốc gia: việc phục vụ triều đại, không hàm nghĩa “quốc gia” như ta hiểu bây giờ.
(13) Liệt lạt: kém cỏi.
(14) Mỗ: của tôi.
(15) Tiên sinh: thầy. Có thể thời đó ai đỗ Thái học sinh đều được xưng tụng là “Thầy”.
(16) Vườn chư tử: sách vở của các trường phái học thuật thời Chu-Tần. Các tác gia thường được gọi với chữ “tử” kèm theo như Trang tử, Hàn Phi tử, Mặc tử, Quản tử…….
(17) Lục kinh: gồm các kinh Xuân Thu, Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc. Chỉ chung trước tác của nho gia.
(18) Cả câu ý nói hãy còn tự tin vì biết chút ít chữ nghĩa.
(19) Nẻo từ: từ khi.
(20) Đình Thấu Ngọc: tên một đơn vị kiến trúc trong biệt phủ Côn Sơn của Trần Nguyên Đán.
(21) Tiên: đun, nấu.
(22) Xanh: một loại dụng cụ chứa đồ ăn thức uống để nấu nướng. Miền Nam dùng gần nghĩa với “chảo”.
(23) Tuyết nhũ: hiểu theo nghĩa chữ là thanh tuyết (bám trên cây cối hoặc mái nhà) rũ xuống, nhưng không chắc tuyết từng rơi ở Côn Sơn dù Toàn thư có ghi nhận nước đột ngột đóng băng vào tháng 11 ta năm Thiệu Bình I (1434). Có thể Nguyễn dùng từ văn vẻ để chỉ nước trong suốt tươm ra từ thạch nhũ.
(24) Hy kinh: kinh Dịch, do Phục Hy soạn.
(25) Ba đường cúc: thơ Đào Tiềm “Tam kính tựu hoang tùng cúc do tồn 三徑就荒松菊猶存,” Ba li mòn dù hoang, tùng cúc hãy còn.
(26) Hay một chữ “đinh丁”: khiêm xưng của người có học vấn, chữ đinh có cấu tạo đơn giản dễ nhận ra.
(27) Chỉn: quả thật, đúng là.
(28) Đếm thì: có thể biết được hết thời này thì sang thời khác.
(29) Bằng: như. Cả câu than mình “sinh bất phùng thời” nên không làm được gì.
(30) Mỗ: một chút, ít ỏi.
(31) Bề: phần, việc. Không đối xứng với động từ “đội” ở câu trên. Cặp thực có lẽ mất nguyên gốc.
(32) Rắp: toan.
(33) Hầu: sắp.
(34) Tôi ngươi: người bầy tôi.
(35) Đốt đốt, chà chà: Ân Hạo (? – 356), tướng đời Tấn Mục đế, giữ chức Đô đốc 5 châu Dương, Dự, Từ, Duyện, Thanh. Hạo mang quân Bắc phạt nhiều lần thất bại, bị Hoàn Ôn dèm pha, nên vua truất làm thứ dân, đày đến Tín An (nay là Cù châu, Chiết Giang). Ông không than thở gì, chỉ suốt ngày dùng tay viết lên không bốn chữ “đốt đốt quái sự 咄咄怪事”, chà chà chuyn l!
(36) Chuyển bồng, c bng trôi dt: thơ Đỗ Phủ “Phiêu linh nhậm chuyển bồng 飄零任轉蓬,” phó mc (cuc đi tàn) phiêu linh như c bng trôi dt.
(37) Lãm huy, nhm ánh sáng: chữ dùng trong bài phú “Điếu Khuất Nguyên” của Giả Nghị (201 – 169 TCN). “Phượng hoàng tường ư thiên nhận hề, lãm đức huy nhi hạ chi 鳯皇翔於千仞兮覽德輝而下之,” Phượng hoàng lượn trên cao ngàn nhn (mi nhn bng 6.48 mét), nhm vng sáng ca đc mà bay xung.
(38) Minh dương phụng, chim phượng hót đón mt tri: chỉ người dám dùng ngôn luận để bảo vệ lẽ phải.
(39) Xuất xử: ra làm quan và lui về nhà.
(40) Bên cạnh tác động tích cực là đưa thông tin xưa đến độc giả chỉ am tường quốc ngữ, hai bản dịch Toàn Thư cũng góp phần nhất định trong việc cung cấp nhận thức sai lệch về lịch sử vốn đã bị điều chỉnh sai lệch theo chủ kiến từng triều đại. Dưới đây xét riêng cách dịch đoạn nói về Trần Ngỗi tránh người Minh để đi đến Mô Độ.
Tiên th trương ph bng thu trn th tông tht cp cu thn đu mc dĩ quy đế thoán thân tim hành chí mô đ 先是張輔榜收陳氏宗室及舊臣頭目 以歸帝竄身潜行至謨渡.
Bn dch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiu đính: Trước là Trương Ph yết bng bt nhng người tôn tht nhà Trn và cu thn đu mc đem v. Vua trn đến Mô Đ.
Bn dch Hoàng Văn Lâu, Hà Văn Tn hiu đính: Trước đó, Trương Ph yết bng bt các tôn tht h Trn và đu mc quan li cũ đ đưa v. Vua trn chy đến Mô Đ.
Lời dịch gán sự hà khắc thô thiển cho người Minh, mâu thuẫn với chính sách thu phục mềm dẻo Trương Phụ đang tiến hành. Không khí bức bối vào tháng 10 năm Khai Đại V (1407) trong câu văn đi ngược lại tình hình Toàn Thư ghi nhận vào tháng 7 cùng năm: “Người Minh lùng tìm nhng người n dt rng núi, người có tài có đc………lc tc đưa dn bn thân h v Kim Lăng, trao cho quan chc, ri cho v nước làm quan ph, châu, huyn. Nhng người có tiếng tăm mt chút đu hưởng ng.
Chữ “thu 收” tuy cũng có nghĩa “bắt”, nhưng nghĩa “chiêu tập” phù hợp với những gì đang xảy ra hơn. Trương Phụ chưa phát lệnh bắt người không chống cự vũ trang thì đã có đến 9.000 nhân sự tự nguyện trình diện, vượt 300% so với 3.000 giấy khám hợp phía Minh dự trù. Toàn Thư chỉ biết vỏn vẹn hai nho sĩ từ chối làm quan với nhà Minh, trong đó không có Nguyễn Trãi.
Chữ “thoán 竄” có nghĩa “chạy trốn”, nhưng “thoán thân 竄身” lại có nghĩa “ẩn thân” hay “giấu tông tích”. Vì “thoán thân” nên mới nảy việc “tiềm hành 潜行”, ngm đi. Hiểu “thoán thân” là chạy trốn thì thừa mất hai chữ “tiềm hành”.
Để hiểu rõ hơn cách viết tế nhị của Toàn Thư, ở đây xét thêm câu văn Minh sử nói về sự kiện Phan Liêu thua trận, trốn đi xa (1419).
“Liêu thoán lão qua bân khiển đô chỉ huy sư hựu soái sư vãng 僚竄老撾彬遣都指揮師祐帥師往,” Liêu trn sang Lão Qua, Bân sai Đô ch huy Sư Hu mang quân đui theo.
Như vậy, nếu căn cứ vào hai bản quốc ngữ để dịch ngược lại “Vua trốn (chạy) đến Mô Độ”, câu chữ Hán sẽ là “帝竄謨渡”, đế thoán mô đ hay “帝竄身謨渡”, đế thoán thân mô đ.
Nếu tham chiếu Minh Thực lục sẽ có thêm thông tin Giản Định từng ra hàng quân Minh và được đưa về Bắc. Nửa chừng, Giản Định bỏ trốn cùng Trần Hy Cát. “Thoán thân” có thể chỉ hành động này.
Sử gia nhà Lê viết văn lủng củng hay dịch giả đời nay không nắm hết tâm ý ẩn trong bút pháp thuở xưa? Chúng tôi chọn lý do thứ hai. Tác giả Toàn Thư thấu hiểu người Ngô thâm hiểm nên đánh giá cao trực giác bén nhạy của Giản Định. Dịch giả bỏ quá cả chữ lẫn ý.
(41) Tử Mỹ: Đỗ Phủ (712 – 770), nhà thơ. Khi An Lộc Sơn dấy loạn (755), Đường Minh Hoàng phải chạy đến Kiếm Nam (756). Thái tử Lý Hanh xưng đế tức Đường Túc tông. Đỗ Phủ tìm đến triều đình mới để phục vụ. Đỗ luôn trung thành với nhà Đường dù vua không biết sử dụng ông.
(42) Bá Nhân: Nhà Tấn mất toàn bộ miền bắc vào tay quân Hán Triệu năm 316. Trước đó hoàng thân Tư Mã Duệ đã chạy về Kiến Khang, sĩ tộc miền Bắc theo rất đông. Khi Tấn Huệ đế bị bắt, Duệ xưng vương. Chu Bá Nhân là đại quan của Tấn vương Duệ, các danh sĩ thường hội ở phủ đệ của ông than khóc cảnh mất nước.
(43) Nam kha: Sự tích lấy từ “Chuyện Thái thú Nam Kha” của Lý Công Tá đời Đường. Chuyện kể: Thuần Vu Phần quá chén nằm ngủ dưới cội hòe trước nhà, bỗng thấy người mời vào bọng cây chơi. Trong cây, tồn tại thế giới riêng gọi là nước Đại Hòe. Nhân có kỳ thi, Phần tham dự và đỗ Trạng Nguyên, được vua gả công chúa. Sau đó, Phần nhậm chức Thái thú quận Nam Kha. Hai vợ chồng sống hạnh phúc, sinh được 7 người con. Chợt lân bang Thiện La đến cướp phá, vua sai Phần làm tướng chống trả. Ông không sành việc quân nên thua nặng, bị truất làm thường dân và đuổi về quê. Thuần tức tối vì thân bại danh liệt, kêu to một tiếng rồi tỉnh giấc. Lần theo giấc mơ, Phần chỉ thấy trong cây có tổ kiến lớn.
(44) “Vạn tính ngao ngao đãi bộ cầu萬姓嗷嗷待哺裘,” Muôn h xao xác ch cơm áo: câu 1 trong bài thơ Nguyễn Ứng Long họa vận với người em cọc chèo Nguyễn Hán Anh.[7]
(45) Hòe quốc mộng: còn gọi là mộng Nam Kha. Xem chú thích (43) “Loạn hậu cảm tác”.
(46) Vị dương tình: Kinh Thi, Tần Phong, bài “Vị dương” có câu: “Ngã tống cữu thị, viết chí vị dương. Hà dĩ tặng chi, lộ xa thặng hoàng 我送舅氏,曰至渭陽.何以贈之,路車乘黃,” Ta đưa cu ta đến phía bc sông V. Biết ly quà chi đ tng, tng c xe thng bn nga vàng. Ở đây tả tình cảm nồng hậu của tác giả với cậu mình.
(47) Đỗ lão: Đỗ Phủ từng chạy loạn An Lộc Sơn đến Hàm Dương, bờ bắc sông Vị. Tại đây, cụ sáng tác bài “Xuân nhật ức Lý Bạch 春日憶李白”, Ngày xuân nh Lý Bch có câu “Vị Bắc xuân thiên thụ, Giang Đông nhật mộ vân 渭北春天樹江東日暮雲,” Cây dưới tri xuân V Bc, Mây trong bui chiu Giang Đông.
(48) Thốn thiệt đãn tồn: tấc lưỡi hãy còn, nhắc chuyện Trương Nghi (? – 309 TCN), nhân vật lịch sử thời Chiến quốc.
(49) Nhất hàn như cố: vẫn nghèo như cũ, nhắc chuyện Phạm Thư (? – 255TCN), nhân vật lịch sử thời Chiến quốc.
(50) Mục túc: một loại rau rẻ tiền dùng làm thức ăn cho người nghèo và gia súc.
(51) Thế giới Hoa Hạ: nên hiểu tương tự như “Christendom” hoặc “Islamic Ummah”.

Tài liu tham kho :

[1] Xem Phan Huy Chú, Lch triu hiến chương loi chí, tp 5, Văn tch chí, bản dịch hiệu đính bởi Đào Duy Anh, Nxb Trẻ (tái bản 2014), trang 195.
[2] Quế Đường cho rằng khoa thi 1396 chưa kịp yết tên người đỗ thì họ Hồ soán ngôi. Xem Lê Quý Đôn, Kiến văn tiu lc quyn mt, bản dịch Phạm Trọng Điềm, Nxb Trẻ/Hồng Bàng (tái bản 2013), trang 109.
[3] Xem Lê Tư, Nguyn Phi Khanh: nhà nho khoáng dt, su mun và l thi, phn 3, Tạp chí Da Màu (Hoa Kỳ), http://damau.org/archives/45775.
[4] Xem Hoàng Khôi, Nguyn Trãi toàn tp, tp h, quyn 5, Nxb Văn hóa Thông tin (tái bản 2001), trang 587. Nhận xét: chữ Trung thư đứng trước Ngự sử đài Chánh chưởng rất kỳ quặc vì Trung thư sảnh phụ trách hành chánh, Ngự sử đài chịu trách nhiệm giám sát, đàn hặc. Bài tựa được in 388 năm sau khi ra đời nên nội dung khó còn nguyên thủy.
[5] Xem Viện Văn học, Thơ văn Lý-Trn tp III, Nxb Khoa học Xã hội (1978), trang 438-439.
[6] Xem Trang tử, Nam Hoa Kinh, bản dịch Nhượng Tống, Nxb Văn Học (tái bản 2017), trang 213-214.
[7] Xem Viện Văn học, Thơ văn Lý-Trn, Nxb Khoa học Xã hội (1978), trang 402-403.
[8] Phan Huy Chú, Lch triu hiến chương loi chí, Tp 2, Nhân vt chí, bản dịch Nguyễn Mạnh Duân-Trương Văn Chinh, Nxb Trẻ TPHCM (2014), trang 96-97.
[9] Xem Tư Mã Thiên, S Ký, Trương Nghi lit truyn, bản dịch Phạm Hồng, Nxb Văn Học (2016), trang 521-549.
[10] Xem Tư Mã Thiên, S Ký, Phm Thư, Thái Trch lit truyn, bản dịch Phạm Hồng, Nxb Văn Học (2016), trang 619-636.

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)