Trang chính » Giữa Người Viết & Người Đọc, Lý Luận, Quan Điểm Email bài này

Về Lượng Tử, Tiếng Chim Hót, Văn Chương, và Con Người (kỳ 2/2)

clip_image002

Hình Internet

.5.

Trong bài của mình, ông Tôn Thất Phu cũng choàng vào cổ tôi cái tội “đạo văn”. Và ông dùng “cái tội” ấy (mà ông choàng vào tôi) để “mắng nhiếc” nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng (vì đã dám đăng bài thơ … có “dấu vết đạo văn” của tôi). Từ đó, ông lớn tiếng xỉ vả và mắng nhiếc luôn nhà văn Nguyễn Mộng Giác và các chủ biên khác vì đã không chịu đăng bài ông “vạch trần tội trạng” của tôi (và “tội” của một vài nhà văn, nhà phê bình khác nữa). Và, cứ thế, ông thẳng tiến mạ lị và mắng té tát. Mắng tất. Mắng tất cả những tờ báo, tạp chí đã không chịu đăng bài của ông.

Ông TTP nói tôi đạo văn ra sao? Ông làm việc ấy bằng cách trưng ra câu “Con chim nào vui thì ngứa cổ hót chơi” trong một bài thơ mà tôi cho đăng trên tập san Văn, tháng Hai, năm 1997. Ông nói tôi “đạo văn” của Xuân Diệu, với câu thơ rất nổi tiếng “Tôi là con chim đến từ núi lạ / ngứa cổ hót chơi”. Ông chỉ trưng ra có một câu của tôi. Rồi dùng lời lẽ nặng nề, hằn học. Rồi kết án. Vậy, tôi xin phép ghi lại toàn văn bài thơ trên ở đây.

Mùa Ẩm

Mùa ẩm đã về trên những hàng cây đông giá
Trên những con đường gió thổi lạnh buốt người
Mùa ẩm đã về trong túi áo dạ
Trên hai bàn tay nứt nẻ những tháng ngày xuôi
Một con chim áo quần xơ xác
Gõ mỏ buồn vào cửa kính mơ hồ
Con chim nhỏ đôi mắt nâu tròn bé tí
Phản chiếu đất trời cành lá khẳng khiu giơ

Tôi ngồi khoanh tay nhìn ra trời đất
Đất trời tự tại cũng ngó lại con người
Tôi thở phà ra một hơi trà thơm ngát
Cả không gian như ấm lại trong tôi
Trời đất cỏ cây con người cát bụi
Pha trộn vào nhau thành một cuộc diệu kỳ
Mùa Xuân mùa Hạ mùa Thu mùa Đông cũng thế
Đảo qua đảo lại hoá nên những cuộc lâm ly
Một mình tôi bây giờ ngồi trong trời đất
Gió mưa sương tuyết nhiều lúc cũng dội xuống con người
Tôi như cành cây khẳng khiu có khi mọc ra những chồi rất lạ
Con chim nào vui thì ngứa cổ hót chơi

Tôi đôi lúc cũng để chảy ra một dòng nước mắt
Tôi khóc cười trời đất khóc cười tôi
Đôi khi tôi chúm môi thổi vào trời đất
Một nụ hôn âu yếm gửi cho đời

Mùa ẩm đã về tôi bước ra ngoài sương giá
Ôm con chim quần áo xác xơ
Muốn uống trà nóng không tao cho mày một ngụm
Con chim cười rồi bay mãi vào thơ.
(1997)

Bài thơ tôi nói về mùa ẩm, về (những) con chim, về cây cối, trời đất, và về “cái tôi” hơi buồn cười và tội nghiệp của mình. Còn Xuân Diệu, chàng thi sĩ chuyên về thơ tình rất đáng yêu của chúng ta, của thơ mới, của “Gửi Hương Cho Gió”, là một nhà thơ lớn của Việt Nam. Ai mà chẳng biết! Chính vì tầm cỡ Xuân Diệu như thế, chính vì câu thơ “con chim… ngứa cổ hót chơi” của Xuân Diệu quá sức nổi tiếng, nên tôi mới đưa Xuân Diệu vào bài thơ của mình. Vấn đề ở đây là một sự cố tình, là một lối chơi “liên văn bản”.

Xin nói một chút về chuyện liên văn bản. Khi viết, chẳng hạn, “Anh ta thường xuyên đến đây. Đúng là … con ong đã tỏ đường đi lối về rồi!”, thì cụm“con ong đã tỏ đường đi lối về” là một ẩn dụ quá nổi tiếng của Nguyễn Du, tác giả Đoạn Trường Tân Thanh hay Truyện Kiều (Tiếc thay một đoá trà mi / Con ong đã tỏ đường đi lối về). Khi một tác giả viết câu trên, dùng chỉ tám chữ trong câu bát của hai câu lục bát nổi tiếng đó, người ấy có thể đi nghiêng cụm từ của ND, hoặc có thể để nó trong ngoặc kép, hoặc thường khi là không cần viết nghiêng hay để trong ngoặc kép gì cả, như ở trên. Và không cần chú thích lằng nhằng làm gì (như “đây là ẩn dụ nổi tiếng của Nguyễn Du, nói về… a, b, c, d, v.v.”), vì làm vậy thì chính sự chú thích lằng nhằng kia lại có vẻ như xem thường người đọc quá. Chú thích, in nghiêng, hoặc để trong dấu ngoặc kép thì là sự trích dẫn. Còn cứ viết như thường thì lại là một cách dùng liên văn bản mà tôi sẽ nói kỹ hơn ở phần dưới. Vì đây là một hình ảnh, một câu thơ, một cụm từ quá nổi tiếng trong văn học. Người viết mặc định là người đọc biết đây là sự mượn lại hình ảnh của ND. Mượn lại và không cần ghi chú, vì nó là một ẩn dụ quá nổi tiếng, được biết rộng rãi, của một tác giả cũng quá nổi tiếng. Một tác giả kinh điển. Khi sử dụng như vậy, người viết dùng lại ẩn dụ ấy trong hàm ý tôn trọng và yêu mến Nguyễn Du của Truyện Kiều.

Cũng thế là trường hợp của “(con chim)…ngứa cổ hót chơi”. Đây là một hình ảnh đặc biệt nổi tiếng của Xuân Diệu. Và hầu như ai có một kiến thức vừa phải về văn chương Việt Nam đều biết đến nó. Ngoài ra, tôi cũng không lấy nguyên câu thơ của X.D. Tôi cũng không nói tôi là “con chim” (“đến từ núi lạ”, rồi “ngứa cổ hót chơi”, như X.D. đã tự nói về mình). Tôi nói tôi là “cành cây khẳng khiu”; còn “con chim”, hay chim chóc nói chung, có thể là ẩn dụ cho “sương tuyết”, cho những khó khăn, những điều bất chợt trong đời xảy đến cho tôi, hay, đặc biệt, chim chóc là những bạn bè của tôi, nhất là những bạn văn, ai muốn phá phách, vui chơi với tôi thì cứ việc. Tôi chỉ cần dùng vài chữ nổi tiếng nhất trong câu thơ của ông, cho dù là dùng với một hàm nghĩa khác, là đủ để nhắc mọi người nhớ đến X.D. rồi.

Cách dùng này, mang tính “nhại/mô phỏng” (pastiche) hay “giễu (bằng cách) nhại” (“parody”) theo cung cách thường được sử dụng trong văn chương, đặc biệt văn chương hậu-hiện đại (chưa kể là nó cũng có thể được nhìn thấy ở những lĩnh vực văn hoá khác của đời sống). Nó là một cách thức, một thủ pháp sử dụng văn liệu, chất liệu của quá khứ, đưa quá khứ từ hậu cảnh, ở chỗ khuất, ra giữa sân khấu của tiền trường hiện tại. Nó là một thủ pháp liên văn bản (intertextuality) và chẳng liên quan gì đến đạo văn (plagiarism). Nó “sao chép”, “mô phỏng”, “bắt chước” một điều gì đó (một hình ảnh, một cụm từ, một đoạn văn, một cảnh diễn, thậm chí cả một bài thơ, v.v.), nhưng, cùng lúc mang đến một sự chuyển hoá (transformation) nhất định cái đã có trước. Tuy nhiên, nếu cái được gọi là “pastiche” hay “parody” “chỉ là sự sao chép một điều gì đó từ dòng này sang dòng khác, từ cảnh này sang cảnh khác, từ hình ảnh này sang hình ảnh khác, vấn đề “đạo” sẽ được đặt ra.” (Xem chú thích 18).

“Giễu/mô phỏng”, hay “giễu nhại”, dù tên gọi như thế, nhưng đối với nhiều nhà nghiên cứu, và trong nhiều tài liệu, chúng không nhất thiết là chỉ được dùng để giễu cợt, châm chọc, hoặc tấn công một tác giả hay một văn bản khác. Chúng có thể được sử dụng để tỏ ý tôn trọng, quý mến, tác giả hay nghệ sĩ đã sử dụng nó đầu tiên, trong quá khứ. Ở trường hợp chúng ta đang bàn, thủ pháp này cho thấy sự quý mến X.D., công nhận cách dùng hình ảnh mang tính sáng tạo của ông, chứ chủ đích không phải là sự “châm chọc” hay “tấn công”. (18) Trong thế liên văn bản, theo hướng nhìn của Simon Dentith, nó tạo được sự liên tục, ít nhất, trong việc phối kết, một cách nào đó, những sáng phẩm, một vài đường nét trong một văn bản (hay một vài khía cạnh văn hoá), của quá khứ với một văn bản hiện tại, đồng thời vẫn giữ được một khoảng cách nào đó giữa tác phẩm quá khứ được quy chiếu ấy với tác phẩm hậu hiện đại chứa nét văn liệu, chất liệu quá khứ được sử dụng. Còn Linda Hutcheon thì cho rằng “giễu nhại” (parody) không nhất thiết nhằm tới sự mỉa mai; nó là sự lặp lại để chỉ rõ sự khác biệt hơn là sự tương tự. (19) Câu thơ “Con chim nào vui thì ngứa cổ hót chơi” đó, trong cách dùng với chủ ý của tôi, có thể vui, có thể cũng không hẳn là vui. Có thể nó mang tính mời gọi. Và cũng có thể hơi nghịch ngợm. Nghịch ngợm trong sự quý mến. Vì nó cố tình đưa ông X.D. vào. Đó là một sự nghịch “liên văn bản”, đưa X.D. và sự lãng mạn của ông vào một bài thơ “sau-Xuân Diệu” có cái không khí giá lạnh của mùa, có những nét trơ xám gầy guộc của cành, và cái trắng xoá của trời đất và của tâm hồn người làm thơ.

Với một sự “cố tình” hơn, và rõ ràng là mang tính “giễu nhại”, người ta cũng có thể nhìn bài thơ “Đánh Đu” của Hồ Xuân Hương, viết theo bài “Cây Đánh Đu” trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, trong tinh thần này. (20)

Có thể nói, trong văn chương, có một thủ pháp trong việc viết là: khi bạn dùng một hình ảnh, một cụm từ đặc biệt, một đặc ngữ, một định ngữ quá nổi tiếng, của một tác giả cũng quá nổi tiếng, bạn không cần phải ghi chú hay chú thích lằng nhằng. Người đọc văn khắc hiểu. Bạn tôn trọng kiến thức và sự hiểu biết của họ. Họ sẽ thích thú vì bạn đã biết mượn lại hình ảnh, cụm từ đặc biệt, hay đặc ngữ nổi tiếng đó, để đưa vào câu văn, câu chuyện của mình. Và, nhiều khi, chính vì không để trong ngoặc kép cụm từ đặc biệt ấy, bạn làm cho người đọc khựng lại một chút, lật tìm thật nhanh trong ký ức mình, trong “kho tàng liên văn bản” mình, cái cụm từ độc đáo ấy. Rồi khi nhớ lại được gốc gác của nó, vì nó đã quá nổi tiếng, người ta thấy hạnh phúc, thú vị và sảng khoái. Người ta cũng có thể nhìn ra một nét mới trong cách dùng văn liệu cũ của bạn. Người đọc, qua đó, được nhắc nhở lại một ẩn dụ cũ, một tác giả kinh điển cũ, khi tiếp xúc với một câu văn/câu thơ mới. Bạn tạo được một hiệu ứng liên văn bản.

Trở lại chuyện “liên văn bản”. Cũng thế, khi một người viết, chẳng hạn, “Tôi tin là chuyện sẽ phải như thế thôi. Cái gì của Cesar, hãy trả lại cho Cesar.”, thì người ấy không cần để trong ngoặc kép câu “Cái gì của Cesar, hãy trả lại cho Cesar.” (Lấy một phần trong câu nói nổi tiếng gồm hai phần Cái gì của Cesar, hãy trả lại cho Cesar. Cái gì của Thiên Chúa, hãy trả lại cho Thiên Chúa.”). Cũng chẳng cần chú thích là câu này của Chúa Jesus hay của Đấng Christ, v.v… Câu nói ấy đã quá nổi tiếng để cần phải có thêm một lời chú thích. Không chú thích gì cả lại là một cách tôn trọng độc giả hơn.

Hay câu “Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu!” nổi tiếng của Thế Lữ. Chúng ta có thể đọc thấy nhan nhản những câu văn, đặc biệt là văn vui, có câu thơ này chen vào. Hoặc có những tác giả dùng nó như tựa đề cho một bài báo. Mà chẳng ai phải ghi chú thích lằng nhằng làm gì, kiểu “Trích trong bài ‘Nhớ Rừng’ của Thế Lữ, một nhà thơ thập phần nổi tiếng của văn học Việt Nam”. Đó là một hình thức sử dụng liên văn bản. Tất cả những người cho câu thơ này vào bài văn của mình, và không ghi chú thích, đều đúng. Vì nó đã trở thành một mảnh sáng trong gia tài văn học Việt, trong “liên văn bản” Việt. Khi dùng làm tựa đề cho một bài báo, hay khi đưa câu ấy vào bài văn của mình, và không cần chú thích, tác giả tỏ ý ngầm tôn trọng và quý mến nhà thơ Thế Lữ nên mới dùng lại câu ấy, và mặc định, một cách đúng đắn, là người đọc phải biết câu thơ đó được lấy từ đâu. Vì người viết có sự tôn trọng tác giả của câu thơ bất hủ, nhưng cũng có lòng tôn trọng kiến thức cũng như sự thông minh của độc giả.

Những cách sử dụng “văn liệu” cũ như thế, có thể nói, chính là vài nét sơ lược nằm trong những phương thức, những thủ pháp “parody” và “pastiche” mà tôi đã thử trình bày.

Tất cả những điều tôi nói về vấn đề này không phải để cổ xuý cho một sự dễ dàng, thoải mái trong việc sử dụng văn liệu, trong việc tạo hiệu ứng liên văn bản một cách bất quy tắc. Ta phải tuân thủ những nguyên tắc cần thiết của việc trích văn, và phải cẩn trọng trong trích dẫn. Ta cần hiểu đúng và đủ những quy luật về vấn đề đó. Nhưng ta cũng phải biết về những luật trừ, những ngoại lệ, những thủ pháp trong văn học. Vì tất cả những luật trừ, những ngoại lệ đó, những thủ pháp đặc thù trong văn học đó, cộng với các quy thức, luật tắc căn bản, đã một phần làm nên sức mạnh cùng cái quyến rũ của việc viết và đọc. Chỉ biết những luật căn bản mà không biết đến những luật trừ, những thủ pháp đặc biệt, sẽ làm cho việc đọc bớt đi rất nhiều sảng khoái, thú vị. Việc sử dụng các thủ pháp đặc biệt, việc dùng từ, xếp đặt, kết hợp các từ, các hình ảnh bên nhau, cũng như tay nghề trong việc sử dụng cú pháp, việc tạo những ngữ đoạn với những kết hợp lạ của các từ, các hình ảnh đặt gần kề nhau, vốn thường không được phép trong câu nói bình thường, cái mà giới văn chương gọi là “poetic license”, chính là cái làm cho văn chương, đặc biệt là thơ, trở nên lôi cuốn.

Ông Tôn Thất Phu không cần biết đến những điều đó. Ông cũng không cần biết trong câu ông viết và trích văn của Tạ Chí Đại Trường trong bài của ông: “Trong quyển "Những bài dã sử Việt" ở trang 417, ông Tạ Chí Ðại Trường đã hài hước viết "Ăn cắp văn của một người thì gọi là đạo văn (trường hợp của Bùi Vĩnh Phúc), còn ăn cắp của nhiều người được gọi là học giả (trường hợp của Phạm công Thiện) " Ông cố buộc tội tôi đạo văn, để rồi thoải mái đẩy tên tôi và tên của Phạm Công Thiện vào câu nói của Tạ Chí Đại Trường, cũng là một người bạn vong niên của tôi, để có cơ hội nói lên một câu mạ lị với chúng tôi. (Trong phần “Bài học về sự kiện nhỏ và định kiến lớn”, trong sách NBDSV nêu trên, ông TCĐT viết câu "Ăn cắp văn của một người thì gọi là đạo văn, còn ăn cắp của nhiều người được gọi là học giả" để phân tích và phản bác thái độ của những người có ác ý cho ông là “ăn cắp” các tài liệu—lại là các tài liệu “không có gì là mới”—, để có được cái danh “học giả”). Cho dù ông TTP có cho in đứng những phần ở trong dấu ngoặc đơn, để tỏ ra là đó là chú thích thêm của ông, thì đó vẫn là một cung cách lập lờ, rất không hợp thức. Nếu ông thích bám vào luật thì ông nên hiểu là, trong những trường hợp ông ghi thêm ý của mình vào giữa câu văn của người khác như thế, ông phải ghi chú bên cạnh phần chen vào của ông, đại khái là “chú thích của tôi”, hay “phần thêm vào của tôi”. Ông tạo một sự lập lờ mong đánh bẫy những độc giả đọc nhanh, đọc vội câu ấy, để họ nghĩ đó là đánh giá của nhà sử học Tạ Chí Đại Trường.

Tôi không nghĩ đó là một cung cách làm việc đúng.

Và, như tôi đã viết ở một đoạn trên, ông trích văn của người khác ra để phê phán, dè bỉu (một cách rất buồn cười), nhưng lại trích dẫn sai, không đúng nguyên bản. Chẳng hạn, ông trích văn của tôi:

“Vũ trụ chúng ta đang sống, với tất cả những kì bí ảo huyền sôi sục của nó, là một vũ trụ được con người cảm nhận và thức nhận-trong những giới hạn riêng của chính con người (?). Chữ viết cũng thế. Chúng mở ra những mã văn hóa (?). Mọi người đọc văn mang theo với mình những chìa khóa riêng trong hành trình thám mã của chính mình (?). Văn bạn, như thế, trở nên một trường ám ảnh, một trường thu hút, mà mọi người đọc, trong thể thức kinh nghiệm và mộng mơ của chính hạn cũng góp phần sáng tạo với nhà văn, nhà thơ. “. Và:

“Viết là tôn trọng sự tự do của kẻ khác, nói như J. P. Sartre.  Viết cũng là mời gọi sự tự do. Sartre không muốn bàn về thơ.  Cái viết, trong suy tư và nhận thức của ông, chỉ nhắm vào văn. Ông có cái lý của ông trong những biện luận để trình bày thái độ và cung cách "dấn thân" thân" của mình. Nhưng thật ra, viết như một sự tôn trọng tự do của kẻ khác, nếu áp dụng vào việc viết và đọc thơ, cũng không có gì khác….”

Tất cả những chỗ (mà tôi cho đi nghiêng để tiện trình bày) là những chỗ đã bị viết sai. Chúng làm cho những đoạn văn ấy trở nên ngô nghê, khó hiểu được nghĩa lý. Những dấu hỏi trong ngoặc đơn là của riêng ông TTP thêm vào. Để rõ ràng và công bằng, tôi xin phép sửa lại cho đúng những chỗ đó: “thức nhận-trong” phải là “thức nhận—trong”; “Mọi người” phải sửa lại cho đúng là “Mỗi người”; “Văn bạn”phải sửa lại là “Văn bản”; “mọi người” phải sửa lại thành “mỗi người”, “thể thức kinh nghiệm” phải được sửa lại cho đúng thành “thế giới kinh nghiệm”;“chính hạn” phải được sửa lại thành “chính hắn”; “sự tự do” phải sửa lại là “sự tự do đó”; “cung cách “dấn thân” thân” phải được sửa lại thành “cung cách ‘dấn thân’”.

Như thế, phong cách làm việc của ông Tôn Thất Phu, với sự dè bỉu, khinh thường, lên án, chê bai người khác, khi đưa văn của họ ra để phê phán, nhưng lại bất cẩn hay cố tình viết sai, bóp méo, thay đổi ngôn ngữ của nguyên bản, là để dễ dàng cho ông trong việc đánh giá người khác đã viết “văn loạn”. Điều đó, tôi nghĩ, không có lợi cho ông. Khi trích văn người khác, đặc biệt là khi trích văn người khác ra để phê bình hay phê phán họ (chưa nói đến việc “lên án”), ông TTP phải kỹ càng, cẩn trọng trong việc trích dẫn, và nên thành thật với lương tâm mình và với người đọc—chưa kể là ông phải công bằng với người được trích văn. Làm như thế, ông giữ được sự tôn trọng của mọi người.

Tất cả mọi thứ, ông không cần tìm hiểu kỹ càng, cứ viết cho xong, cho qua, mà không cần biết người đọc nghĩ gì. Như khi ông viết câu này: “Tôi là kẻ tản nhàn, lười biếng, ẩn dật, lánh bụi; "ta van cát bụi trên đường, dù nhơ dù sạch đừng vương gót này" (HMT). Khi còn thơ, thích đọc sách nhưng chẳng thâu thái được bao nhiêu, vì thế chẳng bao giờ tôi viết.” Câu thơ ông trích đó chính là của Vũ Hoàng Chương, trong bài “Nguyện Cầu”, chứ không phải của HMT (Hàn Mặc Tử) như ông chú thích.

Trích dẫn phải đề tên tác giả cho đúng. Đó là Luật.

.6.

Trong bài, ông Tôn Thất Phu cũng ra vẻ dè bỉu, chê bai tôi là không biết viết tiếng Việt. Từ đó ông kết tội tôi là “vong bổn”. Là “nô lệ”. Là “mất gốc”. Là “bất chính”. Là “lừa đảo”. Là “huỷ hoại văn hoá nước nhà”. Là làm hại, làm “nguy cho thế hệ mai sau của con Viet ở hải ngoại” (Rất nhiều từ “Việt” trong bài của ông được ông viết thành “Viet”, không dấu). Ông hùng hổ và hung hăng “lên án”! Chuyện Tagore ngày xưa bị bọn “học phiệt” ở chính nước ông chê là không biết viết tiếng Bengali không biết có kinh khiếp đến như thế này không. Tôi thì không sao, vì mình… không phải là Tagore; nhưng, ngẫm nghĩ, thật buồn cho nhà đại thi hào của Ấn Độ. Hoàn cảnh ông thật đáng đau xót !

Đọc bài viết của ông Tôn Thất Phu, ta sẽ thấy được con người, tính cách và thái độ của ông. Ngoài ra, ta cũng có thể thấy được sự hiểu biết về câu cú, chính tả, chữ nghĩa tiếng Việt của ông nữa. Ông bảo tôi dạy ngôn ngữ và văn hoá Việt mấy chục năm, lại viết lách cũng mấy chục năm, mà lại sử dụng ngữ pháp Anh để viết tiếng Việt. Ông nhận xét tôi “có giọng văn rất Mỹ với cú pháp hành văn của tiếng Anh. Văn vong bổn tiêu biểu qua: …Sự tiếp nhận vì thế, bây giờ, sẽ là một hiện tượng giao thoa… (mở đầu đoạn văn thứ 3 ở trang 18) …Đọc thơ, cũng như đọc văn, như thế, không còn là đọc về người khác. (mở đầu đoạn văn thứ 3 ở trang 20) … ) …Đọc, bây giờ, là để đi tìm lại cái hồn của chúng ta…. (mở đầu đoạn văn thứ 4 ở trang 20)”.

Tôi chỉ muốn thưa nhỏ nhẹ như thế này: Ngày xưa, các cụ ta hay viết văn theo lối biền ngẫu (“biền”: hai con ngựa chạy song song với nhau; “ngẫu”: chẵn đôi, từng cặp). Chẳng hạn: “Ta thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, dẫu nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng” (Hịch tướng sĩ). Đó là một bài văn, một bài hịch rất hay của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Nó khơi dậy lòng yêu nước với lời văn đầy hào khí, sôi sục lòng căm thù giặc, kích thích ý chí quyết chiến quyết thắng chống giặc của toàn dân.

Đó là giọng văn Việt và cú pháp Việt, ngày xưa. Cho dù, thật sự, nó cũng không phải thuần Việt đâu. Nó phát xuất từ thời Nguỵ Tấn Nam Bắc Triều (220 -589). Thế rồi câu văn Việt, theo dòng thời gian, có những thay đổi khiến cho hiện tại, nếu ta còn thấy ai dùng dạng câu văn biền ngẫu trong văn chương, ta sẽ cho là người ấy “cũ” và “mòn” quá.

Hãy chạy nhanh đến thời gần đây. Chẳng hạn, hãy thử chú ý đến dạng văn chương của Hoàng Ngọc Phách trong “Tố Tâm”. Đấy là một tác phẩm được đánh giá cao khi nó xuất hiện. Chỉ xét về mặt văn chương, câu văn lúc ấy đã khác khá xa cái thời văn biền ngẫu. Có thể đọc một đoạn văn dẫn nhập của nhà văn HNP về tác phẩm của mình:

Nguyên do những bực có văn chương tư tưởng như vậy, bên cái hy vọng to lớn về việc công ích, thường vẫn hay mơ màng những cảnh tuyệt vời của ái tình, cố tìm cho được một người cùng mình mà đi tới những cảnh mơ màng ấy, không nghĩ cho rằng phàm những cảnh viển vông phảng phất tự ta mơ tưởng mà vẽ ra trên đường đời cũng như giọt sương buổi sáng lóng lánh trên ngọn cây, như ánh sáng buổi chiều thướt tha trên đỉnh núi, xa trông thì đẹp lạ thường, nhưng tìm đến tận nơi thì tan đi hết, không còn thấy gì là đẹp nữa. Cho nên lúc hai người nam nữ rủ nhau mơ màng đi tìm những cảnh ấy chợt gặp một quãng gai góc đầy đường, rẽ nhau lạc lối; hoặc vì lứa đôi trắc trở với người biết trước, hoặc vì duyên nài phận ép với người đến sau, mà diễn nên bi kịch, bởi một nỗi tính tình không hợp với người đến sau đó, hay lòng đã đem gởi đi cho người biết trước kia rồi, không lấy lại được nữa, nên thất vọng, ngã lòng, điều đau đớn đưa ngay đến. (Hoàng Ngọc Phách, “Tố Tâm”, đoạn trích trong “Mấy Lời của Người Chép Truyện”)

“Tố Tâm” của HNP ra đời vào năm 1922, nhưng chỉ sau đó ít lâu, câu văn Việt hình như đã có sự khác đi nhiều. Câu văn dường như ngắn hơn, gọn hơn, sáng hơn, ít đăng đối hơn. Ta hãy đọc thử một đoạn văn của Ngô Tất Tố, trong tác phẩm “Lều Chõng”, xuất hiện trên báo chí vào năm 1939, tức là chưa đến 20 năm sau “Tố Tâm”:

Cái hoa gạo nở đầu tháng giêng đã được tán là điềm tốt. Con khanh khách kêu trên các đình giữa ngày khai hạ, cũng được tôn là tin mừng. Câu chuyện tuy duy nhất chỉ quanh quẩn có thế, nhưng sự nô nức đã bắt người ta cứ phải chiếu đi chiếu lại bàn tán hết ngày ấy sang ngày khác, đầu làng cuối làng, thường có những tiếng cười nói rầm rầm. Hôm nay lại càng tấp nập hơn nữa…

Từ lúc trời mới sáng rõ, một hồi mõ đã tiệp tiếng vang của ba hồi trống cái khua động góc trời trên đình. Với chiếc dải lưng lụa đỏ bỏ múi sang cạnh sườn, lý trưởng không khác phó lý, trương tuần, tung tăng vác tay thước chạy nhào từ đình đến điếm. Giữa một hồi tí u của những tiếng hiệu ốc đi đôi với dịp hiệu sừng, người ở các xóm kéo ra tíu tít. Chỗ này vài chục đàn ông đi với mai, thuổng, xẻng, cuốc gậy nạng và câu liêm; chỗ kia mươi người đàn bà và những quang, thúng, sảo, sọt lủng lẳng dưới đầu đòn gánh. Một toán lại một toán. Một lũ lại một lũ. Ống quần xắn trên đầu gối, gấu váy kéo lên đến nửa bụng chân, các toán, các lũ lần lượt tiến vào sân đình.”

Ta có thể thấy rõ được sự thay đổi của câu văn Việt.

Đó là ta chưa nói đến cái văn phong của con người, của vùng miền. Như cái giọng văn, chất văn và câu văn của Hồ Biểu Chánh chẳng hạn. Nhiều tác phẩm của nhà văn này xuất hiện vào khoảng thời điểm ra mắt của “Tố Tâm” và “Lều Chõng”. Và đó là ta cũng đã bỏ qua những dạng tiểu thuyết xuất hiện trước đó, những tiểu thuyết không còn ảnh hưởng chương hồi của Trung Quốc ngày trước, mà cho thấy những ảnh hưởng trong việc tiếp nhận tiểu thuyết theo lối phương Tây sau này, như “Truyện Thầy Lazaro Phiền” của Nguyễn Trọng Quản (1886), “Hoàng Tố Anh hàm oan” của Trần Chánh Chiếu (1910), “Truyện nàng Hà Hương” của Lê Hoằng Mưu (1912). Câu văn của tất cả những tiểu thuyết ấy đều khác câu văn Việt sau này, chẳng hạn câu văn của Ngô Tất Tố như đã dẫn trên.

Câu văn của Ngô Tất Tố vẫn rất gần với câu văn của những người cầm bút hiện tại, cho dù nó có tính nghiêm cẩn hơn. Nhưng văn chương Việt, và cùng với nó là câu văn Việt sau này, cũng đã cho thấy có những thay đổi mới. Hãy thử đọc văn của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn chẳng hạn. Ta thấy có sự thay đổi khá rõ nét so với câu văn của những tác giả thời trước. Rồi, sau đó, người đọc tiếp cận với những câu văn ngắn, sắc, lạnh, như đinh nhọn, như dao sắc, đâm cứa vào người đọc của Nguyễn Huy Thiệp; những câu văn cũng sắc lẻm, và ngọt, như từng nét dao cau, rất nhiều khi có chà xát thêm muối mặn của Phạm Thị Hoài; những câu văn đẹp, óng, đôi khi thấy được cả cái chất men lóng lánh của chúng trong từng hình ảnh của Đặng Thơ Thơ; những câu văn nhiều chỗ đâm như lóc thịt mà có chỗ lại như mưa đằm của Trần Vũ; những câu văn dẻo quẹo, ngọt và mềm, thật thà và tưng tửng chất miền Nam của Nguyễn Ngọc Tư. Vân vân.

Câu văn Việt có thay đổi.

Lối đặt câu của người Việt, nói chung, có một số khác biệt so với người Âu Mỹ. Tôi đã có viết một bài về vấn đề này. (21) Nhưng, những cách diễn tả, thể hiện qua những câu văn khá mới, so với lối viết chung của nhiều người cầm bút, của những nhà văn mà tôi đã thử nêu tên ở trên, đã cho thấy là họ vẫn là những người viết văn tiếng Việt. Họ làm mới, làm lạ câu văn, theo những lối riêng, những phong cách đặc biệt của họ. Một cách nào đó, chỉ xét riêng trong khía cạnh diễn ý, bố (trí) câu, hành từ, họ là những con người có nhiều nỗ lực trong việc diễn ý, tạo câu. Họ làm chúng ta càng yêu tiếng Việt hơn nữa, cho dù họ có nét khác người khác.

Theo dõi chữ viết và cách đặt câu của nhiều người cầm bút, ở trong cũng như ở ngoài nước, tôi có lưu ý đến những tác giả có một phong cách viết—dù vẫn thể hiện được sự trong sáng và giàu đẹp của tiếng Việt—gần gũi (hơn nhiều người cầm bút khác) với cách thức diễn đạt gần với dòng chảy của ngôn ngữ Âu Mỹ. Họ làm được như vậy với những nỗ lực riêng của mình để, một mặt, vẫn giữ được sự giàu đẹp và trong sáng của tiếng Việt, một mặt, tìm cách giúp cho tiếng Việt diễn đạt được thật rõ, theo ý họ, trong những trường hợp có thể, những ý tưởng tế nhị mà, nếu không có những định ý và cố gắng riêng, không chắc họ sẽ viết như thế. Và, trong giới viết lách Việt Nam, tôi nghĩ là khuynh hướng cho thấy sự thể hiện những nỗ lực này đang phát triển.

Câu của Nguyễn Hưng Quốc, một nhà phê bình hải ngoại, giáo sư môn tiếng Việt, được trình bày dưới đây là một thí dụ. Với phong cách cho những ngữ đoạn bổ sung chen vào giữa mệnh đề chính, thường là sau một động từ hay một liên từ. Cách viết này rất khúc chiết, mạch lạc. Nó cho thấy tác giả có một ý thức ngữ pháp rất cao. Câu văn mà đa số chúng ta viết ít đi theo lối này:

” (…) [C]ả chủ nghĩa hiện đại lẫn chủ nghĩa hậu hiện đại đều không phải là những bộ thủ pháp nghệ thuật, cũng không phải (chỉ) là những giai đoạn lịch sử mà là, nếu không muốn nói chủ yếu là, những điều kiện tri thức, những khí quyển văn hóa, những trào lưu sáng tác, những hệ mỹ học, và thậm chí, là những phong cách tư duy nữa (…)” (Nguyễn Hưng Quốc, trích trong bài “Toàn Cầu Hóa”, sách “Văn học Việt nam thời toàn cầu hóa”. California: Văn Mới, 2010). Một câu khác, cũng của cùng tác giả: “Văn hóa Việt Nam từ năm 1945 đến nay cũng thế. Cũng là một thứ văn hóa nguyên hợp hay, dùng theo chữ được chọn cho bài viết này, văn hóa lai ghép.” (trong bài “Tính lai ghép”, sách đã dẫn trên).

Một tác giả hải ngoại khác:

“Con người hậu hiện đại không còn ngây thơ để tin rằng trong chính mình chỉ có một bản thể và bản thể ấy là phần tử của một thế giới. Họ thấy rằng "bản thể" và "thế giới" là những thứ hiện thực đa tầng và đa phương. Để sống, họ phải chọn lựa một trong những "thế giới" và một trong những "bản thể"; hay, tốt nhất, họ phải tạo cho riêng họ một thế giới và một bản thể nào đó. (…)

Con người hiện đại đã dựng nên những "grands récits" mới, tin vào chúng như những biện pháp hữu hiệu, và sử dụng chúng để "cải tạo" thế giới. Cách mạng về lý thuyết văn học dẫn đến "hyper-textuality"; cách mạng về tư tưởng dẫn đến "hyper-existentiality"; cách mạng về dục tính dẫn đến "hyper-sexuality"; cách mạng về xã hội dẫn đến "hyper-sociality"; và cách mạng về khoa học kỹ thuật dẫn đến "hyper-materialily". Tất cả những kết quả (hay hậu quả) này xảy ra đồng thời và trình bày trước mắt con người đương đại một loại "hiện thực" chưa từng có "hiện thực thậm phồn".” (Trích từ “Viết, từ hiện đại đến hậu hiện đại” của Hoàng Ngọc-Tuấn, trong sách “Văn học hiện đại và hậu hiện đại qua thực tiễn sáng tác và góc nhìn lý thuyết”. Văn Nghệ, 2002, California)

Tác giả dẫn thượng là nhà nghiên cứu, dịch giả Hoàng Ngọc-Tuấn, với một phong cách gần lối viết của đa số người Việt hơn nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc. Nhưng đây cũng là một lối viết rất khúc chiết, không nhiều người viết tiếng Việt sử dụng, với một câu phức-hợp dài (trong đoạn sau), liên kết bởi nhiều cụm chủ-vị/nhiều mệnh đề mang tính song song, được tách ra bằng những dấu chấm phẩy. Một loại dấu câu cũng không nhiều người viết Việt Nam dùng. Nhưng chính dấu câu này, cùng với dấu phẩy dùng theo cách NHQ ở trên, tách mệnh đề chính ra khỏi những ngữ đoạn chen kẽ, là những dấu câu tạo sự mạch lạc và chính xác cho một câu phức, hoặc phức-hợp, dài. Ở tác giả này, trong đoạn thứ nhất, ta cũng thấy cách dùng chen kẽ, cho một từ hay một ngữ đoạn ngắn vào một mệnh đề liên kết bằng liên từ “hay”. Và ngữ đoạn chen kẽ này nằm ngay sau liên từ đó. Ngoài ra, HN-T còn dùng dấu gạch ngang, một loại dấu câu khác ít được người viết Việt sử dụng. Một dấu câu cần thiết tạo hiệu ứng tách biệt để nhấn mạnh.

Còn đây là một đoạn văn của một nhà phê bình, nghiên cứu văn học trong nước:

“Triết học Tây phương sau Kant, với sự phát triển tột bậc của khoa học tự nhiên, dần dần nghiêng về nhận thức luận. Và, một khi khoa học tự nhiên, nhất là vật lý học, đóng vai trò chủ đạo trong soi sáng mọi lĩnh vực của thế giới, thì triết học, do hết đất dụng võ, đành phải quay ra nhận thức mảnh đất còn phủ bóng dưới chân của chính khoa học tự nhiên. Triết học, vì thế, trở thành nhận thức luận, tức khoa học của các khoa học và, do đó, xa rời bản thể học (…)” (Đỗ Lai Thuý, trích trong “Bùi Giáng, giải minh người minh giải”, tại mạng Văn Hoá Nghệ An)

Một cấu trúc với những ngữ đoạn chen kẽ đứng sau những liên từ “và”, cùng nhiều ngữ đoạn khác được đặt nối tiếp nhau, tách biệt khỏi nhau bằng những dấu phẩy, để tạo sự chính xác, mạch lạc cho ý tưởng của những câu dài, có tính phức hoặc phức-hợp. Vẫn là câu tiếng Việt, nhưng gần với lối chấm câu, với dòng chảy của câu Âu Mỹ. Ý thức của người viết về các thành phần của câu rất cao.

Một tác giả trong nước khác:

“(…) Như một tiêu điểm để quan sát thực trạng giáo dục, do đó, không phải ngẫu nhiên, các đề thi, đề kiểm tra môn Ngữ văn thường nhận được nhiều sự quan tâm, bình luận, “săm soi” hơn các môn học khác. (…) Ở bài làm thứ hai, theo tôi, độc đáo hơn, thí sinh coi “văn chương” chính là “người bạn”, “tôi muốn nắm lấy bàn tay bạn” là hành động thể hiện sự tri ân của cá nhân người viết đối với những giá trị mà văn chương đem đến trước hết cho riêng mình.”

(Trần Ngọc Hiếu, trích trong “Đề thi môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông: ‘Giữa “định lượng” và “định tính’”, tại hải ngọc’s Weblog)

Giống như các câu văn của dịch giả Hoàng Ngọc-Tuấn ở trên, các câu văn của nhà nghiên cứu, phê bình Trần Ngọc Hiếu cũng có nhiều gần gũi với lối diễn đạt của đa số người cầm bút Việt Nam. Điểm đáng lưu ý nơi những câu văn của ông là ông cũng chen kẽ nhiều từ, nhiều cụm từ vào giữa các mệnh đề dài, với các trạng ngữ chỉ sự so sánh hay chỉ vị trí đứng đầu câu. Các thành phần được tách khỏi nhau bằng dấu phẩy. Cách viết ấy tạo sự khúc chiết, mạch lạc, đưa dẫn người đọc vào những nẻo lý luận chặt chẽ của tác giả.

Ngoài những tác giả tôi thử kể trên, cho thấy những nỗ lực riêng trong việc tạo câu, viết câu tiếng Việt của họ để phản ánh tư tưởng mình một cách chính xác, cho dù họ trình bày tư tưởng của mình trong một dòng chảy phức tạp của ý nghĩ, nhiều tác giả Việt Nam khác cũng đang có khuynh hướng diễn ý, dựng câu theo lối này. Ở một mức độ nào đó, cách dựng câu như thế có thể không hết sức gần gũi với cách viết bình thường của nhiều người viết Việt, và, chỗ này chỗ khác, có thể có những biểu hiện như sáp đến gần thứ ngôn ngữ viết của Âu Mỹ, đặc biệt với cách chấm câu. Thế nhưng, tính khúc chiết, mạch lạc, chính xác lại được đẩy lên cao. Ngôn ngữ, chữ viết, cùng với sự tạo câu, diễn ý là một dòng chảy sinh động. Nó sẽ tiếp tục thay đổi. Từ loại văn biền ngẫu ngày xưa đến loại văn của những tác giả hiện đại bây giờ, cụ thể qua nhiều tác giả mà tôi đã thử trình bày trong phần này, tôi nghĩ cách diễn ý, đặt câu của ta sẽ tiếp tục dần dần có một số đổi thay. Đó là điều tự nhiên khi con người mở rộng các biên giới văn hoá của họ.

Đó không phải là sự vong bản hay nô lệ.

Ngoài ra, còn phải kể đến yếu tố phong cách ở đây. Mỗi người viết có thể có một phong cách khác nhau. Chưa nói đến phong cách của văn chính luận, nghiên cứu, phê bình có thể khác với phong cách của một bài văn trong một thể loại khác. Như thế, phong cách cá nhân cộng với phần nào phong cách của thể loại mà người viết lựa chọn khi cầm bút, cộng với nỗ lực riêng của mỗi người để diễn trên mặt giấy các ý tưởng, nhiều khi rất phức tạp của mình, sẽ có thể đưa đến những sự thể hiện khác nhau.

Điều mà tôi thấy tạo nên sự khác biệt rõ rệt nhất trong câu văn của một số nhà nghiên cứu, phê bình, chẳng hạn những người mà tôi đã thử đưa thí dụ ở trên, so với phần lớn người viết Việt khác, là cách dùng dấu chấm câu. Nhất là dấu phẩy và dấu chấm phẩy. Đặc biệt là dấu phẩy. Nếu để ý, ta có thể nhận ra là trong cách viết của những tác giả trên, đặc biệt nơi NHQ và ĐLT, có rất nhiều ngữ đoạn chen kẽ, được đặt xen vào giữa các thành phần chính của câu. Nhiều khi các ngữ đoạn chen kẽ này lại được đặt nối tiếp nhau, liên tục, tạo nên sự phức tạp, khi ta nhìn một cách tổng quát. Nhưng khi nhìn kỹ, chính các dấu phẩy đã làm rất tốt phần vụ của chúng: chúng giúp các ý nghĩ cũng như mạch văn được tách ra một cách mạch lạc, tạo sự khúc chiết cho các ý tưởng nối tiếp, dàn trải bên nhau. Và cái mà ta có thể nhận rõ, nếu chú ý đủ, là rất nhiều ngữ đoạn chen kẽ như thế, có thể được đặt sau những liên từ/từ nối, hay sau những giới từ, hoặc thậm chí sau động từ “là”, “thì”, v.v. Hoặc, có khi, một trạng từ chỉ nơi chốn, thời gian, v.v., hay một trạng ngữ (adverbial phrase), được dùng kẹp giữa hai dấu phẩy trong dòng chảy của một câu.

Cách viết ấy, với lối đặt câu bao gồm nhiều ngữ đoạn chen kẽ, và, đặc biệt, cách dùng dấu phẩy như vừa nói, theo sự nhận xét của tôi, nói chung, có thể nhận thấy trên sách báo Việt, cả ở ngoài và trong nước, chỉ trong khoảng ba hay bốn chục năm trở lại đây. Và có lẽ chuyện đó đã diễn ra với giới viết lách ở ngoài nước trước. Điều ấy hình như có lý do của nó. Như câu văn của người Việt đã bỏ đi nhiều sự đăng đối, tính biền ngẫu, sau khi những người cầm bút thuộc thế hệ cha ông ta đã đến gần với văn chương và chữ viết của phương Tây, của Âu Mỹ hơn, sau một thời gian dài chịu ảnh hưởng văn chương theo kiểu tiểu thuyết chương hồi của Trung Hoa.

Việc đọc những nhà văn trên thế giới của người cầm bút Việt đúng là cũng có thúc đẩy việc đến gần ấy. Đó chỉ là một sự chuyển động hết sức tự nhiên. Dù cho nó cũng đòi hỏi một ý thức cao độ trong việc diễn ý.

Câu văn thay đổi như con người, như tính tình, phong cách của từng người viết. Tôi không hề có ý đưa ra những câu văn mà tôi tạm trình bày ở trên để xem chúng như những kiểu mẫu, những phong cách cần noi theo. Chúng chỉ là những câu, những cách viết, trong cảm quan riêng của tôi, ở những mức đậm nhạt khác nhau, phản ánh được một hướng viết câu chia sẻ nhiều nét khúc chiết của cách chấm câu, dựng câu theo phong cách Âu Mỹ. Nhưng chúng vẫn là những câu văn Việt.

Có thể tìm thấy được nhiều tác giả Việt khác cũng có lối đặt câu, phát triển câu như thế.

Tôi không nghĩ lối đặt câu theo hướng tiến gần đến lối diễn đạt mang nhiều nét mạch lạc, chính xác và gần với phong cách Âu Mỹ ấy (với những dấu phẩy dùng theo cách mà ta đã bàn) là tốt hay xấu hơn lối đặt câu theo lối chúng ta vẫn dùng. Và ngược lại, lối sử dụng cách viết câu của nhiều người Việt, với các quy tắc khá bền vững của nó, cũng không phải là điều tốt hay xấu hơn lối diễn đạt kia. Tất cả chỉ là sự chọn lựa và nỗ lực riêng của mỗi người viết để có thể trình bày thật đúng ý mình như mình có thể thực hiện.

Tôi tự nghĩ mình cũng là một người có cách viết hướng về lối sử dụng cấu trúc câu, ở khía cạnh này hay khía cạnh khác, gần với những cách mà tôi đã thử phân tích ở trên. Tôi không nghĩ đó là một điều tốt hay xấu. Tất cả chỉ là sự thôi thúc trong mình khi cố gắng diễn đạt những ý tưởng, nhiều khi phức tạp, bằng một lối diễn tả cố gắng đến gần tối đa sự chặt chẽ, khúc chiết mà mình mong muốn.

Để kết phần này, tôi ghi lại ở đây, một lần nữa (vì tôi đã có dịp làm chuyện này trước đây), hai cách dịch câu cuối cùng của tác phẩm “Xứ Tuyết”, một tác phẩm rất đẹp và nổi tiếng của nhà văn Nhật Bản Yasunari Kawabata, người nhận giải Nobel văn học vào năm 1968. (22) Hai cách dịch này, một của dịch giả Anh, một của dịch giả Pháp. Xem hai cách dịch, cách tạo câu, ta sẽ thấy cách viết câu mà ông TTP cho là theo ngữ pháp Anh lại là cách dịch, cách tạo câu của dịch giả Pháp. Câu của dịch giả Anh thì lại là một câu, có lẽ, gần với lối viết của nhiều người Việt hơn. Như thế, cách tạo câu không nhất thiết phải bám vào nguồn gốc hay “quốc tịch” của một người cầm bút nào. Sự đọc lẫn nhau kéo con người lại gần nhau hơn. Nhất là vì chúng ta hiện đang sống trong một thế giới phẳng. Con người không còn sống cô lập như xưa nữa.

Cùng với hai câu dịch Anh và Pháp này, tôi cũng đưa ra một câu tiếng Việt của một dịch giả Việt. Sau đó, tôi xin phép đưa ra đôi lời nhận định trong cảm quan của riêng mình. Bản tiếng Anh, của E. G. Seidensticker, dịch từ năm 1956:

"As he caught his footing, his head fell back, and the Milky Way flowed down inside him with a roar."

(Snow Country – Yasunari Kawabata. Bản dịch của Edward G. Seidensticker từ bản Nhật ngữ, A Wideview/Perigee Book, 1981)

Bản tiếng Pháp:

"Il fit un pas pour se reprendre, et, à l’instant qu’il se penchait en arrière, la Voie lactée, dans une sorte de rugissement formidable, se coula en lui."

(Pays de Neige – Yasunari Kawabata. Bản dịch của Bunkichi Fujimori & Armel Guerne từ bản Nhật ngữ, Editions Albin Michel, 1960)

Bản tiếng Việt của Chu Việt:

“Chàng tiến lên một bước để đứng cho vững và trong khoảnh khắc ngả đầu về phía sau, dải Ngân Hà chảy tuột vào người chàng trong một tiếng gầm thét dữ dội.”

(Xứ Tuyết – Yasunari Kawabata. Dịch từ bản Pháp ngữ của những dịch giả nêu trên, có tham khảo bản Anh ngữ của Edward G. Seidensticker, NXB Trình Bày, 1969).

Tôi xin phép tạm nhận xét: Câu trong bản tiếng Anh là một câu dịch khá chân phương và gọn. Có một nét đẹp trong sự chân phương đó. Câu trong bản tiếng Pháp có cú pháp phức tạp và, trong cảm nhận của riêng tôi, công phu và đẹp hơn câu tiếng Anh. Nó cho một ngữ đoạn, là một trạng ngữ chỉ thời gian, chen kẽ vào mạch câu, và đứng ngay sau một liên từ—liên từ “và” / “et”. Đặc biệt, chữ "lactée", trong "la Voie lactée" của tiếng Pháp, trong mối cảm nhận riêng tư, cho tôi một rung cảm đẹp, kéo tôi về những ngày thơ ấu. Cụm "rugissement formidable", cũng như cách tổ chức ngữ pháp toàn câu với âm điệu đáng yêu của nó, cũng tạo một hiệu ứng thích thú trong tôi về mặt âm học. Câu tiếng Việt của Chu Việt cũng làm tôi rất thích thú, đặc biệt ở chữ "tuột" trong cụm "chảy tuột vào người chàng”. Nó mạnh mẽ, đúng ý và đúng chỗ. Âm điệu cả câu đẹp.

Con người mỗi ngày mỗi đến gần nhau hơn trong cái đọc và cái viết của mình. Sự chia sẻ, nối kết, học hỏi, trao đổi, tìm hiểu giữa những con người, từ những nền văn hoá khác nhau, là một nét đẹp của nhân loại.

Việc kiến tạo ngôn ngữ để diễn đạt chính xác và khúc chiết tư tưởng của mình, những tư tưởng nhiều khi rất phức tạp, là một nỗ lực riêng của mỗi người cầm bút. Đó là những cố gắng và trải nghiệm tốt đẹp của mỗi nhà văn, nhà thơ, của mỗi người viết chữ. Điều đó không phải là sự vong bản hay nô lệ.

.7.

Tất cả những điều tôi đã thử trình bày ở những phần trên, tôi nghĩ, cũng tạm đủ cho những gì tôi thấy cần viết về tập “tài liệu” của ông Tôn Thất Phu, một tổng hợp các bài viết mà, thật sự, ở nhiều góc cạnh, tôi thấy đáng lẽ không cần lên tiếng. Tuy nhiên, tôi đã cho biết lý do vì sao tôi viết bài này.

Ở đây, cũng còn một vài việc nên nói.

Về việc ông Tôn Thất Phu phê bình nhà thơ Phạm Công Thiện và bảo tôi (và nhiều người khác) đã “tâng bốc”, khoác lầm cho ông cái áo triết gia, để, qua đó, ông TTP buông ra những lời không ra gì. Tôi xin nói rõ ý mình ở đây. Phạm Công Thiện là một con người tài hoa mà những đóng góp văn học trên một số mặt còn có thể “bàn cãi”, nhưng ông là một “nhà thơ” có phong cách, nói chung, dù là ông viết về vấn đề gì đi nữa. Tôi có viết một bài về tác phẩm của ông. (23) Trong bài viết đó, ở đoạn gần cuối, tôi nhận xét:

“Ðể kết luận bài viết về Phạm Công Thiện, một phần nào dựa vào cuốn sách mới ra Ði cho hết một đêm hoang vu trên mặt đất của tác giả, tôi muốn nói, trước hết, rằng, Phạm Công Thiện là một nhà thơ, một nhà thơ với đúng nghĩa thơ mộng đẹp đẽ và đáng yêu đáng mến của danh vị này. Dù viết lách ở lãnh vực nào, qua chữ nghĩa và cách diễn tả, Phạm Công Thiện, như tôi nhìn thấy, vẫn nổi bật và đẹp nhất như một nhà thơ trọn nghĩa. Ðây là một người Việt Nam đã từng ăn nằm với chữ nghĩa một cách hết sức chung thủy mà tôi được biết, và bởi thế, Phạm Công Thiện, theo cách nhìn của tôi, là một trong ít người sử dụng chữ nghĩa Việt một cách tinh tế, sâu sắc và hết sức điêu luyện. Ông có viết trong quyển sách là ông đang học lại tiếng Việt. Một cách nào đó, điều này đúng. Chỉ có những người luôn luôn tìm tòi, học hỏi, học mãi mới có thể làm tinh tế cái nghệ thuật mà họ theo đuổi. Tôi nghĩ Phạm Công Thiện đã coi chữ nghĩa nói chung và, đặc biệt, chữ nghĩa Việt Nam nói riêng là một nghệ thuật để ông trau giồi suốt đời. Bởi thế, tôi không lấy làm lạ khi nhận ra rằng ông có tài dùng chữ Việt Nam một cách tuyệt diệu. Hãy nhìn lại điều đó trong tất cả những cuốn sách mà ông đã viết. Chính điều này làm cho tôi yêu mến Phạm Công Thiện hơn bất cứ một điều nào khác nơi con người của ông. (…)”

Đó là nhận định của tôi về con người nhà thơ PCT. Ông là một người bạn (vong niên) của tôi, và chúng tôi đã chia sẻ với nhau nhiều điều tâm đắc chung; nhưng với người đọc, tôi vẫn nghĩ khuôn mặt đẹp nhất của ông vẫn là khuôn mặt mang phong cách của một nhà thơ. Dù cho ông có viết về bất cứ điều gì. Hãy để cho người đọc đến với PCT và nhìn ông như con người mà họ nhận thấy, qua chữ nghĩa, qua phong cách của chính ông.

Về tác giả Phạm Hiếu mà ông TTP có nhắc đến trong bài của mình. Với tôi, ông là một con người duyên dáng, nghịch ngợm một cách đáng yêu, có hiểu biết, và có tài dựng kịch. Chúng tôi đã có dịp trao đổi đôi bài viết văn nghệ với nhau trên báo Văn Học khoảng 30 năm trước. (Tất cả còn nằm trên mặt báo, và cũng đã được đưa vào thư tịch số hoá của Văn Học). Sau cuộc trao đổi văn nghệ đó, tác giả PH có viết thư riêng cho tôi, và tặng tôi một quyển sách quý, “The Mandarin Road to Old Huế” của giáo sư, nhà viết sử Alastair Lamb. Quyển sách dày, bìa cứng, với nhiều hình ảnh, tài liệu rất có giá trị, có bọc plastic cẩn thận, nói về quan hệ ngoại giao của Anh với triều đình Huế trong giai đoạn từ thế kỷ XVII đến giai đoạn trước khi Pháp chiếm Việt Nam (nghĩa là từ 1600 đến 1855). Quyển sách cho thấy các bối cảnh chính trị và ngoại giao của Việt Nam với Anh và, phần nào, với Pháp, thời ấy. Cuốn sách này tôi vẫn còn giữ. Ông Phạm Hiếu, cùng với quyển sách tặng, đã viết cho tôi một lá thư thật đẹp. Tôi thích giọng văn và những hình ảnh kỷ niệm đẹp đẽ, đáng yêu của ông về quê nhà nên đã mạn phép trích đoạn và đưa nó vào một phần trong bài tôi viết về Phạm Công Thiện (bài ở trên).

Ông TTP nhắc đến tác giả PH, với tôi, và ông nói đến “vết thương” (?) Các bài viết chúng tôi trao đổi “văn học nghệ thuật” và sự hiểu biết với nhau, với lòng quý mến, vẫn còn nằm trên báo Văn Học, như đã nói. Ông không hiểu được mối liên hệ và cái tình đẹp đẽ của chúng tôi, những người cầm bút. Và khi không hiểu, tôi nghĩ ông không nên nói gì.

Về nhà văn Lê Thị Huệ, ông đã có nỗ lực viết ít điều về chữ nghĩa của chị. Điều đó quý. Tôi không có ý kiến gì. Những chia sẻ của ông còn nằm trong bài. Người đọc sẽ có dịp đọc, cảm nhận và đánh giá. Tôi đã viết bài nhìn về thế giới của nhà văn LTH từ nhiều năm trước. Năm 1995. Tôi ghi lại một vài nhận xét của mình trong bài đó ở đây:

Bụi Hồng là một tuyển tập gồm chín truyện ngắn, vẽ lên cái khuôn mặt, cái nhân dáng bên ngoài, cũng như soi chiếu vào cái thế giới bên trong—chìm lắng, xô dạt, trăn trở và thao thức—của những cuộc đời tỵ nạn. (…) Bụi Hồng là một tập truyện ngắn được viết bằng những lời văn giản dị và chân thật, mặc dù đâu đó vẫn có những câu mang thật nhiều chất thơ. Nó đẹp một cái đẹp thật và khoẻ mạnh. Nó mang trong nó cái ánh sáng u hoài của một tấm lòng thiết tha nhớ nhà nhớ nước. Nó vẽ ra được cái vùng nội tâm chòng chành sóng sánh của những con người Việt mất quê hương, phải lưu thân trên một vùng đất lạ với những thử thách mới bắt đầu. (…)”

Tôi đã viết về tác phẩm của nhà văn LTH một cách trân trọng, như tôi đã trân trọng khi viết về tác phẩm của những nhà văn khác. Bài viết còn nằm trên mặt báo và trong sách vở. Tôi không muốn viết gì thêm.

Về nhận xét của ông TTP, cho là tôi “phê bình sai trái ngữ pháp của cụ Phan Khôi, ấy là việc làm không nên, chứ không phải không đúng. Người Việt ta có câu “nghĩa tử là nghĩa tận”.” Ông còn cho rằng nếu nhà văn PK mà còn sống thì chắc tôi không dám phê bình như vậy!

Đối với tôi, Phan Khôi là một nhà văn hoá lớn, đóng góp được nhiều công trình cho văn học, văn hoá Việt. Khi viết về Phan Khôi qua bài “Nhận Xét về ‘Việt Ngữ Nghiên Cứu’ của Phan Khôi” (Hợp Lưu, số 33, tháng 2 & 3, 1997/ Tân niên Đinh Sửu 1997), tôi đã viết với một sự trân trọng. Cái tài, cái tâm, sự hiểu biết, và thiện chí đóng góp của PK là tất cả những gì tôi quan tâm nhắc đến. Dù sao, tôi cũng đưa một nhận xét nhỏ về phần vẽ sơ đồ theo kiểu Reed & Kellogg (tên đầy đủ là Alonzo Reed và Brainerd Kellogg), được gọi là “Reed-Kellogg diagram”. Tôi đã dạy về ngữ pháp cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt trong nhiều năm trên đại học, và “sơ đồ nhánh” hoặc “sơ đồ cây” theo dạng Reed-Kellogg là một trong những phương pháp rất sáng rõ và cụ thể để giúp người đọc nhìn ra cú pháp, sự kết hợp của một câu—dù câu đó có là câu đơn, hay câu phức (complex sentence), hay câu phức-hợp (complex-compound sentence).

Cụ Phan Khôi, trong thời của mình, đã tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu để biết và trình bày về dạng phân tích câu này trong sách bàn về Việt ngữ của cụ thì đúng là một người thông thái và có tinh thần cầu học. Thấy được điều đó, tôi càng mến cụ. Dù sao, trong tinh thần khoa học, khi có điều cần góp ý, cho dù trong một bài dài trình bày và tôn vinh những công trình đóng góp của người đi trước, ta vẫn có thể làm việc ấy. Điều đó là một vấn đề thuần tuý học thuật trong phạm vi nghiên cứu-phê bình. Vấn đề là ngôn ngữ của ta khi đưa ý kiến. Tôi không nghĩ có gì là “sai trái” ở đây. Bài viết, trên hết và trước hết, vẫn là một bài trình bày những đóng góp quý báu của cụ PK vào sự hiểu biết tiếng Việt của chúng ta.

.8.

Bài viết của tôi đến đây cũng đã khá dài. Tôi thành thật xin lỗi các độc giả, và xin cám ơn tất cả vì đã theo tôi đến lúc này.

Để kết, tôi muốn nói rằng ông Tôn Thất Phu có quyền đưa ra các ý kiến, đánh giá của ông về những vấn đề văn học, hay về các tác giả và tác phẩm mà ông có dịp tiếp cận. Một người đọc bình thường hay một nhà phê bình đều có quyền như nhau trong những việc làm ấy khi đến với văn học, văn chương, hoặc, cụ thể hơn, với một tác phẩm văn học. Nhưng họ cũng sẽ nhận chịu sự đánh giá của những người đọc khác, của giới đọc sách báo, giới thưởng ngoạn nói chung, về ngôn ngữ cũng như cung cách, thái độ của mình khi đưa ý kiến trước công luận.

Bài viết của ông Tôn Thất Phu, tự nó, đã nói lên rất nhiều điều.

Chữ nghĩa không tỏ lộ điều gì hơn ngoài việc tỏ lộ mọi điều về người viết chữ.

Những việc làm của ông Tôn Thất Phu đối với văn học Việt ở hải ngoại nói chung, với những vị chủ biên của một số tạp chí văn học, với một số người cầm bút, và những điều ông đã làm với tôi, cách ông đối xử với tôi, nói riêng, tôi không muốn viết nhiều hơn nữa. Tôi đã viết như vậy là đủ. Cuộc đời còn có những chuyện khác để chúng ta thực hiện.

Khi ông Tôn Thất Phu đọc đến đây, hẳn ông đã biết rằng tôi vẫn giữ lại nhiều điều mà không nói ra. Tôi hiểu ông biết là tôi muốn nói những điều gì.

Tôi không muốn bôi xoá tất cả. Có thể tôi là một người không cương quyết đủ, ít nhất là đến lúc này, hay là một người khá lý tưởng. Nhưng cũng có thể là vì những điều khác.

Tôi giữ lại những điều không nói ấy, bởi lẽ, đến lúc này, tôi vẫn còn giữ được niềm tin vào sự tốt đẹp của con người. Tôi vẫn còn muốn tin vào những mầm hạt tốt đẹp trong trái tim, trong tâm hồn của mỗi chúng ta.

Dù mọi sự thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn tin và hy vọng vào những điều tốt đẹp hơn cho văn chương. Cho đời sống. Và cho con người.

Bùi Vĩnh Phúc

California,

tháng XII. 2017

—————————————————————————————-

Chú thích:

(18) Trích: “Pastiche is a creative work that imitates another author or genre. It’s a way of paying respect, or honor, to great works of the past. (…) The author of pastiche always expects that the audience will know the works being imitated and appreciate that they’re seeing an imitation.” (https://literaryterms.net/pastiche/ ), và “pastiche celebrates, rather than mocks, the work it imitates. (…) Both allusion and pastiche are mechanisms of intertextuality.” (https://en.wikipedia.org/wiki/Pastiche).

Có thể xem thêm bài mang tính tổng hợp về “giễu” và “giễu nhại” của Nhị Linh, “Chuyên đề Văn hoá giễu nhại: Ở độ thứ 2”, http://dep.com.vn/chuyen-de-van-hoa-gieu-nhai-o-do-thu-2/ .

(19) Diễn lại và mở rộng một ý của Simon Dentith theo tinh thần quyển “Parody”, The New Critical Idiom. London: Routledge, 2000, của tác giả: “(…) reusing specific cultural productions from the past in ways which, at the very least, indicate both some connection to, and some distance from, their predecessors.”

Nhận định của Linda Hutcheon cho rằng “sự “giễu nhại” (parody) không nhất thiết nhằm tới sự mỉa mai; nó là sự lặp lại để chỉ rõ sự khác biệt hơn là sự tương tự” được lấy từ quyển “A Theory of Parody: The Teachings of Twentieth-Century Art Forms”, New York: Methuen, 1985, của tác giả.

(20) Như đã viết, người ta cũng có thể nhìn bài thơ “Đánh Đu” của Hồ Xuân Hương, viết theo bài “Cây Đánh Đu” trong tập thơ Hồng Đức Quốc Âm, trong tinh thần “giễu nhại” rất “hậu hiện đại” này.

Đây là bài thơ “Cây đánh đu” trong Hồng Đức Quốc Âm thi tập:

Bốn cột lang nha cắm để chồng,
Ả thì đánh cái ả còn ngong.
Tế hậu khổ khom khom cật,
Vái hoàng thiên ngửa ngửa lòng.
Tám bức quần hồng bay phất phới,
Hai hàng chân ngọc đứng song song.
Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy,
Nhổ cọc đem về để lỗ không.

Còn đây là bài “Đánh đu” của Hồ Xuân Hương:

Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông.
Trai du gối hạc khom khom cật,
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh hồng quần bay phất phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá,
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.

Hồ Xuân Hương chẳng chú thích hay nói gì về bài “Cây Đánh Đu” trong tập thơ Hồng Đức. Bà chỉ làm bài thơ “Đánh Đu” của mình, với một phong cách rất “giễu nhại”. Bài trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập thì tả cảnh đánh đu thật, với một cảm thức cổ, cũ và già; còn bài của HXH thì cũng là đánh đu đấy, nhưng mới, trẻ, “hưng phấn” hơn, lại được viết với một ý tình tinh quái, nghịch ngợm. Tính “giễu nhại” trong bài này rất cao và thâm thuý.

(21) Xem “Dịch và …dịch: một thoáng nhìn”, của Bùi Vĩnh Phúc, tại http://damau.org/archives/17667 . Tôi xin phép dùng lại một vài đoạn văn và vài ý tưởng trong bài viết cũ nơi đây.

(22) Phần giới thiệu mấy câu dịch này được lấy lại từ bài “Nhân vụ trái phá & tình yêu, bàn về chuyện chữ nghĩa, câu cú, dịch thuật, và phê bình” của tôi. Xem tại http://damau.org/archives/16484

(23) Xem: “Mấy tưởng khúc với/về Phạm Công Thiện” tại http://damau.org/archives/18841

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Trong bài, ông Tôn Thất Phu cũng ra vẻ dè bỉu, chê bai tôi là không biết viết tiếng Việt. Từ đó ông kết tội tôi là “vong bổn”. Là “nô lệ”. Là “mất gốc”. Là “bất chính”. Là “lừa đảo”. Là “huỷ hoại văn hoá nước nhà”. Là làm hại, làm “nguy cho thế hệ mai sau của con Viet ở hải ngoại” (BVP)

    Cách nay hơi lâu, tôi có tham dự một khóa học miễn phí về các chủ đề trong cộng đồng gia đình và xã hội như Bạo hành trong gia đình, Hành hạ trẻ thơ, Ngược đãi người già, Sách nhiễu tình dục v.v… Mỗi thứ Bảy tôi đến Trung Tâm Sinh Hoạt Cộng Đồng của Thành Phố dự 2 tiếng, khóa trình kéo dài dường như là 6 tuần.

    Tôi nhớ lời kết luận của người giáo viên, đại khái: “Chỉ có sự bạo hành hay sách nhiễu khi nào có quyền lực (power) kèm theo”. Ngoài đường phố, ông cảnh sát có quyền lực, trong sở làm thì ông chủ bà chủ có quyền lực, trong gia đình thì người lớn dĩ nhiên mạnh và có quyền lực hơn trẻ em. Từ đó mới đưa đến vấn đề giải quyết là: bảo vệ thường là bảo vệ người dân, bảo vệ công nhân, bảo vệ trẻ em, người già, phụ nữ chứ.

    Theo tôi thấy, cũng vậy, quyển sách là quyển sách, viết văn làm thơ, viết blogs, cũng chỉ là thơ văn và quan điểm thôi. Tôi rất có “dị ứng” với những lập luận nhắm vào văn chương văn học, kiểu: “làm hại thế hệ trẻ”, “làm mất đoàn kết dân tộc”, “làm suy đồi văn hóa ước nhà” v.v…

    Thật ra, chuyện ngược lại, chính quyền lực và bạo lực hỗ trợ đi kèm nó mới gây ra tác hại về nhiều mặt, trong đó có văn hóa nghệ thuật. Quyển sách hay những trang blogs không thể nào gây tổn thương đến ai cả. Thích thì đọc, không thích thì thôi. Nhưng côn đồ đánh người, xông vào nhà tịch thu tài vật của dân chúng thì chắc chắn sẽ gây nạn kiếp trầm luân cho phận người.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)