Trang chính » Kịch, Phỏng vấn, Tư Liệu, Văn hóa Email bài này

Nguyễn thị Minh Ngọc nói về Thoại Kịch (kỳ 1)

 

pic 4 NT Minh Ngọc

Nghệ sĩ Nguyễn thị Minh Ngọc trong những vai diễn

Trong một buổi phỏng vấn hai kịch sĩ hài Quang Minh Hồng Đào trước đây về hai vở kịch được khán giả khắp nơi yêu thích “Những mảnh tình” và “100 ngày yêu”, cả hai có nhắc đến tác giả hai kịch bản này là Nguyễn Thị Minh Ngọc, cũng chính là cô giáo của họ.

Nguyễn Thị Minh Ngọc là một khuôn mặt rất quen thuộc của sân khấu và điện ảnh vì chị là nhà văn, đạo diễn, diễn viên, giảng viên dạy tại trường Sân khấu & Ðiện Ảnh Thành Phố và Nhà hát Trần Hữu Trang. Chị dạy Biên Kịch, Lý Luận Kịch và Lịch sử Sân khấu Việt Nam tại một số trường Cao Ðẳng và Ðại Học, đồng sáng lập CLB Ðạo Diễn Thể Nghiệm (1985), dựng khoảng 30 vở truyền thống và đương đại, viết khoảng 70 vở truyền thống và đương đại cho sân khấu và khoảng 30 kịch bản cho điện ảnh, hàng trăm tập phim cho truyền hình, vài công trình nghiên cứu về sân khấu và cải lương, đã dự nhiều liên hoan, hội thảo, sáng tác và nghiên cứu về sân khấu và giáo dục trong nước cùng các nước Úc, Anh, Pháp, Ðức, Tanzania, Na Uy, Thụy Ðiển, Philippines, Mỹ, Indonesia. Chị là phụ nữ Việt Nam đầu tiên đưa các tác phẩm Việt vào sân khấu Broadway – New York (Mỹ) với cương vị tác giả, đạo diễn và diễn viên. Chị nhận được rất nhiều giải thưởng về văn học, kịch bản sân khấu, kể cả kịch bản phim tài liệu.

Tôi biết đến kịch tác gia Minh Ngọc như một người bạn văn, vì ngoài nghề đạo diễn, biên kịch, giảng dạy ngành sân khấu, chị còn nặng nợ cả với văn chương. Trong một cuộc mạn đàm với chị về thoại kịch ở trong nước, tôi ngỏ ý quan tâm và được chị tâm sự như sau:

Hỏi: Nói đến thoại kịch, sau 1975 chị là giảng viên dạy về Biên Kịch và Lý Luận Kịch, xin chị cho biết cơ duyên nào đưa đẩy và tại sao chị bước vào lãnh vực này.

Đáp: Sân khấu chọn tôi chứ không phải tôi chọn sân khấu. Trước 75 tôi là dân toán nên dự định học kiến trúc rồi lại trôi nổi qua dự bị y khoa, nhưng trở ngược lại Sài Gòn, học sân khấu điện ảnh ở một trường tư. Năm 75, họ từ ngoài Bắc vào, và tôi bắt đầu lại từ con số không. Tôi thi vào trường Sân Khấu & Điện Ảnh thành phố đậu nên tôi học ở đây. Hành trình học hỏi khá gay go vì hầu như tôi là người thành danh trước 75, đã được học các loại triết học còn Karl Marx chỉ được học phớt qua thôi. Sau 75 họ cho học về Marx-Lenin. Tôi tốt nghiệp ra trường và được giữ lại để dạy. Chuyện dạy học cũng rất là trái khoáy vì khi còn đi học tôi đã là 1 học sinh cá biệt rồi. Tôi đã từng bị đuổi học vì chủ trương tờ báo và viết vở kịch đặt vấn đề chưa chắc người đứng trên bục đúng hơn dưới bục nên tôi nghĩ sẽ gặp quả báo khi đi dạy. Trước khi đi dạy tôi còn đang lang thang bán vé số vỉa hè để mưu sinh, bỗng được trường kêu về dạy. Họ cho tôi học khoá sư phạm, để tôi biết cách thức dạy và chuẩn bị cho tôi đi Ba Lan du học. Tuy nhiên đến phút chót, sợ tôi trốn, nên họ đã sắp xếp cho một người khác đi. Cuối cùng anh đó cũng trốn ở lại Ba lan bỏ cả vợ con còn bên VN.

Hỏi: Lúc dạy chị có gặp khó khăn và mâu thuẫn trong việc giảng dạy và chính sách của nhà nước không?

Đáp: Tôi nghĩ ở lãnh vực nào tôi cũng cố gắng để làm tốt nhất nếu có thể. Tuy nhiên nó rất trục trặc khi tôi chui vào một ngành văn hoá giáo dục sau 75, bởi vì rất khó thích ứng do đã có sẵn nền tảng triết học khác nhau. Tôi được biết họ xếp tôi vào loại có sạn trong đầu, là loại “không thể cải tạo được, nhưng dùng được” thì người ta dùng, giống như 1 nhân vật kịch kêu là “dùng thì dùng, nhưng tin thì không tin”. Dĩ nhiên không ai dám tin tôi, đến nỗi một cô giáo đạo diễn (đã mất) dạy tôi rất tin tôi, kết quả cô bị nhà trường kỷ luật vì đã xài những loại người gọi là bất thường như tôi.

Hỏi: Học trò trong lãnh vực thoại kịch của chị có những ai, những thành phần nào trong xã hội? Những ai đã thành danh?

Đáp: Nổi bật ở hải ngoại thì có Quang Minh, Hồng Đào. Trong nước thì có Hữu Châu (cháu ruột nghệ sĩ Thanh Nga), danh hài Hữu Nghĩa. Những lứa sau này có cậu Hoà Hiệp từng qua Mỹ diễn. Ngoài ra, tôi dạy rất nhiều lớp được gọi là “Lớp quần chúng”. Những lớp quần chúng này nhiều khi có những người ban ngày họ làm đủ nghề như bác sĩ, kỹ sư, thầy giáo, bán bảo hiểm, thậm chí là người của băng đảng, ban đêm họ đóng tiền đi học các lớp như biên kịch, MC chẳng hạn. Tôi được đi dạy rất nhiều nhờ thời gian độc thân của tôi cực dài, đến năm 51 tuổi tôi mới lập gia đình lần đầu tiên. Thành ra số học trò gọi tôi bằng cô rất đông. Có những người rất nổi tiếng nhưng mà thôi, mình đến với họ trong tình thế không chuyên sâu, nên tôi nghĩ sự thành công của họ không phải do công sức của mình mà tôi chỉ thấy là tôi có 1 trong những cái công bức phá về cách giảng dạy của một trường đại học mà họ đã mời tôi giảng dạy môn “Lịch sử sân khấu”. Đó là 1 ngôi trường trước 75 được gọi là đại học Văn Khoa, sau 75 đổi tên là Khoa Ngữ Văn của trường Khoa Học Xã Hội Nhân Văn. Ngày ấy, lúc vào trường dạy, tôi gặp một sức ì kinh hoàng, không có giáo trình, giáo án gì cả. Người tiền nhiệm cũng không có giáo trình, giáo án để dùng. Để xoay chuyển tình thế bằng cách bắt các em sinh viên soạn ra giáo trình, giáo án, tôi vác nguyên 1 bao bố sách vở kịch trong nhà tới trường. Tôi bắt các em phân tổ, tự thuyết trình ra từng thời kỳ. Thế là giáo trình, giáo án do chính các em tạo nên. Tôi bị các thầy cô khác phê bình là lớp của tôi vui quá, có diễn kịch, đọc kịch, đủ trò hết, thành ra mỗi lần có giờ dạy của tôi, nhiều sinh viên các nơi khác tới dự. Có bữa tôi đóng cửa diễn cho các em coi 1 màn độc diễn, bởi vì tư liệu để giảng dạy về sân khấu trong một thời gian hồi còn chiến tranh không được lưu lại, khiến tôi phải giảng bài bằng cách trực quan sinh động những vở kịch mình đã viết hoặc dựng. Tôi phải trích ra từng khúc, từng khúc.

Pic 2 Hình lớp kịch 2

Hỏi: Xin kể vài vở hài kịch chị đã viết.

Đáp: Tôi viết khá nhiều hài kịch ngắn, dài. Có những vở khi ra công diễn đã được đổi tựa không còn mang cái tên gốc của nó, nhưng xin kể những vở mà tôi nhớ như: Hàng Độc, Vì Tôi Là Người Việt, Tía ơi, Má Dzìa, Hồn Bướm Mơ Điên, Vàng hay Bạc nhái, Nhật Nguyệt hai vai, Sau Cái Mặt Cười, Thằng Bờm Có Cái Đầu To, Mẹ – Ba Miền – Một Trái Tim, 29 Anh Về, Mơ Trăng Bóng Nước…v…v.. Lâu lâu Hồng Đào lại gọi điện thoại nói, Cô ơi, viết cho em, thế này thế nọ. Tôi hỏi, bao lâu phải xong. Cô trả lời, mai được không cô ..v..v..

 

Pic 3 Hình Lớp Kịch 3

Hỏi: Xin chị chia sẻ những câu chuyện buồn vui của nghề dạy học này.

Đáp: Thời gian tôi là cô giáo chủ nhiệm lớp dạy Quang Minh, Hồng Đào, Hữu Châu (cháu ruột Thanh Nga), tôi được đặt biệt danh là “đảng trưởng đảng vô chính phủ”. Hữu Châu cũng là 1 học sinh rất cá biệt nghĩa là Hữu Châu mà đi coi thi thì lớp đó rất sợ vì họ cho là cô Minh Ngọc lén phái học trò tới phá buổi thi của họ. Hữu Châu mà cười lên một tiếng, các diễn viên sân khấu của các lớp khác khớp hết trơn. Hồi đó vị trí của một sinh viên lớp trưởng rất quan trọng, phải do đảng chọn, mục đích để theo dõi tư tưởng của học sinh. Khi tôi bày ra trò “Lớp trưởng một tuần”, nghĩa là mỗi sinh viên làm lớp trưởng trong 1 tuần, thì mỗi lần Quang Minh, Hồng Đào hay ai khác làm lớp trưởng không sao nhưng Hữu Châu làm lớp trưởng, ai nấy đều kinh hoàng. Nhưng ngược lại tuần đó Hữu Châu đem ngạc nhiên đến cho mọi người, anh đã là một lớp trưởng xuất sắc trong tuần đó.

Bạn đọc có thể vào xem Nguyễn Thị Minh Ngọc như một diễn viên trong một vai diễn của vở kịch Ngôi nhà không có đàn ông.

Trịnh Thanh Thủy thực hiện

bài đã đăng của Trịnh Thanh Thủy


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Kịch, tuồng, drama, play

    Dường như thể loại kịch ở VN gồm có 2 hình thức: ca kịch và thoại kịch. Thoại kịch, hay bây giờ còn gọi là kịch nói. Kịch nói liên quan tới văn chương nói, thường là trong đối thoại giữa các nhân vật, đôi khi cũng có độc thoại.

    Kịch nói hay thoại kịch thật ra không chỉ có … nói. Nói là nói chứ nó liên quan đến văn chương gồm văn xuôi và thi ca – prose and poetry. Nói chỉ để diễn tả nội tâm, trong kịch thường là xung đột tình cảm hoặc xúc cảm.

    Theo tôi nghĩ, ngoài không gian, không khí hay diễn cảnh kịch, kịch nói còn có những khi không … nói. Khoảng lặng có tính toán độ dài và độ mạnh vừa đủ và đúng lúc.

    Có một vở kịch thời VNCH, tôi được xem lại video cũ mượn trong một thư viện ở Mỹ. Vở kịch mang tên “Cái Lục Lạc”. Các diễn viên gồm nữ tài tử Bích Sơn, kịch sĩ Lê Cung Bắc, nghệ sĩ cải lương – Bảy Nam.

    Vở thoại kịch trang trí đen trắng. Y phục bình dân, áo bà ba miền quê. Đứa bé con một bà mẹ bị lòa, nó được mang cái lục lạc nhỏ dưới cườm chân để người mẹ tiện theo dõi trong nhà. Rồi đứa bé lớn lên, nó có sắc đẹp, không rõ vì sao, cô bé ra đi, để lại mẹ già. 10 năm sau, từ thành thị trở lại tìm mẹ, nó bây giờ là một người nỗi danh trong làng văn nghệ trình diễn. Ngày về, người nữ tài tử cũng đeo cái lục lạc nhỏ nơi cườm tay. Vừa bước vào chiếc cửa phên tre, cô ta đứng lặng nhìn mẹ cảm xúc. Lục lạc khua. Người mẹ:

    – Lục lạc ! Con về đó hả con?

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch