Trang chính » Giữa Người Viết & Người Đọc, Lý Luận, Quan Điểm Email bài này

Về Lượng Tử, Tiếng Chim Hót, Văn Chương, và Con Người (kỳ 1/2)

clip_image002[4]

Interior with Book của Richard Diebenkorn

.1.

Tôi mới được đọc bài Văn Nhân Hý Nghị của ông Tôn Thất Phu (TTP) trên diễn đàn Gió-O do một người quen cho biết. Bài viết này, gồm nhiều phần, viết trong những thời gian khác nhau, được gom lại, và phổ biến khoảng hai mươi năm trước, trên một, hai diễn đàn mạng, không mấy người biết đến. Bây giờ, hình như được “bổ sung” đôi chút, và đi làm 6 kỳ trên Gió-O, với phụ chú là “phê bình”.

Chủ đề bài viết, theo thứ tự, nhắm vào tôi, nhà phê bình Thuỵ Khuê, nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, ba nguyệt san Văn, Văn Học và Hợp Lưu, cùng một ít điều khác. Trong khi tác giả của nó nói về những điều này, ông cũng chỉ trích một số nhà văn, nhà thơ khác nữa. Bài viết dùng một ngôn ngữ diễu cợt, châm chọc, lên án, khích động, pha nét mạt sát, đầy tính lăng mạ. Đặc biệt khi viết về nhà phê bình T.K., tác giả của nó, ngoài việc sử dụng một ngôn ngữ nặng nề, xúc phạm, còn đưa ra những cách nói đi gần với một ám ảnh bệnh hoạn. Toàn bộ “tài liệu” này, trong cung cách trình bày và diễn ý của nó, giống như nó đã từng xuất hiện ở một dạng còn thô sơ hơn khoảng 20 năm trước, vẫn còn quá nhiều lỗi chính tả. Các câu và ý lan man, vòng vo, và nhiều chỗ không rõ mạch lạc. Lại thêm việc đánh máy không được chăm sóc kỹ nên có những sai sót về mặt ký tự khi gõ chữ (không giống như lỗi chính tả). Một số chỗ trích văn của người khác thì lại đánh sai lời trích nên độc giả đọc vào thấy câu văn rất ngớ ngẩn, không thấy rõ ý nghĩa như thế nào. Mà đó lại là những đoạn tác giả trích văn người khác ra để phê phán họ. (1)

Với một bài viết không mang tính góp ý và không mời gọi thảo luận như thế, thật sự, dù tác giả có nói đến tôi, tôi cũng thấy không cần và không có bổn phận phải lên tiếng. Dù sao, bài viết, trong một chương đoạn của nó, mang ba tờ báo/tạp chí văn học, ở một mức độ và góc độ nào đó, nói chung, thể hiện một phần vóc dáng và sức sống của nền văn học ngoài nước trong một thời gian khá dài, ra phê phán. Bài viết còn đưa ra cái nhìn miệt thị, đầy nét lăng mạ, đối với những người chủ biên, một số bây giờ đã không còn có mặt để lên tiếng. Ngoài ra, cũng có một số điểm tác giả phê bình tôi về mặt kiến thức và phong cách như một người cầm bút, đồng thời liên hệ những điều đó một cách hết sức tiêu cực đến văn hoá và văn học Việt; bởi thế, nếu tôi có thể trình bày đôi điều trước độc giả về những điểm ấy, có thể người đọc sẽ thấy đó là điều tôi nên làm. Và sẽ châm chước cho sự lên tiếng về bài viết này. Cho dù tôi không tin là tất cả mọi người đều nghĩ là tôi nên, hay cần, lên tiếng trước một bài viết như thế.

.2.

Bây giờ tôi xin nói rõ, một phần nào giống như nhà văn Lê Thị Huệ, chủ biên Gió-O, đã cho biết đôi chút. Bài viết này, trên 20 năm trước, trước khi nó được đưa lên mạng, thường là dưới dạng không đầy đủ, đã được tác giả gửi cho nhiều tạp chí/nguyệt san có tiếng tại California. Như Văn, Văn Học, Hợp Lưu. Và (hình như, nếu tôi nhớ đúng) Thế Kỷ 21. Một phần vì cách diễn đạt, nhưng phần chủ yếu là vì tính cách, thái độ, ngôn ngữ của người viết bài (những lời lẽ quá cực đoan, ngôn ngữ nặng nề, mang tính mạt sát, xúc phạm người khác), tất cả các diễn đàn vừa nói đều không đăng bài của tác giả TTP. Quyết định là ở phía các chủ biên. Sau đó, họ mới cho tôi biết là đã có một bài viết như thế được gửi đến tờ báo.

Dạo ấy, khoảng 20 năm trước, việc sử dụng computer cá nhân mới bắt đầu manh nha chưa lâu. Các diễn đàn Việt thường chưa có mấy trang mạng để chúng ta vào xem, chu du khắp các địa chỉ như bây giờ. Lúc đó có trang mạng của nhóm Ký Con ở Quận Orange, bên Mỹ. Trang mạng này có một diễn đàn, như tôi được cho biết, do một nhà văn/nhà thơ, từ một nước khác, đứng chủ trì. Tác giả Tôn Thất Phu đã vào đây. Tôi không còn nhớ forum này có đăng một phần bài nào của ông ấy hay không; nhưng ông có đưa nhiều comments chỗ này chỗ nọ “bắt bẻ”, “lên án” tôi. Tôi không nói gì. Cũng ở đây, tôi nhớ có lần nhà văn Lê Thị Huệ đã yêu cầu chủ forum, hoặc chủ diễn đàn mạng, lấy một lá thư của chị được TTP đưa lên đó xuống, không cho phép hiển thị nữa. Lá thư này có lẽ chỉ xuất hiện trên mạng, tại forum ấy, trong mấy tiếng đồng hồ, hoặc trong một, hai ngày gì đó. Tôi cũng không được đọc. Tôi chỉ đọc được phản hồi của nhà văn LTH liên quan đến lá thư riêng ấy, trên forum, cho biết đó là thư riêng. Chị đã viết riêng cho TTP (có lẽ để trả lời về bài viết ta đang bàn mà TTP đã gửi đến chị), và chị không cho phép TTP tự tiện đem thư riêng đó lên đăng trên forum. Trong phản hồi của mình, chị cũng xin lỗi tôi và nhà văn Lê Thị Thấm Vân, vì những điều chị thấy không đúng trong việc thư riêng của chị bị đưa lên mạng. Thái độ ấy của nhà văn LTH đáng quý. Chưa kể việc yêu cầu lấy thư riêng của chị, mà ông TTP tự tiện đem phổ biến trên mạng, ra khỏi forum là một điều hoàn toàn đúng.

Như nhà văn LTH viết trong phần giới thiệu bài của ông TTP trên Gió-O gần đây, nhà văn Nguyễn Mộng Giác đã nghĩ lầm rằng chị viết bài đó. Nếu có thế, có thể lý do là vì, cũng như nhiều người khác, nhà văn NMG đã có dịp đọc được phản hồi đó của nhà văn LTH trên forum vừa nói, nên có lẽ anh đã có sự hiểu lầm.

Vào năm 1997, vào dịp đám cưới tôi, có thể biết tin tôi làm đám cưới qua một vài phương tiện truyền thông, có người thậm chí còn gửi đến vị khoa trưởng nơi đại học tôi làm việc một tập tài liệu. Với vị giáo sư này, người ấy tự xưng là một sinh viên cũ của tôi gửi tài liệu do tôi yêu cầu. Đó là tập “tài liệu” mà ta đang nói đến. Người ấy gửi “tài liệu” và nhờ giáo sư vừa nói in ra và đưa cho tôi, nói rằng tôi cần gấp. Trên đầu tập “tài liệu” có đề rõ đấy là “quà cưới” cho tôi. Nhận tài liệu, lướt mắt qua vài trang, tôi cười và bảo vị giáo sư ấy sau này đừng in ra bất cứ thứ gì gửi cho tôi qua địa chỉ email của ông ấy nữa. Cần gì thì tôi tiếp xúc thẳng với sinh viên của mình. Họ có địa chỉ email của tôi.

Có thể nói, sau dịp đó cho đến bây giờ, suốt hơn 20 năm, có một người thỉnh thoảng vẫn dùng những tên khác nhau, nhưng với cùng một cung cách mà tôi quen thuộc, để, khi có dịp, “quấy rầy” tôi bằng cách này hay cách nọ. Nhưng luôn luôn nhân vật ấy để lộ ra, vô tình hay cố ý, một vài dấu vết, một vài nét riêng của người ấy mà tôi đã biết. Nhưng rồi tất cả những điều đó mãi rồi tôi cũng thấy bình thường, không còn cảm thấy khó chịu nữa.

Tôi viết bài này vì những người bạn văn (giờ đã không còn) đã cùng chia sẻ rất nhiều điều ngọt bùi với tôi trên con đường văn chương, những người như các anh Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng chẳng hạn. Ông Tôn Thất Phu đã mạ lị họ trong bài của mình, đã “lên án” báo chí văn học và nhiều người chủ biên của các nguyệt san, tạp chí đó. Những người ấy đã đổ công sức mình, chung với nhiều người khác, như những chủ biên hiện tại với các diễn đàn văn học mạng mà chúng ta đang có, để gầy dựng nền báo chí, văn học Việt ngoài nước. Nhìn một cách nào đó, dẫu nó chưa phải thật sự là toàn bích, dẫu lúc này lúc kia có thể còn có chỗ chưa đúng hay sai vấp, nền báo chí đó, nói chung, đã có những đóng góp tốt đẹp đủ để những người đọc Việt nên trân trọng.

.3.

Trước hết, độc giả đọc văn Việt, và, nhất là, những độc giả có theo dõi những cố gắng bền bỉ của các nhà văn Nguyễn Mộng Giác và Nguyễn Xuân Hoàng trong việc tiếp tục xây dựng và/hay gìn giữ gia tài văn chương Việt ngoài nước, qua các tạp chí Văn Học và Văn, đều có thể thấy sự đóng góp vào văn học Việt nói chung, và văn học ngoài nước nói riêng, của các nhà văn, các vị chủ biên này. (Riêng về tạp chí Hợp Lưu và chủ biên Khánh Trường, có thể đọc bài “Hợp Lưu 12 năm – Trang tôn kinh huyền hoặc hậu hiện đại” của Trần Vũ, 2002). Là những nhà văn đã được biết đến, đặc biệt trong giai đoạn cuối của nền văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975, họ đã cho thấy tài năng và phẩm cách văn học của mình trong việc tiếp tục viết và “đứng mũi chịu sào” cho hai trong những tờ báo lôi cuốn được sự theo dõi và yêu mến của độc giả Việt ngoài đất nước.

Không kể đến những tác phẩm mà hai nhà văn này đã đóng góp cho văn học Việt, hai tờ Văn và Văn Học, trong suốt hành trình rất dài của chúng (riêng Văn trong giai đoạn đầu do Mai Thảo đảm nhiệm, và Văn Học trong giai đoạn sau với sự tiếp tay “đứng mũi chịu sào” của một vài bạn văn khác như Trịnh Y Thư và Cao Xuân Huy), đã bền bỉ đóng góp phần tốt đẹp của mình vào nền văn chương, báo chí ngoài nước. Trong sự đóng góp tốt đẹp ấy, các tạp chí văn học này cũng đã tìm ra nhiều văn tài ở hải ngoại, đưa tiếng nói, tâm tình, chữ viết và tài năng của những nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình ấy đến với biết bao người đọc Việt ở khắp nơi trên thế giới.

Vai trò chủ biên của những tờ báo văn học ấy, như tôi biết, khá phức tạp, đòi hỏi nhiều sự hy sinh, kiên nhẫn và chịu đựng. Phải là người có lòng yêu văn chương đến một mức độ nào đó thì những chủ biên ấy mới cần cù, hy sinh và chịu khó để có thể hoàn tất vai trò ấy. Ở một phương diện nào đó, công việc của các chủ biên cũng là việc “làm dâu trăm họ”. Phải chịu đựng sự đòi hỏi, than phiền của độc giả cũng như các người cộng tác, nhất là khi có sự suy nghĩ trái chiều về quan điểm, hướng đi, khuynh hướng học thuật, cái nhìn mỹ học hay thái độ về cái “mới” trong văn chương, v.v., giữa các tầng lớp độc giả, hay những người cầm bút, đóng góp bài vở cho các tạp chí, và người chủ biên, chịu trách nhiệm trong việc chọn lựa bài vở để đưa ra giới thiệu trên mặt báo. Tóm lại, đó là một công việc mang trong nó sự hy sinh và nhẫn nại, chưa kể người nhận lãnh nó phải có một lòng yêu văn chương hết sức thiết tha.

Và, như đã nói, dù cho có nhiều đóng góp tốt đẹp, con đường của các tờ báo văn học vừa nói, nói riêng, cũng như của nền báo chí, văn học ngoài nước, nói chung, không phải lúc nào cũng cho thấy toàn sự thành công tốt đẹp. Có lúc, cũng có thể có những nét chưa vừa ý, thậm chí là, ở một vài phương diện nào đó, còn đôi nét tiêu cực. Nhưng, nói chung, tất cả những đóng góp ấy đã cho thấy được cái vóc dáng và sức sống khoẻ mạnh, đầy năng lực của nền báo chí, văn học hải ngoại. Đó là điều làm cho hầu hết chúng ta, như những người đọc Việt ngoài nước, cảm thấy vui và hãnh diện.

Việc ông TTP dùng ngôn ngữ nặng nề với các vị chủ biên, và miệt thị gọi những tạp chí văn học có đóng góp một phần không nhỏ vào cái thành quả tốt đẹp chung ấy là “văn chương Bolsa”, “đảng Bolsa”, “đống văn công Bolsa”, v.v., là một điều đáng trách.

Về những nhận xét ông TTP dành cho tôi, tôi nghĩ, như một người đọc, trên nguyên tắc, ông có thể có ý kiến của mình. Nhưng cách ta đưa ý kiến cũng là cách để người khác phán xét ta. Đối với bài viết của ông, vì tính cách và thái độ cũng như ngôn ngữ của nó, tôi sẽ không nói về tất cả những điều mà ông đã viết. Tôi sẽ chỉ nói về một số điều mà, trong suy nghĩ của mình, tôi nghĩ có những độc giả có thể muốn nghe.

Thứ nhất, ông nói tôi không biết tí gì về toán-lý mà lại hay dùng ngôn ngữ toán-lý một cách sai trái, vô nghĩa lý, thiếu hiểu biết, trong một số bài viết của tôi. Chẳng hạn, như về chuyện lý thuyết về vũ trụ ở giai đoạn khởi đầu. Trong bài “Viết và Đọc: Những Nẻo Đi Về” (2), có đoạn tôi viết: “(…) Giống như một Đấng Thượng Đế (nếu có) của thuyết “Nổ Lớn” (Big Bang) đã nén tất cả vũ trụ kỳ bí và nhiều màu sắc này vào trong một chất điểm không lớn hơn đầu một que tăm, ở những giây phút khởi đầu của vũ trụ, để rồi cho nó bùng nổ như những hình ảnh của một chiếc kính vạn hoa vào trong cái cảm và nhận thức của con người.”

Ông đưa nhận xét mỉa mai: “…Đến bây giờ tôi vẫn không rõ ông Phúc đã dùng loại tăm gì để ‘tỉa răng’, mà ông lại quyết đoán rằng… Big Bang đã nén tất cả…vào trong một chất điểm không lớn hơn đầu một que tăm. Vào giai đoạn đầu, vũ-trụ không phải là một chất điểm không lớn hơn đầu một que tăm như ông Phúc đã mô tả, mà vũ-trụ phải là một ‘tạp chất’ nóng bỏng (tay) hỗn loạn và có ‘kích thước’ hẳn hoi.”

Ông TTP cho khái niệm vũ trụ “không lớn hơn đầu một que tăm” ở những giây phút khởi đầu là sai. Ông không thể nào hiểu được và tin rằng cái vũ trụ này, với độ lớn mà trí óc con người không thể nghĩ suy, lại có thể có cái khởi đầu “khiêm nhường” như thế. Vậy mà, theo những phát kiến mới nhất của vật lý hiện đại (modern physics) và của ngành vũ trụ học (cosmology), nó lại là như thế đấy!

Tôi xin phép được trích lại một phần tôi đã có dịp trình bày gần đây, ở một nơi khác, và xin mời ông “tìm đọc một bài báo khá dài mang tựa đề “Big-Bang Discovery Makes A Star Out of An Astrophysicist” (Los Angeles Times, Sunday, May 10, 1992, phần The Nation). Xin phép được trích một đoạn ngắn có liên hệ mật thiết đến khái niệm được diễn tả: “Theorists have come to the remarkable conclusion that all of the matter of the universe—and all of the space as well—was initially contained in an infinitely dense ball smaller than the period at the end of a sentence…” (“Các nhà [vật lý] lý thuyết đã đi đến một kết luận đáng lưu ý [và có tính khác thường] này là, tất cả vật chất trong vũ trụ này—và tất cả không gian nữa—đã được dung chứa, ở lúc khởi đầu, trong một điểm tròn [một trái banh] được nén thật chặt không lớn hơn dấu chấm ở cuối một câu viết.”) (3) Dĩ nhiên, người Âu Mỹ không thường dùng ý niệm “đầu que tăm” trong những dẫn giải khoa học của họ, vì hình ảnh “que tăm” không nằm trong khung văn hóa của đời sống họ. Nhưng những cách diễn ý về [độ lớn của] “đầu que tăm” và [độ lớn của] “dấu chấm cuối câu” chỉ là những cách nói khác nhau để chỉ cùng một khái niệm có tính cách lý thuyết về nguồn gốc của vũ trụ đang được nhiều nhà vật lý lý thuyết tin tưởng. Khám phá của nhà vật lý lý thuyết George Smoot, thuộc Lawrence Berkeley Laboratory, và nhóm làm việc của ông, qua những dụng cụ được đặt để trên vệ tinh Cosmic Background Explorer (COBE), đã được rất nhiều người hoan nghênh. Bài báo nói tiếp, “Nhà vũ trụ học Stephen Hawking của Cambridge University, người được thế giới xếp loại cùng với nhà bác học Albert Einstein như là một trong những nhà vật lý lý thuyết hàng đầu của thế kỷ, đã nói trong bài phát biểu của mình về sự khám phá của George Smoot: ‘Đây là sự khám phá [vĩ đại] của thế kỷ này, nếu không muốn nói đó là sự khám phá [vĩ đại] của mọi thời’ ”.

Còn ông Tôn Thất Phu thì vẫn khăng khăng cho rằng “Vào giai đoạn đầu, vũ-trụ không phải là một chất điểm không lớn hơn đầu một que tăm (…), mà vũ-trụ phải là một ‘tạp chất’ nóng bỏng (tay) hỗn loạn và có ‘kích thước’ hẳn hoi.”

Bây giờ nói về chuyện “Thượng Đế” khi nói về “Big Bang”. Cũng ở đoạn văn được trích dẫn trên trong bài viết của tôi (“Viết và Đọc: Những Nẻo Đi Về”): “(…) Giống như một Đấng Thượng Đế (nếu có) của thuyết “Nổ Lớn” (Big Bang) đã nén tất cả vũ trụ kỳ bí và nhiều màu sắc này vào trong một chất điểm không lớn hơn đầu một que tăm, ở những giây phút khởi đầu của vũ trụ, để rồi cho nó bùng nổ như những hình ảnh của một chiếc kính vạn hoa vào trong cái cảm và nhận thức của con người.”

Ông Tôn Thất Phu viết: “Hãy để ý và phân tích câu gạch dưới Đấng Thượng Đế của thuyết ‘Nổ Lớn’ Big Bang, khi viết câu này không hiểu ông Bùi Vĩnh Phúc có thấy sai nhầm đến lộn cả ruột lên không, hay nghe nó kêu như tiếng ‘Nổ Lớn’ là được rồi. Viết như thế, bọn duy lý vô thần sẽ cho là ‘dốt’ vì trong thuyết Big Bang làm gì có thượng đế, nên làm gì có thượng đế của thuyết Big Bang chứ!”

Tôi xin chia sẻ với ông Tôn Thất Phu sau đây khái niệm về “Thượng Đế (nếu có)” khi tôi viết về “Big Bang”. Trong bài viết mang tựa đề “George Smoot: Birth of the Universe” (xin xem lại về nhà vật lý lý thuyết này ở phần trên), phỏng vấn George Smoot, tác giả ghi lại rằng trong một buổi họp báo, nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng này đã thốt lên câu “Giống như nhìn thấy Thượng Đế vậy” (“It’s like seeing God”), khi trình bày về khám phá vĩ đại (như đã trình bày ở đoạn trên) của mình. Được phóng viên tạp chí khoa học OMNI hỏi điều gì đã khiến ông dùng dùng từ “Thượng Đế” khi tuyên bố về những khám phá của vệ tinh Cosmic Background Explorer (COBE), ông cho biết: “Tôi đưa hình ảnh Thượng Đế ra vì đó là một biểu tượng văn hoá mà con người hiểu được—nhưng vấn đề sâu xa hơn thế. Nói về vũ trụ học, người ta không thể không liên hệ đến tôn giáo. Trong tất cả các tôn giáo, các nền văn hoá, luôn luôn có khái niệm “Vào lúc khởi đầu”. …” (4) Khi viết về Thượng Đế, về Big Bang, ở một mức độ nào đó, tôi đã chia sẻ quan niệm này của George Smoot. Và của nhiều nhà vật lý thiên thể khác. “Thượng Đế”, ở đây, nên được hiểu như một biểu tượng. Nội hàm của từ này rộng và sâu hơn nghĩa gói gọn của nó trên mặt chữ, nếu người ta chỉ hiểu nó một cách cạn cợt.

Cuộc tranh luận Khoa học-Thượng Đế đã kéo dài liên tục từ khi khoa học có mặt trong đời sống con người. Trong cuốn sách “The Grand Design” (“Bản Thiết Kế Vĩ Đại”), Stephen Hawking đã cho rằng không có Thượng Đế. Ông nói rằng vũ trụ này tuân theo những định luật không tránh được của tự nhiên. Nhưng người ta vẫn tiếp tục đặt vấn đề với Hawking là những định luật ấy ở đâu ra, hay chúng đến từ đâu? Hawking cho rằng các nhà khoa học đang cố gắng làm việc với lý thuyết-M (M-theory) (bao gồm lý thuyết dây), và lý thuyết này có thể diễn tả hành vi (behaviour) của tất cả những lực và hạt căn bản, và ngay cả sự sinh thành của vũ trụ này. Cỗ máy gia tốc hạt (LHC/Large Hadron Collider) được thực hiện. “Nhiệm vụ của cỗ máy dài 27 km này là gia tốc cho các hạt nguyên tử đạt đến tốc độ đủ lớn và cho chúng đâm vào nhau để các nhà khoa học có thể quan sát những vụ va chạm này. Từ đó mà các nhà khoa học có thể hiểu rõ hơn bản chất của một số vấn đề bí ẩn trong vũ trụ, như vật chất tối cũng như sự hình thành của vũ trụ.” Dù sao, “sự thật là máy gia tốc hạt LHC không thể tạo ra những hố đen…” (…) (Xem http://www.thongtincongnghe.com/article/69411 )

Việc tìm ra hạt Higgs từ cỗ máy này cũng thế. Dù sao, tất cả những thí nghiệm này cũng sẽ không nói được gì về Thượng Đế cả. Điều mà chúng làm được là đưa con người đến một sự hiểu biết cải tiến hơn, sâu xa hơn, về mặt lý thuyết về cái vũ trụ vật chất này của chúng ta, trong ngôn ngữ của những nguyên lý mà toán học đề ra. Dù sao, một vấn đề của lý thuyết-M là: để thử nghiệm hầu tìm ra một lý thuyết căn bản mang lại cho chúng ta sự hiểu biết về thiên nhiên ở cấp độ tinh vi nhất của nó (at its finest level) (ở vài phút đầu tiên của Big Bang; nỗ lực này còn cố gắng tiến tới việc giúp con người tìm hiểu những điều kiện của vũ trụ ở thời khoảng 1 phần tỉ giây (a billionth of a second) đầu tiên của khởi đầu thời gian), con người phải xây dựng được một máy gia tốc hạt cần thiết, có kích cỡ của một thiên hà (galaxy). Điều này cực kỳ khó khăn cho con người. Nó gần như bất khả. Và ngay cả khi các nhà khoa học tìm được một cách nào đó để thực hiện được các thử nghiệm, và lý thuyết-M qua được tất cả các thử nghiệm ấy, thì lý do của cái trật tự toán học (mathematical order), nằm ở tâm điểm của cái trật tự vũ trụ này, vẫn sẽ còn nằm ở đó. Như một bí mật bất-khả-giải.

Paul Dirac, nhà (vật lý) lý thuyết người Anh được xem là vĩ đại nhất kể từ Newton (và, giống như Newton và Hawking, đã giữ chức Lucasian Chair của ngành Toán tại Đại học Cambridge), thuở trẻ là một người theo khuynh hướng vô thần. Tuy nhiên, nhiều thập kỷ sau đó, vào năm 1963, Dirac đã tuyên bố: “Thượng Đế là một nhà toán học vô cùng vĩ đại” (“God is a mathematician of a very high order.” Ông đã nói điều ấy một cách ẩn dụ, chắc thế, nhưng, qua đó, chúng ta cũng hiểu vấn đề về Thượng Đế vẫn còn nằm trong vòng suy nghĩ của con người. (5)

Liên hệ đến vấn đề này, ta cũng có thể tìm đọc thêm quyển “God and the New Physics” (New York: Simon & Schuster, Inc., 1984) của Paul Davies. Paul Davies là một trong những nhà (vật lý) lý thuyết hàng đầu của Anh, tác giả của những quyển sách nổi tiếng như “Other Worlds”, “The Edge of Infinity: Naked Singularities and the Destruction of Spacetime”, “The Physics of Time Asymmetry”, “Quantum Fields in Curved Space”, v.v.

Tôi trình bày những điều này không để cho thấy mình đứng ở phía nào trong cuộc tranh luận miên man kia về Khoa học & Thượng Đế, mà chỉ để cho thấy rằng vấn đề phức tạp hơn nhiều so với cách nhìn quá sức giản lược mà ông Tôn Thất Phu đưa ra, để chỉ nói cho được là người khác “dốt”. Về vấn đề Khoa học & Thượng Đế, Albert Einstein cũng viết: “Tôn giáo mà không có khoa học thì mù loà. Khoa học mà không có tôn giáo thì quặt què, khập khiễng.” (“Religion without science is blind. Science without religion is lame.”)

Bây giờ ta sang một vấn đề khác.

Ở một chỗ trong bài của mình, ông TTP viết: “Ví dụ ở trang 486 [trong cuốn sách “Lý Luận và Phê Bình: Hai mươi Năm Văn Học Việt Ngoài Nước (1975-1995)”. Tôi (BVP) ghi chú thêm ở đây], khi phân tích bài thơ "Gái lội qua khe" của Bùi Giáng, Bùi Vĩnh Phúc phê "Thế rồi, một, hai, chục năm sau khi ta mất đi, những hình ảnh đó vẫn mãi còn trong cái vũ trụ của vật lý lượng tử". (6) Cái "vũ trụ của vật lý lượng tử" ư ? Hãy xét về nghĩa cũa từ ngữ ấy xem sao.  Vũ trụ là một thực thể, hiện tồn có thể quan sát, rờ mó được; còn lý thuyết lượng tử là thuyết (lập luận khoa học) dùng để giải thích một số khúc mắc của cái thực thể vũ trụ ấy. Vì thế nên không bao giờ có một thực thể vũ trụ của (hay thuộc về) một cái thuyết do con người lập ra cả, mà chỉ có thuyết đưa ra để giải thích cái thực thể hiện tồn cũa vũ trụ mà thôi.  Hay nói một cách khác đơn giản hơn: Thuyết là “cái cầu” bắc ngang giữa thực thể hiện tồn và phạm trù từ trường; nên thuyết chỉ là phương tiện (hay ‘cái cớ’ nếu ta dụng từ của ông Bùi Vĩnh Phúc) như cái xe, cái nhà, cây bút ..v…v…” (Nguyên văn phần trích. Tôi (BVP) xin ghi chú ở đây: ông TTP muốn nói là “phạm trù từ trường” hay “phạm trù tư tưởng”? Ông viết là “phạm trù từ trường” khiến tôi không hiểu gì cả!)

Ông Tôn Thất Phu cho rằng không bao giờ có một “vũ trụ của vật lý lượng tử”. Tôi xin trả lời ông TTP rằng: Có đấy! Chỉ tại ông chưa tìm hiểu thôi.

Trong bài phỏng vấn đã nói trên, khi phóng viên tạp chí khoa học OMNI hỏi nhà vật lý lý thuyết George Smoot, “Người ta nói rằng những khám phá của vệ tinh COBE đã kết hợp vật lý thiên thể ở thang độ to lớn nhất với vật lý lượng tử ở thang độ nhỏ bé nhất [phải không?]”, George Smoot đã trả lời: “Đó đã là hướng đi/khuynh hướng/hướng tiến của vũ trụ học.” và “… chính vụ Nổ Lớn Big Bang, chính nó, là cái tạo nên sự nối kết giữa vật lý thiên thể và vật lý hạt” (7) Ngoài ra, trong bài “The Origins of the Universe: Quantum Origins” (8) , tác giả tài liệu này trình bày là Vũ trụ học cố gắng giải thích hành vi của toàn thể Vũ Trụ (the behaviour of the entire Universe) qua việc sử dụng những quy luật của vật lý lượng tử. Ở một đoạn khác, tài liệu cũng trình bày về “quantum cosmology” (“vũ trụ học lượng tử”), một sự áp dụng của lý thuyết lượng tử vào toàn thể vũ trụ (9) . (Lý) thuyết lượng tử (“quantum theory”) còn được gọi tên là vật lý lượng tử (“quantum physics” hay “quantum mechanics”). (Xin xem thêm chú thích 9).

Nói “vũ trụ của vật lý lượng tử” là điều bình thường. Cũng như người ta có thể nói đến “vũ trụ của thuyết Tương Đối Hẹp”, “vũ trụ của thuyết Tương Đối Tổng Quát”, v.v. (người ta có thể tìm kiếm những cụm từ này ở bất cứ đâu). Cũng thế, người ta có thể nói về “vũ trụ của Einstein” hay “vũ trụ của Newton”, “vũ trụ của Ptolemy”, v.v… Sẽ không thể lý luận như ông Tôn Thất Phu theo kiểu như vũ trụ là …vũ trụ, còn Einstein chỉ là một con người đã giải thích một số khúc mắc của cái vũ trụ ấy. Vì thế nên không bao giờ có một vũ trụ của (hay thuộc về) một con người nào cả, v.v… Thật ra, người ta dùng những cụm từ đó rất thường. Thậm chí, có một quyển sách viết về Einstein, được rất nhiều người biết đến, là quyển “Einstein’s Universe”. Tác giả là Nigel Calder. Ngoài ra, một chương trong quyển “Einstein / His Life and Universe” của Walter Isaacson (chương 11) cũng được đặt tên là “Einstein’s Universe”.

Ông TTP không cho phép dùng cụm từ “vũ trụ của vật lý lượng tử” (hay “vũ trụ của thuyết lượng tử”, xin xem lại phần trình bày trên về việc có thể dùng thay nhau của hai tên gọi này) vì, theo ông, “lý thuyết lượng tử là thuyết (lập luận khoa học) dùng để giải thích một số khúc mắc của cái thực thể vũ trụ ấy. Vì thế nên không bao giờ có một thực thể vũ trụ của (hay thuộc về) một cái thuyết do con người lập ra cả…”. Cụm từ tiếng Anh của “vũ trụ của vật lý lượng tử” là “the universe of quantum physics”. Ông Tôn Thất Phu có thể đọc đoạn văn sau đây trong bài “The Joy of Science – Quantum Physics in Finnegans Wake” để thấy là “vũ trụ” và “vật lý lượng tử” (hay “thuyết lượng tử”) vẫn có thể đứng bên nhau một cách trang trọng, đường hoàng trong cách hiểu, cách nói và cách viết của con người: “The constant shifting of the Wakean reality resembles the universe of quantum physics. Subatomic experiments showed that solid matter is not as permanent as classical physics claimed. The life of the universe does not consist of a rearrangement of indestructible material particles; on the contrary, the matter is actually an endless process of creation and annihilation (…)” (Tạm dịch: “Thực tại của [Finnegans] Wake thay đổi thường xuyên giống như cái vũ trụ của vật lý lượng tử. Những thí nghiệm ở cấp độ hạ-nguyên tử đã cho thấy rằng vật chất rắn không có tính chất thường hằng như nền vật lý cổ điển tuyên bố. Cuộc sống của vũ trụ không bao gồm một sự tái sắp xếp của những hạt vật chất bất khả diệt; trái lại, vật chất thực sự là một tiến trình bất tận của sáng tạo và phá huỷ…”) (Xem http://duszenko.northern.edu/joyce/quanta.html ). Đây là một bài phân tích rất sâu sắc và thú vị thế giới của James Joyce trong tác phẩm “Finnegans Wake”, áp dụng một cái nhìn so sánh, quy chiếu với vật lý lượng tử.

Ngoài ra, ta cũng có thể thấy cụm “vũ trụ của vật lý lượng tử” trong câu sau đây trong bài “Armagh Observatory”: “The 20th century astronomer, Nicola, is immersed in the universe of quantum physics but drawn to the past of the observatory, an obsession which she shares with her colleague and sometimes lover, the historian, Jon. The author draws upon some of the stranger interpretations of quantum physics to speculate that even history may be rewritten by the actions of those in the present…” (. Xin miễn dịch. Đây là một vở kịch của Peacock Theatre được trình diễn vào tháng Tư, 1999, tại Dublin; chủ đề có liên hệ đến “vũ trụ của vật lý lượng tử”, và có những quy chiếu về tính “bất định lượng tử” (“quantum uncertainty”). Xem http://www.arm.ac.uk/play.html ).

Như thế, để tóm lại, nói “vũ trụ của vật lý lượng tử” (“the universe of quantum physics), hay nói dài hơn, “vũ trụ đặt nền trên vật lý lượng tử”, “vũ trụ (được hiểu theo những quy luật) của vật lý lượng tử” là một lối nói hợp lý, bình thường, và cập nhật với những thông tin mới mẻ của khoa vũ trụ học cũng như của ngành vật lý lượng tử. (10) Điều này hoàn toàn đúng, không có gì sai.

Ông TTP, trong bài của mình, có chỗ viết: “Tôi không trách ông Phúc đã không bàn rộng về vấn đề mà ông không biết một tí gì; nhưng tôi chỉ muốn ông khi dùng từ ngữ ông phải cân nhắc và suy nghĩ chín chắn, nếu không hiểu rõ nghĩa chữ thì tốt hơn không nên dùng chúng một cách vô ý thức.” Tôi không trách ông TTP đã vội vã viết những câu trên mà không tìm hiểu thật kỹ lưỡng khi đưa ra phán xét của mình. Tôi chỉ buồn vì thấy hình như ông rất độc đoán, thiếu kiên nhẫn, không chịu tìm hiểu kỹ càng hơn những điều mà có thể ông chưa nắm thật vững trước khi kết tội người khác.

Thật sự, tôi nghĩ, nếu ta có tinh thần cầu học, bỏ đi được tật tự mãn qua một nhúm sách vở học ở nhà trường, để lấy cho xong một cái bằng nào đó, mà để ý tìm tòi học hỏi thêm mỗi ngày qua các nguồn tài liệu, đặc biệt các tài liệu cập nhật, có thể tìm được khắp nơi trong thời đại này, ta có thể học được thêm rất nhiều điều cho cái vốn hiểu biết của mình. Trong rất nhiều lĩnh vực.

Từ khi qua Mỹ, khoảng trên dưới 40 năm trước, tôi đã thích đọc những loạt bài viết mang tính đối chiếu về các vấn đề có thể tranh luận (controversial). Trong những loạt bài này, một vấn đề (khoa học, luân lý, đạo đức, xã hội, tôn giáo, chính trị, kinh tế, v.v.) được đưa ra, và người biên soạn sách sắp xếp để hai cái nhìn so sánh, đối chiếu (thường là ngược chiều nhau), của hai tác giả danh tiếng, được trình bày trước độc giả. Những loạt bài như thế đọc rất thú. Đặc biệt về mặt kiến thức và lập luận của các tác giả. Giọng điệu và ngôn ngữ của các bài viết rất chừng mực, lịch lãm, mang tính trí thức cao, và đầy nét văn hoá trong sự trình bày, thảo luận hoặc tranh luận. Chúng giúp cho ta có một cái nhìn bình tĩnh, hiểu biết, kiên nhẫn và bao dung hơn đối với những tư tưởng, ý kiến, suy nghĩ không cùng chiều với ta.

Ông Tôn Thất Phu, khi không đồng ý với người khác, thường có cái nhìn khích bác, thậm chí gọi người khác là “dốt”, khi thấy người khác có ý kiến, suy nghĩ không thuận chiều với mình. Tôi nghĩ thái độ ấy không lành mạnh. Nó không giúp được gì trong việc nâng cao kiến thức hay phẩm cách của người phát ngôn.

.4.

Qua bài viết của ông Tôn Thất Phu, ta cũng thấy ông không đọc vỡ được một văn bản văn học khi ông đụng vào những cụm như “trường thu hút”, “trường ám ảnh” (của một bài thơ). Ông cứ ép người đọc, đặc biệt ép tôi là tác giả tiểu luận “Viết và Đọc: Những Nẻo Đi Về”, phải hiểu khái niệm “trường” thuần tuý trong phạm vi vật lý, nỗi ám ảnh của riêng ông. Ông không hiểu và không cho phép người đọc hiểu chữ “trường” trong những lĩnh vực khác vốn cũng được liệt kê trong từ điển và được dùng trong những văn bản văn học hay xã hội học, v.v… Như “trường ngữ nghĩa” (semantic field/champ sémantique), hoặc “trường liên hợp” (associative field/champ associatif). Ông cũng không chịu nếu người ta dùng “trường” theo nghĩa ẩn dụ. “Trường”, với ông, chỉ được hiểu duy nhất theo nghĩa vật lý. Và ông dùng các khái niệm và định nghĩa vật lý (liệt kê ra một cách lằng nhằng với mục đích hù doạ) để bắt bẻ, vặn vẹo người khác.

Cũng thế, ông không chấp nhận cụm “không gian tâm hồn” mà tôi đã dùng. Ông vặn vẹo, không gian mà cũng có tâm hồn à? “Cái thứ không gian của tâm hồn là gì? Tâm hồn mà cũng có không gian như cái phòng, cái tủ ư? Đây là loại không gian gì? Superspace, Hyperspace hay cyberspace…” Đến chết mất thôi! Ông vẫn không đọc được các văn bản văn học. Ông không biết là trong bài thơ “Mặt Trời” của Thanh Tâm Tuyền, in trong tập “Tôi Không Còn Cô Độc” của nhà thơ, có đoạn:

“…bao giờ ánh sáng cũng nhói thẳng con ngươi
tâm hồn rực rỡ bàn tay vẫy
tôi trở lại cùng những người thân yêu
không giam tâm hồn trong nhà ngục tâm hồn
thế giới nói thêm lời hoa cỏ thiên nhiên…”

Thật ra, cụm từ cũng như khái niệm “không gian tâm hồn” ta có thể tìm được khắp nơi trong nhiều loại văn bản, đặc biệt là văn bản văn học. Chẳng hạn đoạn văn này: “Đi và viết, hai vế của một hành trình, từ không gian địa lý đến không gian tâm hồn, đang rất được nhiều người trẻ Việt lựa chọn. Đi để viết và viết để làm những chuyến đi trở nên bất tận. (…)” (Xem http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=377163); hay là đoạn này: “Vườn ở đây có thể là một không gian trừu tượng của trần thế, đối lập với cõi âm tăm tối, cũng có thể là không gian tượng trưng, không gian tâm hồn của nhân vật trữ tình. Thơ Xuân Diệu là "vườn mơn trớn", ca ngợi tình yêu bằng muôn sắc điệu, âm thanh và hương vị. (…)” (Xem http://gactrovanchuong.blogspot.com/2013/07/khong-gian-nghe-thuat-trong-hai-tap-tho.html ).

Ông Tôn Thất Phu đòi đuổi cổ “không gian tâm hồn” ra khỏi ngôn ngữ của nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình, cũng như của các văn bản (văn học). Đối với ông, “không gian” là “không gian”, còn “tâm hồn” là “tâm hồn” (cũng như “vũ trụ” là vũ trụ, còn “vật lý lượng tử” là… vật lý lượng tử). Không thể gắn vào nhau, không thể “cưới xin vô lối” như vậy được!

Ông cũng phán xét là tôi dùng những cụm từ không đúng, như “tinh thần lý luận”, “tổ chức bài thơ”, v.v… Đối với ông TTP, không được có “tinh thần lý luận”. Chỉ được quyền có “phép lý luận” thôi. Thật ra, như thế, ông chỉ biết cái “cụ tượng”, “cụ thể”, mà không hề biết đến cái “trừu tượng”. Xin ông đọc thử những đoạn văn sau đây về “tinh thần lý luận”:

Chỉ khi nào tinh thần lý luận xao lãng nhiệm vụ riêng mà sấn bước vào con đường Thiền, lúc ấy, Thiền mới lớn tiếng tuyên cáo ý chỉ, và trục xuất bằng võ lực tên xâm lăng. Dầu vậy, Thiền không phải là cừu địch của bất cứ gì; thật vậy, không có lý do nào Thiền đối nghịch với tri thức (…)” (Xem trong “Daisetz Teitaro Suzuk: Thiền Luận”, bản dịch của Trúc Thiên ) (11).

Hoặc:

Có thể nói, tinh thần lý luận và phê bình văn học của Thiếu Sơn mang tính học thuật cao, hiện đại và tiến bộ. Từ những trang viết của ông có thể thấy ông đã sớm coi phê bình văn học như một hoạt động sáng tạo đầy tự do và dân chủ của người nghệ sĩ….” (Xem trong “Tinh thần dân chủ, một phẩm tính trong phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn” của Cao Thị Hồng) (12)

Còn “tổ chức bài thơ”? Ông đòi hỏi phải sửa lại thành “cấu trúc bài thơ”. Thật ra, cả hai cách dùng đều được phép, cho dù chúng hơi khác nhau về sắc thái. Trong bài “Viết và Đọc:…”, có đoạn tôi viết: “Đọc một bài thơ là nghe ngóng lại đời sống mình, bằng cách dò tìm vào trong những mặt chữ của tổ chức bài thơ, của cấu trúc thơ, những hang động thâm u dẫn ta giáp mặt với những ám ảnh thiết tha xa vắng.” (Xin xem lại chú thích 2). Thật ra, “tổ chức” hay “cấu trúc” có thể được sử dụng, hoặc như danh từ hoặc như động từ, với các cụm “bài thơ”, “một bài thơ”.

Tôi xin phép thử giới thiệu hai đoạn văn có dùng cụm “tổ chức” này. Đoạn văn dưới đây, trong câu đầu dùng “tổ chức” như một động từ; trong câu sau, như một danh từ:

“Một bài thơ nói chung, một bài thơ trữ tình nói riêng, được tổ chức theo những điểm loại thể của nó. Có thể khảo sát cách tổ chức một bài thơ trên các phương diện đề thơ, dòng thơ, câu thơ, khổ thơ, …” (Xem trong tài liệu về “Lý luận văn học – Tác phẩm trữ tình”) (13)

Cũng thế, đoạn văn dưới đây có lúc dùng “tổ chức” như một động từ, có lúc như một danh từ:

Tổ chức bài thơ theo dòng cảm xúc. Bài thơ được tổ chức theo sự vận động của tình cảm. Việc tôn trọng dòng chảy tự nhiên của cảm xúc có một ý nghĩa quan trọng trong việc giải phóng thơ khỏi những ràng buộc. Tổ chức bài thơ không chịu sự quy định của niêm luật với số dòng, số câu nhất định mà tuôn theo dòng chảy …” (Xem “Ngôn từ nghệ thuật thơ mới”, luận án tiến sĩ của La Nguyệt Anh) (14)

Cũng tương tự như thế, những cụm từ mà tôi đã có dịp dùng như: “một trục toạ độ không-thời”, “không gian của một bài thơ”, “ý niệm bootstrap của vật lý lượng tử” cũng bị ông cấm chỉ. Ông viết: “(…) Như để chứng tỏ sự ‘thông tháí, ông Phúc đã dùng một cách gượng gạo một số từ của vật lý hay tóan học vào văn chương đễ bày tỏ một sự chính xác vô lối (tôi gọi đây là sự cưỡng hiếp ngôn từ). Ngòai những từ đã bàn ở trên, còn có : ‘Trên một (?) trục tọa độ không thờí [c.t.3,trang 413], ‘không gian (?) của một bài thơ, nhìn dưới góc cạnh nào đó, giống như không gian trong ý-niệm bootstrap cũa vật lý lượng tử" [c.t.3, trang 679] vân ..vân. (…) Những loại văn như thế đã góp phần làm cho văn ông Phúc trở nên khó hiểu và xáo trộn. Tôi nghĩ tác giả nắm chưa rõ hiễu chưa thông, thấu chưa suốt hết ý nghĩa cũa từ ngữ lý-toán như tôi đã nêu trên.” (Tôi [BVP] đã copy lại nguyên văn phần bài của ông TTP với những sai sót về chính tả).

Về cụm “một trục toạ độ không-thời”. Nếu xét riêng về mặt thời gian, thì người ta có thể nói về, chẳng hạn, “sơ đồ mạng trên trục thời gian”, hay “đường biểu diễn trên trục thời gian”, v.v. Không gian cũng là một trục. Người ta có thể viết: “(…) Các phần của một công việc thực hiện trên mỗi phân đoạn được biểu thị là một đoạn thẳng xiên, có hình chiếu trên trục thời gian là tij, hình chiếu trên trục không gian là phân đoạn j. Tổng số các phân đoạn trong toàn dự án mà một công việc i triển khai lần lượt trên đó được ký hiệu là m. (…) (trong bài viết về “Sơ đồ xiên thể hiện tiến độ”, trên Wikipedia). Còn khi tôi viết “một trục toạ độ không-thời” là tôi muốn nói đến một kết hợp của không gian và thời gian. Có lẽ, tốt hơn, tôi nên viết là “một hệ trục toạ độ không-thời”, hoặc, ngắn hơn, “một hệ toạ độ không-thời”. Một liên thể không-thời (Space-Time Continuum).

Lý thuyết tương đối của Einstein đã phá vỡ ý niệm về một thời gian tuyệt đối và phổ biến, và cũng phá vỡ ý niệm về một không gian như một cái khung tuyệt đối. Thời gian, theo thuyết này, chỉ là một liên hệ trình tự của các biến cố, các sự kiện xảy ra; còn không gian chỉ là liên hệ vị trí giữa các vật thể (Space is simply the order of relationship of things to each other). Thời gian và không gian phải được xét trong thế tương liên, không thể phân cách khỏi nhau. Điều này đưa đến khái niệm liên thể không-thời (gian)/Space-Time Continuum như đã nói. Trước đó, nhà toán học Minskowski cũng đã phát biểu là người ta không thể tách rời thời gian ra khỏi không gian, và ngược lại, vì, tách riêng, chúng chỉ là những khái niệm không có thực, những bóng ma. Chỉ khi được phối kết với nhau, chúng mới diễn tả được một thực tại. Thuyết của Einstein cũng cho rằng tất cả mọi hiện tượng vật lý, đang di động (và tất cả mọi thứ trên trái đất này đều đang chuyển động, di động, kể cả những tảng đá lớn, có vẻ như bất động, vì mọi thứ đều đang “đi” cùng với quả đất (vốn đang quay quanh mặt trời và đang tự quay trên chính trục của nó, từ Tây sang Đông, ngược chiều kim đồng hồ) / “Trái đất ba phần tư nước mắt / Đi như giọt lệ giữa không trung”, thơ Xuân Diệu), chỉ có thể được xác định qua hệ trục toạ độ không-thời, qua liên thể không-thời đã nói trên. Không gian, thời gian, vật thể, và sự di động gắn bó, liên đới với nhau để cùng hiện hữu. Chẳng hạn, vị trí của một chiếc máy bay trong suốt lộ trình của nó phải được tính toán dựa trên vĩ tuyến x, kinh tuyến y và cao độ z, cùng với thời gian t. Không gian có ba chiều; còn thời gian, theo thuyết tương đối, là chiều thứ tư. (15)

Nói về những chuyện này, ông Tôn Thất Phu không cho biết cái văn cảnh (context) của chúng. Ông giấu biệt văn cảnh đi, mà chỉ nói là tôi “đã dùng một cách gượng gạo một số từ của vật lý hay tóan học vào văn chương đễ bày tỏ một sự chính xác vô lối” (nguyên văn, với “đễ” dấu ngã). Thật sự, cụm từ đó tôi đã dùng trong bài viết về thơ Tô Thuỳ Yên, phần “Tính Chất Siêu Hình trong Thơ Tô Thuỳ Yên”. Trong phần ấy, ở một đoạn, tôi dẫn bài thơ “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” mà nhà thơ đã cho đăng trên tạp chí Sáng Tạo, tháng Tư, năm 1956. Sau đó, tôi đưa ra cái nhìn của mình:

Trên cánh đồng hoang thuần một màu
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu
Tàu chạy mau tàu chạy rất mau
Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu
Cỏ cây cỏ cây lùi chóng mặt
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu
Ngựa thở hào hển thở hào hển
Tàu chạy mau vẫn mau vẫn mau
Mặt trời mọc xong mặt trời lặn
Ngựa gục đầu gục đầu gục đầu
Cánh đồng a! cánh đồng sắp hết
Tàu chạy mau càng mau càng mau
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ
Như giữa nền nhung một vết nâu.

(“Cánh đồng con ngựa chuyến tàu”, toàn bài)

“Bài thơ, với những hình ảnh rất thực, rất cụ thể, lại có vẻ như một bức tranh siêu thực. Nó như được phóng chiếu vào tâm thức người đọc từ một giấc mơ miên man nào đó của con người. Con ngựa và chuyến tàu, và cả cánh đồng nữa, tất cả như những biểu tượng và ám ảnh về một thời gian vụt gấp, về một không gian mở rộng mãi như muốn nuốt chửng lấy con người. Con tàu, một khối không gian co chặt, nén ép, đâm sầm vào tâm trí và vào giấc mơ của con người với cái cận ảnh của nó được phóng lớn lên cùng với tiếng sầm sập của thời gian. Trên một trục tọa độ không-thời, con tàu là một chất điểm. Trong nó, có cả thời gian và không gian đang lao đi vùn vụt. Cánh đồng là trang giấy trắng, biểu diễn sự đi về của thiên cổ, của vũ trụ, càn khôn. Nó có thể cứ còn được kéo dài, lắp dài ra mãi. Con ngựa là biểu tượng cho những ước mơ của con người, và cuộc sống hữu hạn của nó. Nếu nhìn vào bài thơ theo cách nhìn phân tâm của Carl Jung, bài thơ này, với những biểu tượng của ám ảnh, của giấc mơ xâm thực vào đời sống như thế, đã nói trước về hướng tới và cuộc lữ của Tô Thùy Yên. Ông không thể nào thoát khỏi cái định mệnh con ngựa-chuyến tàu của mình.” (Trích từ bài “Tô Thuỳ Yên: Thơ, như một vinh dự lầm than của kiếp người”, trong sách “Lý Luận và Phê Bình: Hai mươi Năm Văn Học Việt Ngoài Nước (1975-1995)” của BVP.)

Bài thơ của TTY nói đến thời gian, không gian, vật thể, và sự di động. Đó là nhìn trên bề mặt, khiến tôi nói về “không-thời”. Còn về chiều sâu, nó gợi cho ta nhiều suy nghĩ, như cách tôi đã thử phân tích. Dĩ nhiên còn những cách nhìn khác.

Còn “không gian của một bài thơ”? Ông Tôn Thất Phu cũng không bằng lòng cho tôi dùng cụm từ này.

Xét về mặt phân tích nghệ thuật, đặc biệt theo hướng thi pháp học, người ta có thể tìm hiểu không gian của một bài thơ bất kỳ nào. Không gian đó là không gian xuất hiện trong mắt nhìn, trong tâm tưởng của người đọc, người thưởng ngoạn hay phân tích. Chẳng hạn người ta có thể tìm hiểu về không gian trong bài “Tràng Giang” của Huy Cận, không gian trong bài “Tỳ Bà” của Bích Khê, không gian trong bài “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu, v.v. Người ta có thể viết, như trong một câu hỏi Văn về bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận: “Cách cảm nhận không gian và thời gian của bài thơ có gì đáng chú ý?’”, và một đoạn hướng dẫn gợi ý, như: “1/ Mang cảm hứng vũ trụ (…); 2/ Không gian ba chiều (…); 3/ Không gian buồn, hiu hắt (…); 4/ Không gian vừa hùng vĩ, vừa cô đơn (…).” (16)

Ngoài ra, “không gian của một bài thơ” còn có nghĩa cụ thể liên hệ đến phần không gian mà một bài thơ chiếm trên trang giấy, trang in bài thơ. Khi bàn về thi pháp thơ, khái niệm “không gian của một bài thơ” (theo hướng cụ thể này) là một điều cần thiết để hiểu về thơ. Nó thường là một trong những nét hình thức chính để khu biệt thơ và văn xuôi. Giáo sư Đỗ Đức Hiểu, khi đặt vấn đề khảo sát một bài thơ, trong bài “Thi Pháp Thơ”, đã viết:

“… trên không gian in trên giấy, trang in thơ có nhiều khoảng trắng hơn trang in văn xuôi (…) những khoảng trắng, đậm chất thơ, nơi chất thơ lan toả…” Điều đó đưa đến ý nghĩa: “Thơ là văn bản không liên tục, thơ có nhiều chỗ “lặng”, cái lặng của thơ tràn ngập cảm xúc và tư duy.” (Đỗ Đức Hiểu, “Mấy Vấn Đề Thi Pháp Học”, trong Thi Pháp Hiện Đại, trang 15, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2000).

Mỗi bài thơ, xét về mặt cụ thể khi nó xuất hiện trên trang báo, trang sách, như thế, có thể có một “không gian” khác nhau. Có thể nói bất kỳ một bài thơ ở thể loại nào cũng có nhiều khoảng trắng hơn là một bài văn. Chẳng hạn, ta có thể lấy một bài thơ tự do bất kỳ nào làm ví dụ. Nhưng mỗi bài thơ làm theo lối tự do, chẳng hạn, lại có thể có một không gian riêng của nó. Và chính là ở những khoảng không gian khác biệt ấy, với những khoảng trắng, kết hợp với những phần có chữ của toàn bài thơ, với ý nghĩa của những con chữ, những cụm từ, kết hợp với những hình ảnh, rung động mà chúng tạo nên trong tâm hồn người đọc, mà bài thơ có được cái thẩm mỹ riêng của nó. Thẩm mỹ cả về mặt hình thức lẫn nội dung. Chính vì chưa quen thuộc với khái niệm “không gian của một bài thơ”, nói chung, và “không gian của một bài thơ”, theo hướng cụ thể vừa trình bày, nói riêng, ông TTP đã đưa ra những lời phê phán rất chủ quan, mà lại nặng nề, của ông ở phần trên.

Ông Tôn Thất Phu nói tôi “nắm chưa rõ hiễu (sic) chưa thông, thấu chưa suốt hết ý nghĩa cũa (sic) từ ngữ lý-toán…”, và ông cắt bỏ đi tất cả những gì liên hệ mà nếu độc giả có cơ hội được đọc trong bài tiểu luận của tôi mà ông trích dẫn, tôi không nghĩ là họ tin theo lời ông. Đọc toàn bộ phần trình bày, họ có thể nghĩ là tôi có một cái nhìn rất không “truyền thống”, nhưng họ sẽ không nghĩ là tôi “nắm chưa rõ hiễu (sic) chưa thông, thấu chưa suốt hết ý nghĩa cũa (sic) từ ngữ lý-toán…”. Chẳng hạn, đoạn tôi trình bày về khái niệm “bootstrap” mà tôi đã thử đưa vào để nói về thơ:

“ (…) Không gian của một bài thơ, nhìn dưới một góc cạnh nào đó, giống như không gian trong ý niệm bootstrap của vật lý cực vi (*) . Ý niệm này cho rằng vạn vật nương tựa vào nhau mà thành, mà sống. Mỗi một chất điểm cực vi của vật chất, của thực hữu, thật sự không phải là những điểm hoàn toàn độc lập. Chúng không có những thực thể riêng biệt. Chất điểm này phát sinh và có mặt chính là vì chất điểm kia. Hãy hình dung một khối cầu. Nó được tạo nên bởi tất cả các điểm trên diện tích hình cầu cũng như tất cả các điểm trong lòng cầu. Thiếu một trong những điểm đó, hình cầu sẽ không hiện hữu nữa. Hãy nối tất cả mỗi một điểm với tất cả những điểm khác nó trong hình cầu, ta sẽ có một mạng lưới chằng chịt tạo nên bởi sự kết nối này. Mỗi điểm trong hình cầu, bây giờ, liên hệ với tất cả những điểm khác nó.

Vậy thì để lập lại, một bài thơ, nhìn ở một góc cạnh nào đó, chính là một thế giới như thế. Thường thì bài thơ càng ngắn, độ áp dụng ý niệm bootstrap này đối với nó càng tăng. Những sóng âm thanh, ngữ nghĩa, hình ảnh, tư tưởng, liên tưởng của hệ thống ấy càng bị ép sát và va chạm, soi chiếu, dội đập vào nhau để cho ta những cảm xúc mãnh liệt, những ấn tượng sắc nét. Mỗi một từ trong bài thơ đều rất quan trọng. Chúng như những con cờ khác nhau trong một bàn cờ. Những con cờ có ý nghĩa vì chúng được đặt nằm ở những vị trí nào đó trong sự bố trí chung. Một con cờ sẽ chẳng còn gì giá trị khi nó không được liên hệ đối chiếu với những quân cờ khác. Các từ trong một bài thơ cũng vậy. Chúng chỉ có giá trị khi được đặt ở một vị trí nào đó trong một cấu trúc hoàn chỉnh; ở đó, ý nghĩa nó được nâng dậy nhờ những từ, những ý khác bao bọc xung quanh.

Bài thơ, như thế, là một trường-ngữ-nghĩa (semantic field/champ sémantique), đồng thời cũng là một trường-liên-hợp (associative field/champ associatif), hay, nói cho đúng hơn, một bài thơ là một hệ thống ký hiệu lồng ghép vào nhau, bồng bế xoắn xít lấy nhau. Đó là một văn bản di động trên nhiều bình diện, gồm nhiều trường, nhiều hệ thống, nhiều lớp sóng chồng chất, đan chéo vào nhau. Chúng tạo ra những liên hệ, làm cho mỗi từ ngữ cũng như vị trí của nó trong một bài thơ trở nên quan trọng. Và cũng chính là ở trên căn bản của một sự di động chồng chéo, bồng bế, lồng ghép đó mà một bài thơ dễ trở nên lóng lánh. Ý nghĩa của nó trở nên giàu có hơn. ” (17)

(Chú thích hoa thị trong phần trích—trong sách tôi ghi là chú thích (1), mà ông TTP không ghi ra, có lẽ để tiện cho việc nói rằng tôi chỉ “nổ” mà không có ghi chú gì, không có kiến thức gì—là: “Ý niệm “bootstrap” được trình bày trong quyển The Tao of Physics của Fritjob Capra. Việc dùng ý niệm này để giải thích cấu trúc của thơ là trách nhiệm của riêng tôi.” )

Ông Tôn Thất Phu còn hoạnh hoẹ tôi trong cách dùng cụm từ “mã văn hoá” khi tôi, trong bài “Viết và Đọc: Một Cõi Đi Về” đã trình bày như thế này:

“Viết là mã hóa. Viết là đưa vào mã qua dạng chữ tất cả những ước mơ, những tra vấn, những thiết tha, những gạn hỏi, những băn khoăn ray rứt dịu dàng của ta. Viết là đưa vào những dòng chữ cái đời sống văn hóa của kẻ viết chữ; từ đó, người đọc có thể đi vào và, trong những mức độ khác nhau, khám phá ra vũ trụ riêng tư của người viết. Một cách nào đó, viết có nghĩa là một nỗ lực nén tất cả đời sống tinh thần và vật chất, những hoa lá nắng mưa cây trái, những mùa màng thời tiết của đời sống mình, những trăng sao tinh tú của mộng ước mình… vào cái li ti của những mặt chữ. (…)

Vũ trụ mà chúng ta đang sống, với tất cả những kỳ bí ảo huyền sôi sục và linh động của nó, là một vũ trụ được con người cảm nhận và thức nhận—trong những giới hạn riêng của chính con người. Chữ viết cũng thế. Chúng mở ra những mã văn hóa. Mỗi người đọc văn mang theo với mình những chìa khóa riêng trong hành trình thám mã của chính mình. Văn bản, như thế, trở nên một trường ám ảnh, một trường thu hút, mà mỗi người đọc, trong thế giới kinh nghiệm và mộng mơ của chính hắn, cùng góp phần sáng tạo với nhà văn, nhà thơ.”

Ông TTP đã không đọc kỹ những gì tôi viết, đặc biệt trong đoạn đầu của phần trích dẫn nói trên, hoặc là ông đọc “không vỡ chữ” một văn bản, đặc biệt một văn bản văn học, nên ông lý luận:

“Ông còn bàn về ‘Mã văn hóa’. Văn Hóa là tất cả phong tục, tập quán, kinh tế, chính trị….của một giống dân, ở đây phong tục, tập quán chính là caí mã (code) của Văn Hóa.  Cho nên văn hóa là cái mã để nhận diện sự khác biệt giữa người Tàu và người Viet, người Anh và người Pháp. Như thế khi dùng ‘mã văn hóa’ vô hình dung lại mã hóa thêm một lần nữa ư?

Ông lại nhầm nữa rồi đó. Viết là mã hoá, nhưng mã hóa với sắc thái riêng ấy là thể dạng của văn hóạ ‘mã hoa’ là cách sắp đặt từ ngữ qua đó tâm tư người viết được chuyển thành văn. Còn văn hóa là sắc thái hay cung cách của mã hóa. Cho nên khi đọc ta giải mã (decode) văn viết để hiểu về sắc thái người viết thuộc về dòng tộc văn hoá nào.” (Trích nguyên văn theo văn bản của TTP, với “vô hình trung”, nghĩa là “trong cõi vô hình”, là “mặc nhiên”, “không cần bàn luận”, được ông TTP viết thành “vô hình dung”).

Văn hoá có nghĩa rất rộng, và nó được áp dụng ở nhiều tầng bậc. Ta có văn hoá của một dân tộc, văn hoá của một giới—như “văn hoá của giới trẻ”, “văn hoá của giới thư lại”, “văn hoá của giới bình dân”, thậm chí “văn hoá của giới giang hồ”, v.v. Đấy là những “văn hoá” riêng của từng giới, của những nhóm nhỏ trong một cộng đồng người, là những “sub-cultures”— , văn hoá của một con người, v.v. Văn hóa, không như ông TTP hiểu, chỉ là để nói về văn hoá của một dân tộc. Như ông giải thích để “bắt bẻ”: “Văn Hóa là tất cả phong tục, tập quán, kinh tế, chính trị….của một giống dân, ở đây phong tục, tập quán chính là caí mã (code) của Văn Hóa.”, “khi đọc ta giải mã (decode) văn viết để hiểu về sắc thái người viết thuộc về dòng tộc văn hoá nào.”

Việc ông Tôn Thất Phu viết và “bắt bẻ” như trên chỉ chứng tỏ được vài điều: ông không quen biết lắm với ngành “Nhân Chủng Học Văn Hoá” (Cultural Anthropology”), hoặc với ngành Xã-Hội-Học (“Sociology”). Hoặc với “Lý Thuyết Tiếp Nhận” (“Reception Theory”) trong văn học. Và, để lặp lại một lần nữa: ông không đọc vỡ được một văn bản văn học. Tôi đã viết, rất rõ, “Viết là đưa vào mã qua dạng chữ tất cả những ước mơ, những tra vấn, những thiết tha, những gạn hỏi, những băn khoăn ray rứt dịu dàng của ta. Viết là đưa vào những dòng chữ cái đời sống văn hóa của kẻ viết chữ (tôi nhấn mạnh); từ đó, người đọc có thể đi vào và, trong những mức độ khác nhau, khám phá ra vũ trụ riêng tư của người viết.” Như thế, “văn hoá” mà ta đang nói ở đây là cái văn hoá của cá nhân mỗi người cầm bút. Văn hoá của một con người nói chung, của một nhà văn nói riêng, là tất cả những gì mà cuộc sống đã nhào nặn nên để làm thành một con người đặc thù như thế.

Tôi cũng viết, “Chữ viết cũng thế. Chúng mở ra những mã văn hóa. Mỗi người đọc văn mang theo với mình những chìa khóa riêng trong hành trình thám mã của chính mình. Văn bản, như thế, trở nên một trường ám ảnh, một trường thu hút, mà mỗi người đọc, trong thế giới kinh nghiệm và mộng mơ của chính hắn, cùng góp phần sáng tạo với nhà văn, nhà thơ.” Bởi lẽ, mỗi người viết đều viết với cái “văn hoá” riêng của mình, như đã trình bày ở trên. Người đọc cũng thế. Mỗi người đọc riêng biệt cũng là một con người với văn hoá riêng của người ấy. Họ bước vào một văn bản văn học với tất cả vốn liếng văn hoá đặc thù làm nên con người họ. Mỗi người đọc mang theo cái “chìa khoá riêng” đó khi tiếp cận văn bản. Và cái “vốn liếng”, cái “chìa khoá” mà tôi nói ở đây không chỉ liên hệ đến sự tiếp thu kiến thức, hiểu biết, của một người qua sách vở, về sự học tập, đào luyện, v.v., mà còn nói về cả những kinh nghiệm trong đời sống họ, những khuynh hướng, ước mơ, khao khát riêng tư, những va đập trước cuộc đời của họ, cộng với cái tính cách và sự giáo dục riêng từ gia đình, học đường đến xã hội của một con người. Cá nhân mỗi một người đọc bước vào một văn bản văn học với tất cả những điều ấy. Và họ gặp được “con người văn hoá” của nhà văn, nhà thơ. Sự “chạm mặt” ấy tạo nên “tác phẩm văn học” mà, trước đó, bài văn, bài thơ, hay cuốn sách kia, chỉ thuần tuý là một “văn bản văn học” mà thôi.

Tôi chỉ thử trình bày lại cái lýcái nghĩa của của một số khái niệm, trong một số cụm từ hay hình ảnh mà tôi đã dùng, và được ông TTP đem ra mổ xẻ, “chì chiết”, cho rằng tôi không biết tí gì cả, “nắm chưa rõ hiễu (sic) chưa thông, thấu chưa suốt hết ý nghĩa cũa (sic) từ ngữ lý-toán…”, v.v. Thật sự, với sự đọc văn và với não trạng say mê chỉ trích người khác, vạch lá tìm sâu, với thái độ độc đoán trong suy nghĩ, và với niềm tin mãnh liệt là bao nhiêu kiến thức trong thiên hạ, đặc biệt kiến thức về lý-toán, đều là của riêng ông, tôi nghĩ ông có thể lôi cả nghìn từ ngữ, hình ảnh, cụm từ của tôi, trong tất cả những gì tôi đã viết ra, để phê phán, chỉ bảo, lên án một cách rất vô lối và buồn cười.

Ngoài văn thơ ra, tôi, có lẽ cũng như nhiều người trong chúng ta, còn có những thú vui học hỏi, tìm hiểu trong những môn, ngành khác nữa. Tôi nghĩ điều đó đúng và tốt cho tất cả những ai có tinh thần cầu học. Tôi muốn nói về sự học hỏi, tìm hiểu cuộc sống, con người, và tất cả những gì bao quanh con người, bao quanh cuộc sống ấy. Vật lý hiện đại, đặc biệt thuyết tương đối của Einstein (ER) và thuyết lượng tử (quantum theory), còn được gọi bằng những tên khác như vật lý lượng tử (quantum physics), cơ học lượng tử (quantum mechanics/QM), trong mấy chục năm trở lại đây, đã trình hiện trước mắt nhìn con người một thực tại khác với những gì chúng ta từng biết, từng tin, những ngày xưa. Nó có thể làm cho nhiều người thay đổi những suy tư của mình về cuộc sống. Nó làm cho cả khoa học và triết lý tiến những bước rất xa, làm thay đổi toàn diện những hiểu biết và suy tư của con người về thực tại, về cuộc sống này.

Tôi thích tìm hiểu, học hỏi, suy tư về cuộc sống, và như thế, không tránh được việc tìm hiểu, học hỏi đôi chút về nền vật lý hiện đại. Bởi, như đã nói, nền vật lý ấy, và những hiểu biết mà nó đem lại cho chúng ta về vũ trụ, về cuộc sống, không xa cách cuộc đời này. Nếu suy nghĩ sâu xa về những điều ta học hỏi được trong lĩnh vực ấy, ta sẽ thấy những hiểu biết đó không phải là để đóng khung trong tháp ngà, hay trong các công thức khô cứng. Rất nhiều khi, chúng đưa dẫn ta đến những suy nghĩ mang tính căn để về ý nghĩa của cuộc sống con người. Những điều tôi viết ra trên các trang văn của mình, đôi khi, phản ánh sự suy tư, nhìn ngắm đó. Có những lúc, ta không thể diễn ý khác đi nếu ta không sử dụng những hình ảnh, từ ngữ, hay khái niệm của khoa học.

Tôi thật sự phải xin lỗi các bạn đọc vì phải trình bày đôi chút về những khái niệm vật lý, khoa học trong bài này, những điều mà, nếu không bị ông TTP bắt bẻ, cho là tôi đã dùng từ ngữ một cách vô lối cũng như không hiểu gì về điều mình viết, tôi đã không phải trình bày gì ở đây. Bởi vì chúng, trên một khía cạnh nào đó, cũng chỉ là những kiến thức thông thường mà người ta có thể tìm biết, học hỏi một cách dễ dàng, hay không mấy khó khăn, từ đủ các nguồn tài liệu.

Ông Tôn Thất Phu, bịt mặt, dùng biệt danh, để nói chuyện, bình phẩm, diễu cợt, phán xét, nhiếc móc, mạ lị, lên án, nạt nộ, xúc phạm người khác. Ông (được) cho biết là có Ph.D. về vật lý. Nghe vậy thì biết vậy. Ông có bằng cấp như thế là điều quý. Nhưng, tôi nghĩ, người đọc, người đối thoại với ông, người chịu sự phê phán của ông, đặc biệt là sự phê phán mang tính mạ lị, lên án, v.v., sẽ yên tâm và tin tưởng hơn nếu ông sử dụng tên tuổi thật, với địa chỉ đáng tin cậy, để người đọc, người đối thoại với ông có thể kiểm chứng. Nhưng, dĩ nhiên, người ta có quyền chọn cho mình một cung cách hiện diện ở đời, hiện diện với đời. Nhưng, dù người ta có hiện diện trong một cung cách nào đi nữa, dù cho người ta có địa vị trong cuộc sống, hoặc học vị trong chuyên môn như thế nào đi nữa, cách hành xử, ngôn ngữ người ta sử dụng, thái độ đối đãi với những người mà người ta tiếp xúc, nói chung là cung cách đối nhân xử thế, sẽ cho mọi người chung quanh biết rõ con người của chúng ta.

Nói chung, tôi cảm thấy, vì độc đoán và thiếu kiên nhẫn, cũng như vì không mong được biết thêm hay học hỏi thêm điều gì, ông Tôn Thất Phu bó mình trong phạm vi những từ ngữ đã quen thuộc của ông, những từ ngữ có thể tương đối đã mòn, nhẵn, nhưng đem lại cho ông một cảm giác dễ chịu. Trong cuộc sống, có những người vì muốn thoải mái, dễ chịu, không bị căng thẳng khiến chất adrenaline trong máu tăng cao, họ chọn sự gần gũi, tiếp xúc với những gì quen thuộc, trong sự hiểu biết và trong sở thích của mình, thuận chiều với những suy nghĩ của mình. Tôi cảm thấy, qua bài viết của ông TTP, khi tiếp xúc với một cái mới, một từ ngữ mới, một tri thức mới, ông như bị bực bội, bức bối, cảm thấy như phải chịu đựng một sức ép, khiến ông phải tạo ngay một phản lực để đẩy chúng ra. Và, nếu được, tấn công, tiêu diệt chúng. Dù sao, trong kinh nghiệm của nhiều người, và nói riêng trong kinh nghiệm của riêng mình, tôi thấy sự kiên nhẫn có thể đem lại cho ta những niềm vui và hạnh phúc mà, lúc đầu, ta không nghĩ là mình có thể có được.

(còn tiếp)

———————————————————————————————

Chú thích:

(1) Xem đường dẫn http://www.gio-o.com/ANMZ/TonThatPhu6.htm . Bản tôi có, theo đường dẫn này, với nhiều sai sót về mặt kỹ thuật, đánh máy, trích văn sai, v.v., như đã nói, được truy cập ngày 12/18/17.

(2) Có thể xem bài này tại http://damau.org/archives/47546

(3) Xin xem toàn văn bài báo ở đây: http://articles.latimes.com/1992-05-10/news/mn-2513_1_big-bang-discovery

(4) Đây là một bài phỏng vấn rất thú vị, giúp người đọc có thêm được một số kiến thức cập nhật về vũ trụ học. Xem http://aether.lbl.gov/www/personnel/OMNIinterviewSmMarch93.html

(5) Phần trình bày ở đây, từ đoạn nói về “Bản Thiết Kế Vĩ Đại” của Stephen Hawking, đến hết đoạn có chú thích này, lấy ý, trích dẫn và tóm gọn từ bài “Has Stephen Hawking Ended the God Debate?”. Xem http://www.telegraph.co.uk/news/religion/7979211/Has-Stephen-Hawking-ended-the-God-debate.html .

(6) Câu văn mà ông TTP trích của tôi ở trên không đầy đủ; câu đầy đủ là "Thế rồi, một, hai, chục năm sau khi ta ngồi nhớ lại, và trăm ngàn năm nữa sau khi ta đã mất đi, những hình ảnh đó vẫn mãi còn trong cái vũ trụ của vật lý lượng tử". Xin xem bài “Vấn đề thẩm thức một tác phẩm nghệ thuật” (1986) của tôi tại http://damau.org/archives/8059 . Cũng có thể xem thêm bài “Bùi Giáng, bước chân đi tìm hồn nguyên tiêu và một màu hoa trên ngàn” (BVP, 1998) để tìm hiểu thêm về phong cách và một vài đóng góp của Bùi Giáng tại http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=355&rb=0102 .

(7) Xem lại đường dẫn ở chú thích số 4.

(8) “In quantum physics, specifying the initial state of a system allows one to calculate the probability that it will be found in any other state at a later time. Cosmology attempts to describe the behaviour of the entire Universe using these physical laws.” Xem tại http://www.ctc.cam.ac.uk/outreach/origins/quantum_cosmology_one.php

(9) “The second contender for a theory of initial conditions is quantum cosmology, the application of quantum theory to the entire Universe.” Xem lại đường dẫn ở chú thích số 7. (Lý) thuyết lượng tử (“quantum theory”) còn được gọi là vật lý lượng tử ( “quantum physics” hay “quantum mechanics”).

(10) Có thể đọc thêm bài “The Quantum Universe: Why All That Can Happen Does Happen”, tại https://www.brainpickings.org/2012/02/13/the-quantum-universe-brian-cox/ . Trích: “The picture of the universe we inhabit, as revealed by modern physics, [is] one of underlying simplicity; elegant phenomena dance away out of sight and the diversity of the macroscopic world emerges.” Ở đây, tác giả dùng cụm “modern physics” (trong vật lý thường được dùng để nói, phần lớn, về “quantum mechanics”/QM (“vật lý lượng tử”) và “Einsteinian relativity”/ER (“thuyết tương đối của Einstein”)). Tạm dịch “Hình ảnh của vũ trụ trong đó chúng ta sống, như được vật lý hiện đại vén mở, [là] hình ảnh của sự giản dị (ẩn tàng) bên dưới; những hiện tượng thanh nhã như một điệu vũ lướt qua và cái phong nhiêu bộn bề nhiều vẻ của thế giới vĩ mô hiển lộ.” Như thế, ta thấy tác giả nói về “vũ trụ” của “vật lý hiện đại” (bao hàm “vật lý lượng tử”). Và, như vậy, nói “vũ trụ của vật lý lượng tử” có cái lý của nó. Ta có thể tìm đọc các chủ đề về việc giải thích vũ trụ bằng “quantum theory”, chẳng hạn chủ đề về “Quantum Universe”. (Lý) thuyết lượng tử (“quantum theory”) còn được gọi là “quantum physics” hay “quantum mechanics. (Quantum theory is otherwise known as quantum physics or quantum mechanics).

(11) Xem: https://thuvienhoasen.org/images/file/aOb4pE_N0QgQABsz/thien-luan-daisetz-teitaro-suzuki-truc-thien-dich.pdf

(12) Xem: http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=21754

(13) Xem: https://text.123doc.org/document/1185756-phan-3-chuong-2-tac-pham-tru-tinh-ly-luan-van-hoc-pot.htm

(14) Xem: http://luanan.nlv.gov.vn/luanan?a=d&d=TTcFqWuMtSbi2013.1.24

(15) Chú thích thêm về điểm này bằng một đoạn trong bài “Không gian bốn chiều là gì?”, http://vuontoanblog.blogspot.com/2012/05/dimension.html : “Rõ ràng chúng ta thường đồng ý rằng đường thẳng là một chiều, mặt phẳng là hai chiều, không gian là ba chiều. Bởi vì chỉ cần làm một trục toạ độ ba chiều Oxyz thì mọi điểm trong không gian được xác định bởi tọa độ (x,y,z) của nó. Khi nghĩ về chiều thứ 4, chúng ta ngay lập tức nghĩ về chiều thời gian. Như vậy một điểm trong không gian không còn là (x,y,z) nữa mà là (x,y,z,t). Do đó một vị trí cố định (x,y,z) trong không gian ba chiều thật ra là vô số điểm trong không gian bốn chiều, và tọa độ của nó (x,y,z,t) là thay đổi theo biến thời gian t. Có nghĩa là điểm (x,y,z) của ngày hôm nay khác với điểm (x,y,z) của ngày hôm qua cho dù x, y, z là không đổi nhưng t đã thay đổi từ t = một thời điểm ở ngày hôm qua thành t = một thời điểm tại ngày hôm nay.”

(16) Xem: https://www.tech12h.com/de-bai/cach-cam-nhan-khong-gian-va-thoi-gian-cua-bai-tho-co-gi-dang-chu-y.html

(17) Trích trong bài “Mấy Suy Nghĩ Thơ”, trong sách “Lý Luận và Phê Bình: Hai mươi Năm Văn Học Việt Ngoài Nước (1975-1995)” của tôi, Văn Nghệ, 1996, California.

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)