Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

DI THÊ

clip_image002

…tôi tưởng chàng đã nhân một bầy chim di thê mà thoát vòng thao túng…(*)

Cho đến tận bây giờ, đã hai mươi bảy năm sau, tôi vẫn nhớ cái cảnh tôi rơi xuống từ gác gỗ ngôi nhà đầu tiên của gia đình tôi. Từ khoảng vài năm sau, khi tôi bắt đầu đi học, ký ức về những ngày lên ba cứ chập choạng như những giấc mơ. Tôi nghĩ tai nạn đó cũng là một giấc mơ như một vài sự kiện khác trong đời, cho đến khi cha và anh tôi nhắc lại nó. Tôi vẫn nhớ chiếc bàn học bằng gỗ, mặt bàn cũng là nắp của hộc bàn có thể mở lên được. Tôi đã rơi từ trên gác xuống đó, và không sao cả (hoặc tôi tưởng là như vậy).

Đó là ngôi nhà đầu tiên từ khi tôi sinh ra. Tường gạch thô không trét hồ, thực chất là tường nhà hàng xóm. Nhà tôi chỉ dựng vách phía trước và phía sau, như kiểu người ta dựng phim trường. Đó cũng là nơi chiếm lấy những mảnh ký ức đầu tiên của tôi về cuộc đời. Một phần ký ức mà tôi còn giữ được là nhờ những tấm ảnh chụp, một số đen trắng, một số có màu. Mà ảnh tráng phim thì cũng có phần nhá nhem, khiến cho tôi luôn mường tượng rằng mọi thứ thời đó đều như vậy – trắng đen và nhá nhem nâu. Mà cũng có thể là như thế thật. Ngoài tường gạch thô thì những thứ khác như vách, cầu thang, lan can, cửa sổ,…đều có màu nâu của gỗ. Đồ nội thất theo kiểu mid-century cùng với những chiếc rương cũ với bản lề và móc khoá có những hoa văn trang trí bằng đồng đã rỉ là những thứ mà tôi nhớ nhất, cũng màu nâu hoặc màu xanh đậm đã phai thành xanh xám. Ánh sáng trong nhà cũng nhá nhem. Thời gian mà tôi nhớ nhất trong khu xóm nghèo đó là buổi chiều và ban đêm, khi những hàng quán với đèn dầu được bày biện cùng lũ muỗi bắt đầu kéo ra. Bà già bán hột vịt lộn thường soi quả trứng dưới ánh đèn dầu trước khi đưa cho lũ chúng tôi. Chúng tôi chạy chơi giữa những hàng quán cho đến giờ chiếu phim trên ti vi. Bé Điên là tên hay đúng ra là cách gọi dành cho một cô gái lớn hơn tôi, tóc ngang vai, khi đó chắc tầm mười hai mười ba tuổi. Tôi không nhớ rõ cô ta có hay lên cơn điên hay không, nhưng có lần cô xuất hiện với sợi xích ở một bên chân và cà thọt rượt đuổi lũ trẻ chạy vòng quanh í ới. Nhiều năm sau khi gia đình tôi chuyển đi xa, một lần trở lại tôi thấy một cô gái đang đứng bên cửa sổ, tóc ngang vai, ê a hát không nghe rõ lời, miệng hơi cười. Tôi hỏi ai đó, anh họ tôi nói là Bé Điên. Tôi nghe xong thấy ngực mình thắt lại, rồi tiếp tục bước đi trên vỉa hè cỏ dại lưa thưa.

Nhà tôi cũng có một hàng quán ngay trước nhà. Có khi bán mứt chùm ruột, có khi bán cháo vịt. Sau này khi tôi học trung học phổ thông, mẹ tôi có kể một lần mẹ đi buôn bị bạn hàng lừa hết sạch tiền, bà ngoại cho mẹ năm chục ngàn, mẹ mua hai con vịt về làm quầy bán cháo. Còn về mứt chùm ruột, mãi sau này, anh tôi có kể cho tôi một câu chuyện. Thời đó, vì nghèo, người ta thường sản xuất và bán những món bánh kẹo và nước uống dùng đường hoá học và phẩm màu xanh đỏ. Mẹ tôi thường cấm anh em tôi ăn uống những món đó. Một lần nọ, bà sai anh tôi đi mua đường hoá học để bà nấu mứt. Anh tôi mang tiền đi mua hai viên đường nhỏ xíu như hai viên bi nhỏ, cầm trong lòng bàn tay, chỉ cần như vậy là đủ cho một nồi mứt lớn. Khi anh tôi mua về, mẹ tôi nói bà đã nấu xong rồi, và biểu anh tôi đem vứt hai viên đường đó đi. Anh tôi đem đi vứt mà chẳng hiểu gì.

Ở khu xóm đó người ta đa phần nói giọng Quảng Trị, Huế, một số nói giọng Nghệ An, một số nói giọng Bắc-Năm-Tư. Lũ chúng tôi nói một thứ giọng nằng nặng tổng hợp nửa Bắc nửa Trung. Một lần tôi lấy làm lạ nghe giọng của một cô bé, trông chừng hơn tôi một hai tuổi, nói thứ giọng với cách phát âm là lạ, ngòn ngọt và dẻo như kẹo dẻo. Cô bé đó đến hàng quán nhà tôi và thường bị cô em họ đanh đá nhà tôi tranh chỗ ngồi và làm mấy trò hống hách mà tôi không hiểu vì sao. Cô em họ tôi nhiều khi cũng bắt chước cái giọng đó để mà làm nũng và mách lẻo, nhưng không hiểu sao tôi nghe chỉ phát ớn. Còn giọng nói của cô bé kia, cứ khiến tôi, một thằng cu ba tuổi, ngồi trố mắt nhìn đăm đăm mà không hiểu nổi đó là cảm giác gì, khi đó tôi chỉ biết là giọng nói ấy giông giống như khi người ta bị nghẹt mũi.

Sau này khi lên thành phố sống thì tôi đã hiểu ra, cái giọng nói mê hoặc đó đơn giản chỉ là giọng Nam kỳ. Trước khi biết được điều đó thì tôi được nghe thứ giọng này lần thứ hai từ hai anh em nọ đến cùng cha mẹ chúng. Giọng chúng đương nhiên không mê hoặc như cô bé kia, vì hình như còn thiếu một chút vị. Nhưng tôi trở nên dễ xiêu lòng hơn khi chúng đi lùng sục trong nhà, tìm ra những món đồ chơi mà anh em tôi từ lâu đã không chơi, một số đã đứt lìa được chúng ghép lại, rồi lịch sự đến hỏi xin chúng tôi. Cái cách chúng xin chúng tôi cũng rất lạ. Vì lâu nay tôi cùng lũ trẻ trong xóm thường chạy chơi loanh quanh, đứa nào lượm được món gì hay bắt được con gì thường la lên – a, tao xí được cái này – mà chẳng cần phải hỏi xin ai. Những món đồ từ lâu tôi chơi đã chán, nhưng tự dưng lại thấy thèm khi nhìn thấy chúng được bọn trẻ kia hăm hở chơi. Thằng anh cầm khẩu súng nhựa lên ngắm thằng em, thằng em lại đưa ra con ngựa mà mỗi lần mình bóp bình hơi là nó nhảy tới. Rồi chiếc mặt nạ hình ma rất dễ sợ, đến nỗi anh em tôi phải đem giấu đi để nhiều khi trời tối khỏi nhìn thấy, cũng được chúng lôi ra như một thứ chiến lợi phẩm. Tôi nhìn những món đồ chơi, lòng dù tiếc nhưng không dám đòi lại, vì nghĩ rằng chúng tôi từ lâu đã không cần chúng, nay bọn trẻ kia vô tình “xí” được nên thuộc về chúng là lẽ đương nhiên. Thực ra đây chỉ là sự giải thích để cho dễ hiểu, chứ tâm trạng tôi lúc đó rối bời, và tâm trí một đứa trẻ lên ba cũng không thể nào lý giải nổi, chỉ biết bối rối gật đầu khi được hỏi xin, và mắt tròn xoe nhìn. Cha mẹ chúng cũng vào từng buồng xem rồi nói chuyện với cha mẹ tôi. Ít lâu sau tôi thấy nhà được sơn phết lại và gia đình tôi chuyển đi, bắt đầu chuyến hành trình qua những ngôi nhà. Khi đi tôi nhớ không đem gì nhiều, vì có gì đâu mà đem.

Sau khi rời ngôi nhà đó, tôi cùng anh trai chuyển vào nhà ông bà ngoại. Con đường từ nhà cũ vào nhà ông bà đi ngang qua nông trường cao su và khu nhà với những chiếc xe máy cày đặt phía trước, có lẽ là văn phòng hay trụ sở gì đó liên quan đến “công-nông”. Trước khi gia đình tôi rời bỏ ngôi nhà đầu tiên, tôi đã nhiều lần đi qua nông trường này và mỗi lượt đi – về với hai chiều hướng khác nhau đã cho tôi cảm giác đó là hai nơi khác nhau, sau này lớn hơn một chút tôi mới ý thức được đó chỉ là cùng một thứ với hai góc nhìn khác nhau. Tôi thích con đường này vì hai bên toàn là cây cao su trồng thẳng hàng. Tôi đã nghĩ là cây cao su tự mọc lên thẳng hàng như thế chứ không hề biết là do người trồng, thậm chí tôi cũng chưa có kiến thức về hình học để cho rằng chúng mọc thẳng hàng. Khi tôi ngồi trên xe do người lớn chở, tôi chỉ thấy từng hai hàng cây tụm lại ở điểm sáng phía xa vụt qua, rồi lại tới hai hàng cây tiếp theo, và do góc nhìn thay đổi khi xe di chuyển, tôi có cảm giác mỗi hàng cây xoay chuyển quanh tâm điểm là chính tôi. Tôi mãi so hàng cao su, hàng ngang rồi hàng chéo, chuyển động nhịp nhàng như múa.Tôi cũng chưa học lịch sử để nghe việc người ta bón cây cao su bằng xác người vào thời Pháp thuộc. Tôi cũng chưa lớn để thấy rằng, nếu cây cao su vùi xác người vào thời Pháp thì vào thời tôi sống, nông trường cao su đã vùi cả cuộc đời cô dượng tôi trong đó, và nhiều người khác nữa. Tôi chỉ có đôi mắt tò mò và ngây thơ, ngắm nhìn những hàng cây di động theo giây phút và thay lá theo mùa. Nếu có cuộc chia ly nào diễn ra giữa rừng cao su đang chuẩn bị rụng lá thì thật là hợp cảnh – người lên ngựa kẻ chia bào, rừng cao su đã nhuộm màu quan san.

Nhà ông bà ngoại thì rộng rãi và khang trang hơn nhà cũ của gia đình tôi rất nhiều. Khi bà tôi về đây để mua căn nhà này, người ta thường nói đùa rằng “về mà mua căn biệt thự nớ tề”. So với những ngôi nhà gỗ mái tôn ở đây thì ngôi nhà xây mái ngói của ông bà đúng là biệt thự. Thời đó nhà tường gạch không hiểu sao lại có giá hơn nhà vách gỗ. Đây là ngôi nhà với những quyển sách cũ giấy vàng khè mà sau này tôi biết được là Tam Quốc Chí và Hồng Lâu Mộng mà ông tôi thường để trong thùng đi-văng. Anh tôi thường mở nắp thùng dù rất nặng để lấy sách ra, tôi chưa biết chữ nên không quan tâm, anh tôi thì ngồi đọc rõ to như là tập đọc. Buổi tối ở đây không nhộn nhịp như ở nhà cũ, dù cái nhộn nhịp kia khiến người ta còn buồn hơn. Ở đây ban đêm không nghe tiếng trẻ con chạy nhảy, mà chỉ nghe tiếng dế kêu. Trong khi ấy, bà tôi thường chỉ lên bàn thờ lập loè tượng Thánh Gia với Thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu mà kể chuyện Kinh Thánh và dạy chúng tôi cầu nguyện. Chúng tôi chỉ đọc vài kinh ngắn rồi đi ngủ, người lớn thì đọc lâu hơn, tiếng tắc kè đôi khi chen vào tiếng cầu kinh làm cho lời kinh thêm u trầm. Ông tôi do bị tật ở chân, di chuyển bằng nạng khó khăn nên thường ngồi ở nhà dưới gần chỗ phòng ăn đọc kinh vọng lên, trên này phía phòng khách cả nhà đọc đáp lại. Ngồi ở nhà trên lần theo tiếng đọc kinh của ông, nhìn xuống qua một khung cửa đen ngòm, vì mỗi nhà chỉ có một bóng đèn nê-ông treo lủng lẳng cắm vào bình ắc-quy nên thiếu ánh sáng. Mỗi bận sau mưa là mối theo ánh đèn bay đầy vào nhà, tắc kè được dịp từ nóc nhà lần mò xuống rất gần chỗ chúng tôi ngồi mà đánh chén.

Ở nhà bà một thời gian thì cha mẹ tôi cùng đứa em mới hơn một tuổi đi đâu mất. Anh tôi vẫn đi học ở cái lớp học bằng gỗ nằm trong khuôn viên nhà thờ giáo họ, bên cạnh nhà để chiếc xe có trang trí hình rồng mà sáu năm sau chở quan tài ông ngoại tôi ra nghĩa trang. Cha mẹ tôi đi rồi lại về vài ba bận như vậy cho đến một lần về đưa anh em tôi đến ở nhà dì – bạn thân từ thuở nhỏ của mẹ tôi. Chúng tôi ở đây không lâu nhưng tôi nhớ mãi ngôi nhà mái tranh vách đất này, ngôi nhà mà mỗi lần tôi đến bằng con đường khác thì lại có cảm giác nhà đã quay hướng khác, và ban đêm, ánh đèn dầu hắt bóng chúng tôi trên tường rung rinh như đang cười những điệu cười câm lặng. Anh em tôi được gửi vào ở nội trú tại nhà trẻ của các ma-xơ sau vài hôm ở nhà dì. Ngày đầu tiên tôi đã khóc te tua đến nỗi mẹ tôi phải giằng ra và khi đi cũng không dám ngoái lại nhìn – người ra đi đầu không ngoảnh lại, sau lưng thằng nhỏ khóc tơi bời…Thằng em hai tuổi của tôi ngày đầu thì gan lỳ nhưng những đêm sau nó hành cho các ma-xơ lên bờ xuống ruộng, các dì phải giả làm ông ba bị rồi nhảy múa làm trò trong khi nó cứ đêm về là khóc không ngơi. Tôi thấy mấy trò của các dì thật vô vị và vô dụng nhưng cũng chẳng nói gì. Thời gian đó ngày nào tôi cũng theo anh tôi đi nhà thờ và nghĩ là sau này mình sẽ làm linh mục. Giờ thì tôi cũng là linh mục nhưng mà theo cái lối vì tôi là linh mục,không mặc áo nhà dòng, nên suốt đời hiu quạnh…vì tôi là linh mục, giảng lời tình nhân gian…

Cha mẹ tôi để anh em tôi lại lưng chừng con đường xa lộ từ quê lên thành phố, rồi dắt díu nhau đi mưu sinh. Ban đầu ông bà ở nhờ nhà cậu của mẹ tôi, khi đó chỉ còn các con của ông ở. Ngôi nhà có mặt tiền phủ bằng đá rửa, một kiểu thời trang của thời trước. Sân sau nhà có một cây mận và sân trước có một bụi trúc và một cây sung. Tôi nghe người lớn hát “chiều xưa có ngọn trúc đào, mùa thu lá rụng bay vào sân em…” và nhầm lẫn cây trúc đào với cây trúc. Lúc nhỏ tôi chẳng ưa gì bài hát đó vì nghe nó cứ sến sẩm sao đó, về sau bài hát này cũng biến mất theo năm tháng vì xét về mặt thời thượng thì đương nhiên không phải mà so ra về nhạc xưa nó cũng không thuộc hàng tuyệt phẩm. Khi lớn lên tôi thích nghe nhạc xưa, rồi phong trào nhạc xưa cũng có lúc sôi nổi trở lại, người ta bắt đầu ra vẻ hoài cổ hơn vì những thứ mới thật là không ngửi nổi. Nhưng rồi bài hát trúc đào năm nào cũng nằm im trong quên lãng mặc cho phong trào kia đang khai quật ngay cả những bài bị cấm. Tôi cũng chẳng ngó ngàng gì, cho đến một hôm tôi nhìn thấy trong một tập nhạc cũ có bài hát đó, bên cạnh vẽ hình minh hoạ lá bay vì vèo cũng sến sẩm không kém, mà tự dưng chẳng hiểu sao hình ảnh các ngôi nhà trong ký ức, từ ngôi nhà có bụi trúc đến những ngôi nhà không có, đồng loạt hiện ra và lôi tôi lên xe về miền quá khứ. Từ đó câu hát này trở thành chiếc vé, mỗi lần tôi muốn lên xe, cứ việc cất lên khe khẽ…

Ngôi nhà của ông tôi nằm gần một bờ kênh đen ngòm, chiều chiều người ta đem rác ra đó đổ. Nhiều lần tôi cùng dì tôi ra đó buổi chiều, nhìn thấy mấy đứa trẻ ngụp lặn trong dòng nước hôi hám rồi cùng dì tặc lưỡi chê bai. Thời gian đó anh em tôi vẫn ở cùng các ma-xơ, lâu lâu cha mẹ tôi nhớ quá mới đón lên chơi. Cho tới khi cha mẹ tôi dọn về ở một căn gác thuê, tôi cùng em trai mới lên thành phố hẳn, còn anh tôi thì phải chờ cho đến hết năm học. Mẹ tôi nhận đồ về may tại nhà, cha tôi đi đúc những hoa văn phù điêu bằng thạch cao. Căn gác nhỏ chỉ có một gian phòng vừa ngủ vừa để bếp dầu để nấu ăn, vệ sinh thì dùng chung với một phòng khác cùng tầng. Vài chục năm sau, ở thành phố này mô hình nhà cho thuê tương tự như vậy cũng phổ biến, có điều mọi thứ hiện đại và sạch sẽ hơn, người ta bày đặt gọi là căn hộ dịch vụ. Cha tôi đi làm điêu khắc nên tha về một lu đất sét để ngoài ban-công, chỗ đó trở thành chỗ chơi của tôi. Em tôi còn quá nhỏ, anh tôi lâu lâu mới lên, nên tôi cứ lủi thủi chơi một mình với đất sét. Ngôi nhà này nằm trên con đường cắt ngang đường ray xe lửa, tôi ngồi ngoài ban-công, chặp chặp lại nghe tiếng còi hú, thò đầu ra nhìn đoàn tàu từ đằng xa cho tới khi đoàn tàu đi khuất lại tiếp tục trò nặn đất sét của mình. Tôi nặn riết thành quen. Có lần theo cha tôi đến xưởng, cha đưa tôi ổ bánh mỳ không rồi quay qua lọ mọ mấy hình phù điêu trang trí, tôi ăn gần hết thì cầm khúc ruột bánh mỳ nặn thành hình con bò, cha tôi sung sướng lắm.

Ở đó ít lâu cha mẹ tôi chuyển qua một căn gác khác rộng rãi hơn, và ở ngay cạnh đường ray xe lửa. Khi chuyển đến đây tôi rất háo hức, tôi có thể nhìn thấy chúng gần hơn, nhìn qua các ô cửa nhỏ xíu tôi thấy biết bao nhiêu người. Tôi nhìn họ mà không biết họ là ai, từ đâu đến và đi về đâu, kẻ ngồi người nằm, tôi hết sức tò mò mà không trả lời được, cũng không biết hỏi ai vì thế từ việc ban đầu chỉ ngưỡng mộ xe lửa vì chúng dài và chở được nhiều người, giờ đây, với tôi, xe lửa là thứ gì đó chở đầy những bí ẩn của thế giới ngang qua ban-công nhỏ hẹp nhà tôi.

Chúng tôi chuyển nhà ba lần trong vài tháng, vậy mà tôi cứ tưởng là lâu lắm. Chúng tôi chuyển đến căn gác tiếp theo cũng ở ngay đường ray xe lửa, ở phía đối diện và cũng gần chỗ cũ. Anh tôi đã kết thúc năm học và chuyển về đây nghỉ hè. Ở đây chiều chiều tôi lại ra đầu ngõ chơi cùng mấy đứa trẻ trong xóm, nhìn đám thanh niên vô công rồi nghề đặt gạch đá lên đường ray và nhìn chúng bị cán nát ra. Chúng tôi thì lấy những thanh kẽm tròn đặt lên cho xe lửa cán dẹp ra, và chẳng hề ý thức một chút gì nguy hiểm, dù mẹ tôi nhiều lần cấm chúng tôi lại gần đường ray xe lửa. Một lần nọ mẹ tôi sai tôi ngó chừng thằng em để mẹ tôi làm việc, tôi chạy đi mua đồ và dặn nó đứng yên đừng đi đâu, khi quay lại, nó đã biến mất. Mẹ tôi hốt hoảng chạy kiếm khắp nơi cho tới khi thấy nó ló đầu lên từ phía bên kia đường ray. Rồi chúng tôi lại chuyển nhà, từ biệt xe lửa, niềm yêu thích của tôi và nỗi lo lắng của mẹ.

Căn chung cư tiếp đó, chúng tôi chuyển đến trong một chiều mưa tầm tã, nước hắt cả vào nhà đến nỗi phải lấy giẻ nhét vào các khe cửa. Cha mẹ tôi đưa cho bà chủ nhà mượn mấy cây vàng, thế là bà ta để cho gia đình tôi ở đó không phải trả tiền. Tôi vào lớp một và anh trai tôi lên lớp bốn. Lũ trẻ nhà hàng xóm, trong đó có mấy đứa chỉ vừa tập nói mà chửi thề liền miệng. Căn hộ bên cạnh nhà tôi, chỉ một căn mà có biết bao gia đình sống. Tôi cũng không đếm bao giờ. Gia đình chủ căn hộ làm mứt, do ở tầng trên cùng của chung cư nên họ tự khoét một lỗ và bắc thang lên mái bê tông dùng làm sân thượng. Có lần tôi theo mấy đứa trẻ lên sân thượng và thấy một cảnh sinh hoạt nhộn nhịp trên một khoảng sân rộng, vì nó chiếm hết cả dãy chung cư. Họ bày đầy các bếp lò với những chiếc nồi to tướng nấu mứt me, mứt mãng cầu trong đó. Gia đình tôi có lần cũng mang về làm cho qua những lúc nhàn rỗi nhưng không được lâu, phần vì công việc chẳng đến đâu, phần vì thấy họ làm cũng không vệ sinh. Bên đó có cô khùng, đầu trọc. Lần nọ tôi thấy cô có bầu, ít lâu cô sanh em bé. Khi đó tôi không hiểu chuyện sanh nở nó ra làm sao, nên thấy việc cô khùng có bầu là chuyện thường tình như bao phụ nữ khác. Mãi sau này khi lớn lên và nhớ lại chuyện cô khùng, tôi mới thấy xót xa và tự hỏi không biết tên cầm thú nào đã gây ra cho cô. Cô khùng thường lấy tay quẹt nước mũi rồi trét ở bất kỳ đâu mà cô thấy tiện, có khi cô còn dùng tay chùi đít cho con rồi quẹt lên tường. Thường ngày cô cũng ở chung và có khi tham gia cùng những người làm mứt. Gia đình tôi chứng kiến những điều như vậy và từ đó về sau không hề đụng đến món mứt me hay mứt mãng cầu nữa.

Ở khu này người ta sống hầu hết trong những dãy chung cư nằm gần nhau, cách nhau các con đường nhỏ. Khi tôi đi học, địa chỉ nhà đứa nào cũng chỉ cần ghi số nhà và lô chung cư. Tôi lấy làm lạ vì cách hỏi “lô mấy?” trong khi câu trả lời là lô A, B, C, D…vì với tôi khi hỏi “mấy” thì phải trả lời bằng số. Tôi còn ngạc nhiên về nhiều cách phát âm khác với cách tôi thường biết. Chẳng hạn cô giáo tên Vân thì tôi lại nghe có đứa gọi “cô dzưng”. Rồi tôi vào lớp, ngay lập tức bị bạn bè chọc ghẹo là Bắc kỳ. Nói cho đúng giọng tôi Bắc chẳng ra Bắc, Nam chẳng ra Nam, nhưng lũ trẻ con chỉ chờ có đứa nào bị ghẹo là hùa nhau. Tôi phải bắt chước giọng tụi nó để khỏi bị chọc. Không chỉ cách phát âm, mà cả từ ngữ, vì là trẻ con nên tôi học khá nhanh. Khi chơi năm mười, thay vì nói “tùng” phải nói “đều”, ở quê gọi là “gụ” ở đây gọi là “bông dzụ (vụ)”, “chơi giả bộ” gọi là “chơi ăn chè”, cái “muôi” gọi là cái “vá”…

Các dãy chung cư nằm ngay hàng thẳng lối, giữa chúng là những con đường hẹp, nhưng với tôi khi đó là rất rộng rồi. Cặp sát những trụ cột của chung cư là những ống thoát nước thoát phân bằng gốm. Có những ống bị vỡ và nếu có đi ngang đừng dại mà đưa mũi vào khám phá. Một số mảng tường vẽ đầy những từ ngữ tục tĩu, sau này lớn tôi mới biết ở nước ngoài có nghệ thuật graffiti của những người thích nổi loạn, không biết những chữ tục tĩu kia có thể hiện chút nào tinh thần phản kháng? Tôi đi qua những con đường nhỏ, qua vài dãy chung cư là đến trường. Các ngả đường thoắt ẩn thoắt hiện, giữa những toà nhà cao đều chằn chặn, vuông vức phủ đá rửa, đá mài, màu xám, hầu như nhà nào cũng có tấm gương bát quái trên đầu cửa, nhiều nhà của người Hoa dán đầy những lá bùa màu đỏ. Tất cả quang cảnh ở đây đều mang một màu lem nhem tối ám, như những khu chung cư trong những bộ phim Hồng Kông đang thịnh hành thời bấy giờ. Sau này mỗi khi nhắc đến phim Hồng Kông hay đầu máy chiếu phim băng từ là hình ảnh khu phố này lại sống động trong đầu tôi.

Các dãy chung cư nằm quay mặt vào nhau, trước sau đều có ban công, chiều chiều dì tôi thường ra ban công phía sau nhìn qua dãy chung cư đối diện có các chú thanh niên đứng hóng gió. Họ thấy dì tôi rồi làm những dấu hiệu, cử chỉ để làm quen. Chắc là đôi bên cũng chẳng hiểu nhau nói gì, nhưng cứ hay ra đứng ngó nhau như vậy, rồi bằng cách nào đó cũng biết được tên nhau… Tôi học đến lớp hai, bắt đầu học về ca dao, lục bát, cách gieo vần, một hôm về bèn ứng dụng – chiều chiều ra đứng ngõ sau, ngó không thấy Hải đớn đau lòng Hoài – để ghẹo dì tôi, cả nhà nghe vậy liền vỗ tay tán thưởng.

Tôi theo học ở đó đến giữa học kỳ một năm lớp ba. Trường tôi có hai cơ sở, A và B. Anh tôi tính đến bấy giờ đã lên lớp sáu, cứ mỗi năm học một trường, vì lớp bốn lớp năm học cơ sở B rồi lại A. Cha mẹ chúng tôi sau vài năm làm lụng tích cóp cũng xây được một căn nhà, lùi xa trung tâm thành phố hơn một chút. Ở đây còn nhiều đất trống, gần nhà có khu đất bỏ hoang người dân gọi là “công trường”, bên trong đổ nát hoang tàn cỏ mọc um tùm, mọc cả lên những chiếc xe tải xe ủi rỉ sét.

Tôi lần đầu nếm mùi chuyển trường. Có những đứa lâu nay ít nói, không bao giờ tỏ ra tình cảm, vậy mà nó đến nói với tôi là “trò đi tui buồn quá”. Lần đầu tiên được nghe những điều như vậy, tôi chưa hiểu liền câu nói đó, và không biết đáp lại thế nào, nhưng sau này, sau nhiều lần chuyển trường, và nhiều lần ngồi nhớ lại những đứa bạn cũ, tôi mới thấy cảm động, và nếu có nghe lại câu nói đó, tôi cũng không biết phải đáp lại thế nào. Anh tôi tiếp tục học trường cũ đến hết lớp sáu và lớp bảy, hằng ngày đạp xe hàng chục cây số để đi học.

Gần nhà tôi có một cây cầu nhỏ bắc qua một con rạch nước đen ngòm, con rạch đó còn vòng ra phía sau nhà tôi, nhiều nhà không làm hầm tự hoại mà thải thẳng ra con rạch đó. Mẹ tôi lâu nay vốn trọng điều vệ sinh nên ở chưa được bao lâu đã tìm đường tẩu thoát.

“Lời nguyền” mỗi năm học một trường của anh tôi tưởng như được giải, ai ngờ sau hai năm lại phải chuyển trường, vì nơi chúng tôi chuyển về sau đó còn xa xôi hơn. Khu vực chúng tôi vừa rời đi, nhiều năm sau trở nên sầm uất hiện đại khang trang hơn rất nhiều, các khu đất hoang dần được đưa vào xây dựng lại, nhiều công trình mới mọc lên. Tuy nhiên các con kênh rạch nước đen vẫn còn, nhiều người dân vẫn cắm cọc trên mặt nước bẩn thỉu mà dựng nhà.

Chỗ chúng tôi mới chuyển đến trước đây có lẽ chỉ là một huyện, giờ đã thành một quận thuộc thành phố. Người dân vẫn quen gọi trung tâm quận Nhất, quận Ba là “ở trong Sài Gòn”. Ở đây đất còn nhiều, nhà cửa thưa thớt. Hầu hết là đất vườn và ruộng, thuộc sở hữu của chỉ một vài người, hai trong số đó là ông nội và ông ngoại của thằng hàng xóm nhà tôi. Nhưng rồi chỉ vài năm sau, người ta ùn ùn kéo về mua đất xây nhà. Những sào đất ngày xưa thuộc chung một gia tộc, giờ chia nhỏ để lại cho con cháu, rồi con cháu bán đi cho những người dân nhập cư. Sau này tôi với thằng hàng xóm thường ngồi nhớ lại cái thời vườn nhà ông nó còn đầy cây trái. Tôi vốn mê leo trèo và thường leo lên những ngọn cây ngồi vắt vẻo. Những cành cây mỏng manh, mà tôi khi nhỏ nhẹ hều, cứ ra gần đầu cành ngồi dập dìu như Hoàng Dược Sư trong truyện Kim Dung đứng trên ngọn cây lên xuống theo nhịp gió. Có lần ba của thằng hàng xóm đó bước ra, nhìn thấy tôi ngồi trên ngọn cây thì hoảng hồn hoảng vía.

Đó là nơi chốn tưởng chừng như cuối cùng của gia đình tôi, khi mẹ tôi nói dì tôi mua miếng đất kế bên cho hai đứa con của dì, cha tôi xây thêm một gian nhà có gác nối tiếp nhà cũ, chừa một khoảng sân rộng và trồng nhiều cây. Cây sứ mà ngày xưa khi mới chuyển về, chính tôi là người ngồi trên xích lô về cùng với nó, giờ đây thân đã to gấp ba, tán lá phủ hết góc sân phía trước. Giàn bông giấy cũng rậm rạp theo năm tháng, sau này khi học trung học phổ thông và yêu say đắm giọng ca Khánh Ly, tôi thường ra ngắm nắng chiều phủ trên những cánh bông giấy và nghe Ca khúc Da Vàng. Ấy vậy mà khi phong trào nhạc xưa bắt đầu trở lại, bất cứ ai mở miệng ra nói hai chữ “nhạc Trịnh” là tôi đâm ghét. Tôi có vài lần hỏi mẹ là mình có còn chuyển nhà nữa không, mẹ tôi cười – biết đi đâu nữa bây giờ.

Gia đình tôi ở đó gần chục năm, nhìn thấy cảnh vật đổi thay theo làn sóng dân nhập cư. Không phải là biển hoá nương dâu, mà là đồng ruộng hoá xi măng.Trước khi rời khỏi căn nhà đó, tôi trải qua một trận bệnh nặng tưởng như gần chết, chắc là…như một lời chia tay. Sau đó chúng tôi chuyển đến ở tạm ở một ngôi nhà thuê gần đó. Nhưng thói quen cứ đưa chúng tôi về lại ngôi nhà cũ, rồi quen tay mở ổ khoá cài mã số, bước vào trong sân mới nhận ra sự trống trải. Những lúc như vậy tôi thường bước đến cửa sổ, nhìn vào căn nhà trống không, kêu lên mấy tiếng ê a vô nghĩa, để tiếng kêu vang vọng khắp nhà.

Rời nơi đó ít lâu, cha mẹ tôi một lần nữa bỏ lại anh em tôi, dù sao bây giờ đã lớn, lần này là trở ngược lại quê. Sau bao năm vật lộn ở thành phố, ông bà mang chút vốn liếng còn lại, về thị trấn ở quê mở một quán cà phê. Anh em tôi ở nhà thuê được chừng một năm thì chủ nhà huỷ hợp đồng, đòi lại nhà. Đất đai ở vùng từng là đồng ruộng này giờ giá rất cao, mà cư dân vẫn nườm nượp kéo về, đẩy chúng tôi ra xa về phía ngoại thành. Cha mẹ tôi mua lại từ anh họ tôi một căn nhà ở tận bên kia xa lộ Đại Hàn. Từ căn nhà đó đi học hay đi làm, sáng sáng là tôi đi ngang qua khu nhà cũ, trên đường đi ngang qua một chợ rau. Đó chỉ là một đoạn đường, như đoạn nối dài của khu chợ chính, hai bên đường trồng cây xà cừ, thân vươn cao. Buổi sáng ngang qua đó, chỉ một đoạn đường rất ngắn thôi, nắng chiếu xuyên xuống tán cây, bên dưới người ta bày ra đầy những sọt, cần xé rau đủ các loại mùi – hành, ngò, ngò gai, quế, húng lủi, cần tây, sả… và đầy các loại dưa củ. Đó thật sự là một cảnh tượng đẹp và mùi hương thì ngây ngất. Một lần khác tôi thấy những người mặc đồng phục màu phân ngựa, tay đeo băng đỏ ghi chữ “trật tự” hay “đô thị” gì đó tôi không nhớ rõ, họ cầm dùi cui nhảy xuống từ những chiếc xe bán tải. Dân buôn có người ôm cần xé bỏ chạy, có người chỉ biết giương mắt lên nhìn, tiếng kêu ý ới, tôi thấy có những màu lục văng lên tung toé trong không trung trên nền tán lá xanh mà nếu ta dùng ống kính có trường ảnh mỏng để thực hiện một cảnh quay chậm thì tán lá xanh sẽ thành những lốm đốm sáng tròn màu lục và dừng lại hẳn sau khi những bó rau đương văng lên đã toé ra thành những đốm màu nước, và hương thơm càng dậy mùi hơn khi rau dập nát. Tôi cứ vậy đi qua đoạn đường ngắn ngủi đó, và nghĩ rằng cái đẹp khi nhuốm thêm cái ác và bi kịch hẳn còn đẹp hơn.

Cha mẹ tôi đã bỏ quê nghèo ruộng nương lên thành phố, rồi bị cuộc đô hoá và di dân đẩy lùi ra xa. Đến một lúc sức hút của trung tâm không còn giữ được họ, họ buông tay trở về quê cũ, tất cả cũng chỉ như một giấc nam kha. Anh em tôi còn bấu víu lấy cái ao tù ô nhiễm này, sau vài năm anh tôi cũng lên đường hồi hương, không biết bao giờ đến phiên tôi và em tôi.

Sau khi cha mẹ tôi về quê, tôi về ngôi nhà ở ngoại thành ở. Em tôi ở lại gần chỗ cũ, ở nhờ nhà bạn để đi học cho gần. Anh tôi khi đó còn đi học rất xa nên cũng thường ngủ lại nhà bạn, vài bữa mới về nhà một lần. Tôi trải qua thời sinh viên đại học lười nhác ở căn nhà này. Vì nhà xa nên tôi cũng ít khi đến trường và nghĩ có đi học cũng không hơn gì ngoài việc điểm danh để không bị cấm thi. Tôi thường nằm dài đổ mồ hôi trong những buổi trưa nghe nắng giòn trên mái, và những buổi chiều mưa nghe gió thốc vào phòng vi vút. Có những lần anh tôi về nhà, sáng sớm anh thường bật nhạc ở tầng dưới, tiếng nhạc theo giếng trời vang lên phòng tôi, tôi đê mê nằm nghe hoặc những bản guitar của F.Tarrega hoặc tình ca Phạm Duy hoặc Tuấn Ngọc ca Từ Công Phụng…Tôi nghe như vậy và tưởng tượng là anh tôi vẫn đang ở đó, cho tới khi tôi đi xuống thì thấy anh đã ra khỏi nhà từ lâu, tự nhiên tôi lại thấy trống vắng. Ở một mình tôi lại đâm ra hay tưởng tượng, nhiều khi ra khỏi nhà tôi thường ngoái lại nhìn lên cửa sổ và tưởng tượng có bóng người vén màn cửa nhìn theo tôi. Đó có lẽ là một cơ chế chống cô đơn của tôi, cho rằng có kẻ nào đó đang ở chung với mình, nhưng không bao giờ xuất hiện trước mặt mình, mình cứ xuất hiện ở đâu, hắn lại lỉnh đi chỗ khác. Nhưng cuộc chống-cô-đơn có vẻ như vô dụng.

Căn nhà này vốn không có giấy tờ hợp lệ, chỉ là giấy tay của chủ đất cũ bán lại cho anh họ tôi, rồi anh họ tôi bán lại cho mẹ tôi. Vì vậy số nhà cũng không chính thức. Người yêu tôi là người rất thích những tấm bưu thiếp với dấu bưu điện ở xa gửi về. Nàng dặn tôi mỗi khi đi đâu nhớ gửi về cho nàng, và nàng cũng ngỏ ý muốn gửi cho tôi khi nàng đi. Khi băn khoăn không biết phải ghi địa chỉ như thế nào cho nàng, tôi nhớ lại quãng đường đi qua những ngôi nhà của gia đình tôi. Rõ ràng cha mẹ tôi đã để lại cho tôi nhiều bất động sản, nhưng chẳng có giấy tờ nào chứng minh được tài sản đó, tôi chỉ sở hữu chúng trong ký ức mà thôi. Nhiều năm sau khi đã lên thành phố, mỗi bận về lại khu xóm đầu tiên tôi ở, tôi thường đi ngang và nhìn vào ngôi nhà đầu tiên đó, và không thấy ai. Trên thẻ căn cước và sổ hộ tịch của tôi vẫn khi địa chỉ thường trú là ngôi nhà đó. Tôi đoán những người mua nhà sau có lẽ nhận thấy rằng dù đã ra đi, nhưng một phần ký ức của gia đình tôi vẫn cứ luẩn quẩn bên trong, khiến họ không ở nổi nên cũng đã rời đi, bỏ lại ngôi nhà trống không nằm giữa phố chợ hắt hiu.

* trích Hoàng Tử Bé bản dịch của Bùi Giáng

bài đã đăng của Hiến Chương


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)