Trang chính » Bàn Tròn: Chiến Tranh Việt nam, Biên Khảo, Phê Bình, Quan Điểm Email bài này

Đằng sau người và việc trong bộ phim The Vietnam War (phần 1)

 

Như một trùng hợp ngẫu nhiên, Mỹ đã trực tiếp tham chiến tại Việt Nam sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963, và bộ phim Chiến Tranh Việt Nam đã được công chiếu vào mùa Thu 2017, dịp nhớ lại hơn nửa thế kỷ nhà lãnh đạo quốc gia đã bị sát hại trong biến cố được Mỹ hậu thuẫn này.

Bộ phim 10 tập dài 18 giờ của Ken Burns và Lynn Novick, chiếu trên PBS của Mỹ và tại cả nhiều nước trên thế giới vào cuối tháng 9, đầu tháng Mười, 2017, đã gây nhiều tranh cãi sôi nổi, khen chê lẫn lộn. Nói chung, bộ phim mới nhất về chiến tranh VN này, khá hơn những bộ phim cùng chủ để từ trước tới nay; nhờ làm sau, có nhiều tài liệu hơn, và kỹ thuật tân tiến hơn. Tuy nhiên, không phải vì thế mà không có những thiếu sót, những điểm đáng tranh cãi. Vì phim đã được chiếu rộng rãi, và người chưa xem có thể tìm xem dễ dàng, nên ở đây, xin miễn kể lại nội dung tổng thể, mà chỉ đề cập tới những điểm đáng nói, “đằng sau” một số người và việc xuất hiện trong phim.

 

clip_image002

 
Hình ảnh và sự thật

Đúng với châm ngôn rất hay của bộ phim: “There is no single truth in war” (Không chỉ có một sự thật trong chiến tranh), nhiều người đã chê nó thiếu sót, thiên vị, như nói nhiều về Mỹ và phía cộng sản, mà rất ít về VNCH, hay trình bầy người chiến binh cộng sản can trường hơn người lính quốc gia…

Những nhận xét trên không sai. Nhưng nếu chỉ lên án mà không tìm hiểu nguyên do, sẽ chỉ gây thêm mâu thuẫn, đào sâu thêm hố chia rẽ, và tăng ô nhiễm môi trường thảo luận.

Chiến Tranh Việt Nam là bộ phim tài liệu. Lời dẫn và hình ảnh loại phim này thường phải dựa vào sự thật lịch sử, không hư cấu. Chỉ có hai trong ba phía tham chiến còn tồn tại, có thể tiếp cận tham khảo, sao chép và trích thuật tài liệu lưu trữ. Nếu hai phía hiện hữu này được trình bầy nhiều hơn phía không còn tồn tại, là điều có thể hiểu được. Phía vắng mặt bao giờ cũng thiệt thòi.

Tuy nhiên, đằng sau những hình ảnh được trình bầy, và những phát ngôn của người chứng, cũng có vấn đề cần xét tới.

Thí dụ tiêu biểu là cảnh Tướng Loan bắn chết Bảy Lốp trên đường phố, quá dã man, không thể chấp nhận, không được diễn ra, dù thời bình hay thời chiến. Nhưng sự thật đằng sau cảnh này, hầu như mọi người đã biết, Bảy Lốp còn dã man hơn ông Loan nhiều; anh ta đã giết cả một gia đình, trong khi ông Loan chỉ giết một người. Nói vậy không phải để bênh vực hành vi giết người không cần xét xử của ông Loan, mà chỉ muốn góp ý, nếu lời dẫn cũng đề cập tới sự thật này, có lẽ người xem phim cảm thấy thăng bằng hơn trong tình cảm của mình; vẫn nhìn thấy điều ác trong chiến tranh, từ cả hai phía, không phải chỉ riêng bên nào.

Ngoài ra, còn phải nói tới hình ảnh thật, và hình ảnh diễn lại. Người viết không có chứng cớ nào về phía Mỹ cho diễn lại các sự kiện lịch sử để chụp hình, quay phim lưu trữ như tài liệu lịch sử chính thức. Trong khi ấy, phía nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội, chuyện này hầu như là bình thường. Thí dự điển hình là bức ảnh xe tăng Việt Cộng húc đổ cổng Dinh Độc Lập ngày 30 tháng 04, 1975, không phải hình chụp cảnh thật đã diễn ra như thế, mà chỉ là hình chụp cảnh diễn lại vào hôm sau, để chụp hình. Chính truyền thông quốc doanh của Hà Nội đã xác nhận như vậy.

Hình ảnh các trận đánh quan trọng, như trận Điện Biên Phủ, cũng được chế độ Hà Nội cho diễn lại như thế. Trong cuốn hồi ký In The Midst of Wars (ITMOW), Tướng Edward Lansdale đã cho biết, ông được nghe các quân nhân Pháp bị bắt làm tù binh, sau khi được Việt Minh thả, kể lại rằng: “Việt Minh đã chọn các tù nhân Pháp trở lại trận địa để diễn lại trận đánh trước máy quay phim hầu làm cuốn phim chính thức về trận đánh. Khi các diễn viên đến, trận địa đã bị ngập nước! Vào thời gian trận đánh, Tướng Giáp của Cộng Sản đã ra lệnh thay đổi dòng chảy của mấy con suối chung quanh những ngọn núi, để làm lụt vùng đất thấp. Khi trời mưa, những công sự phòng thủ của Pháp như đặt dưới đáy một bồn tắm với vòi nước chảy tối đa. Hàng ngàn sinh mạng đã có thể không bị hy sinh nếu Việt Minh chỉ đợi trời mưa. Rõ ràng nhu cầu chính trị về một chiến thắng mau lẹ đã khiến Việt Minh bỏ qua việc đợi một chiến thắng qua thuỷ lực” (ITMOW, tr. 151).

Hình ảnh diễn lại tất nhiên phải có lợi cho bên liên hệ. Vì thế, những hình ành do các đạo diễn người Việt giúp lấy trong kho dự trữ của chế độ Cộng Sản Việt Nam để trình bầy trong bộ phim, chỗ nào là hình ảnh diễn lại, đương nhiên phải là hình ảnh đẹp cho quân đội của chế độ Hà Nội. Có lẽ vì thế, những trận đánh không có cơ hội diễn lại, vì quân cộng sản bị đánh bật ra, như trận Huế, Quảng Trị, An Lộc… Ít hình ảnh đẹp cho Hà Nội hơn.

 

clip_image004

David Halberstam (trái), Malcolm Browne, and Neil Sheehan—1963
Bộ ba nhà báo Mỹ nổi tiếng nhờ đánh… VNCH!

 

Dối trá sáng ngời

Trong phần giới thiệu bộ phim, Ken Burns đã nói rõ: Phim không trình bầy giải pháp, mà chỉ là những gì đã xảy ra.

Bộ phim đã làm đúng như vậy. Đó là cố gắng của các nhà làm phim. Nhưng sự thật đã không đúng như vậy, qua những chỗ chỉ là phim diễn lại, hoặc lời kể không đúng sự thật của nhân chứng. Chính vì thế, nó đã có những điểm đáng chê trách.

Thay vì tăng thêm giá trị bộ phim, nhân chứng như nhà báo Neil Sheehan, chỉ bôi bẩn công trình mười năm của các nhà sản xuất. Sheehan sang Việt Nam khi mới 25 tuổi, chuyên săn tin giật gân để được nổi tiếng. Và ông đã nổi tiếng thật nhờ tác phẩm A Bright Shining Lie (Một Dối Trá Sáng Ngời). Trong tác phẩm đoạt giải Pulitzer này, Sheehan đã ca tụng một cố vấn quân sự Mỹ tại Việt Nam, Trung Tá John Paul Vann, như anh hùng, và dựa vào những tiết lộ và quan điểm của Paul Vann, ông đã không tiếc lời nói những điều không đẹp về chính quyền và quân đội VNCH. Sheehan viết: “Vann dậy chúng tôi hầu hết, và thật sự người ta có thể nói rằng không có ông, tường thuật của chúng tôi đã không như thế… Ông đã biến đổi chúng tôi thành một băng phóng viên đưa ra cái nhìn của John Vann về chiến tranh”.

Trong chiến tranh Việt Nam, có thể nói Paul Vann và Neil Sheehan là đồng minh của nhau, giúp nhau nổi tiếng bằng cái giá VNCH phải trả. Paul Vann và Sheehan muốn đóng vai cặp bài trùng, một bên cho tin đặc biệt, bên kia viết báo đề cao mình, cả hai cùng nổi tiếng, như cặp bài trùng T. E. Lawrence (Lawrence of Arabia) và nhà báo Lowell Thomas, hồi Thế Chiến Một ở Trung Đông.

Trong những tin chiến sự quan trọng, như trận Ấp Bắc, Sheehan không căn cứ vào nguồn chính thức, mà viết theo tiết lộ và quan điểm của Paul Vann, bỏ qua khuyết điểm của ông ta, và nêu ra những chi tiết có hại cho phía VN. Ví dụ, trong khi diễn ra trận đánh, Paul Vann ngồi máy bay quan sát trên không, chỉ địa điểm đổ quân ngay tại nơi quân VC phục kích, Sheehan không nói tới khuyết điểm của Paul Vann, chỉ nói tới việc Paul Vann ra lệnh cho Đại Uý Lý Tòng Bá đem đoàn thiết vận xa tới cứu một đơn vị đang bị cầm chân, và ông Bá từ chối. Điều này khiến dư luận có cảm tưởng quân VNCH lười biếng hay hèn nhát. Sự thật là cố vấn Mỹ không có quyền ra lệnh cho sĩ quan chỉ huy VN. Ông Bá phải đợi lệnh từ cấp chỉ huy trực tiếp của mình.

Xuất hiện trong bộ phim, Sheehan nói phía Việt Mỹ đã võ trang cho quân Việt Cộng. Ông nói khoảng 1962, một đơn vị cỡ đại đội của VC chỉ có một súng máy, sau này họ có nhiều, nhờ cướp được súng Mỹ. Điều này khiến dư luận có cảm tưởng, phía VN chẳng những đánh dở, còn để lọt vào tay kẻ thù võ khí do Mỹ cung cấp. Theo tài liệu chính thức, Tướng Westmoreland yêu cầu trang bị cho binh sĩ VN súng M16 từ năm 1965. Mãi đến sau Tết Mậu Thân, khoảng giữa năm 1968, yêu cầu này mới được thực hiện. Trong khi ấy, VC đã được phía Cộng Sản cung cấp súng AK 47 từ trước, loại võ khí tốt hơn M16.

Vào cuối bộ phim, cả lời dẫn và ông Neil Sheehan đều cho rằng ông ta là vai chính trong việc đưa Tài Liệu Mật Bộ Quốc Phòng (Pentagon Papers) lên báo New York Times. Sự thật, công đầu trong chuyện này là Daniel Ellsberg. Trong cuốn hồi ký SECRETS: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers (BÍ MẬT: Một hồi ký về Việt Nam và Tài Liệu Mật Ngũ Giác Đài), Ellsberg đã nói rõ. Chính Ellsberg làm copy bảy ngàn trang tài liệu mật tại Rand Corporation thành ba bản, đem về cất giấu tại những nơi khác nhau, rồi liên lạc với các Nghị Sĩ và Dân Biểu, để phổ biến tại Quốc Hội hầu tránh bị trở ngại, trong số có các Nghị Sĩ Fulbright và McGovern. Ông này lúc đầu nhận lời phổ biến, sau đổi ý, khiến Ellsberg nghĩ đến đưa cho Sheehan, người từng quen biết hồi ở Việt Nam, để phổ biến trên New York Times. Ellsberg cho Sheehan đọc và ghi chép, với điều kiện không được mang tài liệu ra khỏi nơi cất giữ ờ Cambridge, ngoại ô Boston. Lợi dụng lúc Ellsberg đi vắng, Sheehan cùng vợ lén đem tài liệu đi copy, rồi âm thầm đưa cho New York Times, không hề cho Ellsberg biết. New York Times thuê nhiều suites tại New York Hilton, bí mật xếp đặt, chuẩn bị. Ngày tài liệu mật đăng trên New York Times, 13 tháng 6, 1971, Ellsberg mới biết mình bị ông “bạn quý” Neil Sheehan lừa. Dã man ở chỗ là vào ngày này, toà báo New York Times canh gác vô cùng cẩn mật, đề phòng FBI tới can thiệp, mà không hề báo cho “thủ phạm” là Ellsberg biết để thủ thân. Ellsberg gọi hai ba lần, vẫn không được Sheehan trả lời.

Văn là người. Tên sách cũng là người. Với Neil Sheehan, tất cả chỉ là “dối trá sáng ngời”! Rất tiếc, Shining Sheehan đã làm lu mờ một phần giá trị cùa bộ phim.

Gọi tên cuộc chiến

Không ai đòi hỏi người làm phim phải trình bầy giải pháp (answer) cho cuộc chiến, nhưng khi trình bầy về diễn tiến của một cuộc chiến quan trọng, diễn ra trong nhiều năm, thiệt hại hàng triệu sinh mạng, ít ra cũng cần giúp khán thính giả hiểu rõ lý do trung thực đưa tới cuộc chiến. Nhất là lý do chính tại sao Mỹ mang quân tới đánh nhau ở Việt Nam.

Trước hết, vấn đề “chính danh”. Chiến tranh Việt Nam (The Vietnam War) mà Ken Burns và Lynn Novick mô tả, là cuộc chiến được gọi tên khác nhau tuỳ từng phía: Mỹ gọi là Vietnam War, người Việt Quốc gia gọi là cuộc chiến Chống Cộng Sản, người Việt Cộng Sản gọi là Chiến Tranh Chống Mỹ. Thởi gian tham gia cuộc chiến cũng khác nhau tuỳ từng phía. Quân chiến đấu Mỹ chính thức tham chiến (trên bộ) từ 1965 đến 1973, kéo dài 8 năm. Với người Việt, cuộc chiến kéo dài 30 năm, từ 1945 đến 1975.

Tháng Ba năm 1945, Nhật cướp chính quyền từ tay Pháp. Ngày 15 tháng Tám 1945, Nhật chịu đầu hàng Đồng Minh. Lợi dụng tình trạng vô chính phủ, Việt Minh, lãnh đạo bởi các thành phẩn Cộng Sản chủ chốt, dựa vào phong trào quần chúng yêu nước, cướp lấy chính quyền, lập Chính phủ Lâm thời, ra Tuyên ngôn Độc lập ngày 02 tháng 09, năm 1945, tại Hà Nội, đúng ngày Nhật chính thức ký văn kiện đầu hàng trên tầu U.S.S. Missouri, đậu tại Vịnh Tokyo. Cùng ngày này, cuộc đánh nhau giữa người Việt và người Pháp nổ ra tại Sàigòn, bắt đầu chiến tranh Nam Bộ. Một năm sau, cuộc chiến Việt Pháp mới nổ ra tại miền Bắc, bắt đầu là đụng độ ở Hải Phòng vào cuối tháng 11, rồi tới Hà Nội ngày 19 tháng 12, sau khi Việt Minh từ chối tối hậu thư của Pháp đòi giải tán đạo quân Tự Vệ, và trao quyền kiểm soát an ninh cho Pháp. Ba năm đầu, từ 1945 đến 1948, là cuộc chiến chống Pháp dành độc lập. Trong giai đoạn này, tuy lãnh đạo cuộc chiến là những thành phần cộng sản chủ chốt, nhưng họ đã phải nấp dưới chiêu bài chiến đấu vì nền độc lập quốc gia. Hầu hết những người tham gia, và hy sinh trong cuộc chiến, đều một lòng vì mục tiêu cao cả này.

Năm 1947, trong cố gắng dành thắng lợi về phần mình, cả Pháp và Việt Minh đều lôi kéo sự hợp tác của thành phần người Việt yêu nước không cộng sản. Vào giữa năm, Hồ Chí Minh cải tổ chính phủ, trong thành phần mới có cả người không cộng sản, độc lập và Công giáo. Vào cuối năm, Pháp ký thoả hiệp tại vịnh Hạ Long với cựu hoàng Bảo Đại, hứa sẽ trả độc lập cho Việt Nam. Nhưng cả Việt Minh và Pháp đều không thật lòng. Việt Minh chỉ tìm cách che đậy bộ mặt thật cộng sản của mình, trong khi Pháp không thực tâm từ bỏ mục tiêu giữ thuộc địa cũ. Chính ông Bảo Đại tẩy chay thoả hiệp Hạ Long lần đầu, trong khi những người Việt không cộng sản bỏ vùng kháng chiến về thành thị, dưới quyền kiểm soát của Pháp, không phải để hợp tác với Pháp, mà ít nhất, thoát cảnh sống chung với cộng sản.

Giữa năm 1948, Pháp cố gắng lần nữa, lập ra chính phủ bù nhìn Nguyễn Văn Xuân, kéo ra Hạ Long lần thứ nhì, dưới sự chứng kiến của Bảo Đại, Pháp công khai và long trọng cam kết trả độc lập cho Việt Nam, nhưng không có một lịch trình rõ ràng về việc chuyển quyền từ Pháp sang Việt. Bảo Đại lại tẩy chay.

Năm 1949, tháng Ba, ngày 08, lần này không phải từ Hạ Long nữa, mà tại Phủ Tổng Thống Pháp, Điện Elysée, Pháp ký thoả hiệp thừa nhận Việt Nam là nột quốc gia liên kết, thống nhất, độc lập trong Khối Liên Hiệp Pháp. Nhưng Pháp vẫn giữ lại quyền chỉ huy quân sự và ngoại giao. Lần này Bảo Đại không tẩy chay nữa, ông đã đồng ý về Sài Gòn, với tư cách Quốc Trưởng. Ngày 14 tháng 6, 1949, chính quyến Nam Kỳ tự trị đệ đơn từ chức lên Bảo Đại, hoàn tất mục tiêu thống nhất đất nước.

Ngày 1 tháng Bảy 1949, Quốc Trưởng Bảo Đại chính thức tuyên bố thành lập Quốc Gia Việt Nam. Từ đây, có hai nước Việt: Một nước do Bảo Đại đứng đầu, nước kia là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, do HCM đứng đầu. Cuộc kháng chiến chống Pháp ban đầu dần dần biến thành cuộc chiến Quốc Cộng.

Đầu năm 1950, sau khi làm chủ lục địa, Trung Cộng chính thức thừa nhận và ký thoả hiệp viện trợ quân sự cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Ngày 30 tháng 01, 1950, Liên Xô cũng chính thức thừa nhận VNDCCH. Bốn ngày sau, 04 tháng 02, Hoa Kỳ chính thức thừa nhận Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại. Cuộc chiến Quốc Cộng không hoàn toàn là chuyện nội bộ của người Việt, mà có sự tham dự trực tiếp hay gián tiếp từ bên ngoài.

Phía Việt Minh do cộng sản lãnh đạo núp dưới vỏ bọc quốc gia yêu nước, được cung cấp võ khí và nhân sự cố vấn đa số từ Trung Cộng và một phần từ Liên Xô, cùng theo ý thức hệ Cộng Sản. Quân đội được nhồi sọ chiến đấu để bảo vệ độc lập, chống ngoại xâm, trong khi hình ảnh các lãnh tụ nước ngoài như Stalin, Mao Trạch Đông, được đặt trên bàn thờ Tổ Quốc.

Phía Quốc Gia, quân đội đã thành hình và chiến đấu trong hoàn cảnh trớ trêu. Trong khi dân chúng sống tại các thành thị hay vùng do Pháp kiểm soát, vẫn nuôi mối căm thù thực dân Pháp, quân đội Quốc Gia do Pháp huấn luyện và chỉ huy, chiến đấu chống Việt Minh bên cạnh quân Pháp, và Pháp được Hoa Kỳ chu cấp tiền bạc cùng phương tiện. Mối căm hờn người Pháp vẫn cao đến nỗi, đôi khi người dân sống dưới vùng Pháp kiểm soát cảm thấy hứng khởi, trước nguồn tin Việt Minh gây thiệt hại cho Pháp trong một trận đánh lớn, quên rằng người mình, có khi là người thân của mình, đang chiến đấu bên cạnh người Pháp.

Chủ thuyết Domino

Ngày nay, trước câu hỏi “Tại sao Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam?” câu trả lời của những người có chút hiểu biết thường nhắc tới chủ thuyết Domino. Từ năm 1952, dưới thời chính quyền Truman, Mỹ đã dự đoán có thể sẩy ra sự xụp đổ dây chuyền tại Đông Nam Á, nếu để một nước lọt vào tay cộng sản, nhưng chưa nói rõ về lý thuyết domino. Đúng một tháng trước khi Điện Biên Phủ thất thủ, ngày 7 tháng Tư năm 1954, trong một cuộc họp báo tại toà nhà hành pháp (Executive Office Building) bên cạnh Bạch Ốc, trước gần hai trăm ký giả tham dự, Tổng Thống Eisenhower lần đầu tiên nói tới thuyết domino (Domino theory hay domino principle) khi trả lời một câu hỏi của nhà báo Robert Richards của Copley Press, về sự quan trọng chiến lược của Đông Dương đối với thế giới tự do.

Sau khi nêu ra sự phong phú về tài nguyên thiên nhiên tại các nước địa phương Đông Nam Á như thiếc, tungsten, cao su và cả khối dân chúng có thể bị rơi vào chế độ độc tài thù địch với thế giới tự do, ông Eisenhower nêu ra thí dụ: “Bạn có một dẫy con bài domino xếp cạnh nhau, bạn xô đổ con bài đầu tiên, và điều gì sẽ sẩy ra cho con bài cuối cùng là chắc chắn nó sẽ bị đổ mau chóng. Vì thế, con bài đầu tiên bị đổ có ảnh hưởng sâu xa nhất.”

 

clip_image006

Hình minh hoạ sự sụp đổ dây chuyền theo thuyết domino (Hình trên Net)

Tướng Eisenhower tuyên bố rõ ràng rằng để mất những nước khác tại Đông Nam Á chẳng những tăng gấp bội sự thiệt hại mà Châu Á không kham nổi để mất trên 450 triệu dân Trung Hoa, mà Đông Nam Á còn biến vòng đai phòng thủ của Hoa Kỳ dọc theo ven biển Thái Bình Dương, và điều này sẽ đe doạ Úc và Tân Tây Lan trong khi loại bỏ Nhật Bản là một đối tác thương mại cực kỳ quan trọng.

Eisenhower có viễn kiến rõ ràng. Nhưng ông là Tổng Thống Mỹ, không phải nhà độc tài như Stalin hay Mao Trạch Đông, muốn làm gì thì làm. Muốn can thiệp trực tiếp vào Việt Nam, ông cần có sự hậu thuẫn của dân chúng, thường bầy tỏ qua các cuộc thăm dò dân ý, qua thái độ của các hội đoàn thế lực như thương mại, lao động, cựu chiến binh… và nhất là của Quốc Hội. Đồng thời, về mặt quốc tế, cần sự đồng thuận và chia sẻ gánh nặng của các đồng minh, quan trọng hơn cả là Anh. Tổng Thống Eisenhower, nhất là Ngoại Trưởng Dulles, đã cố gắng tới phút chót, trước khi Điện Biên Phủ hết hy vọng cứu vớt, cuối cùng, đành bó tay, vì không có được sự đồng thuận của cả quốc nội lẫn quốc tế.

Hai thập niên sau, Cộng Sản chiếm Nam VN, con bài domino đầu tiên đổ, chỉ có Miên, Lào, cùng đổ, các nước khác như Thái Lan, Miến Điện, Mã Lai, Singapore, Nam Dương, vẫn còn, khiến phe chống đối cho là thuyết Domino sai. Luận cứ này không vững, vì tới năm 1975, khối Cộng Sản quốc tế đã suy yếu và chia rẽ, trong khi các nước không cộng sản ở Đông Nam Á, một phần nhờ chiến tranh VN, đã giầu mạnh lên và đứng vững. Nếu Nam VN mất vào năm 1955, thuyết Domino vẫn có thể đúng.

Tuy thiếu hậu thuẫn để cứu Điện Biên Phủ, ông Eisenhower hy vọng Pháp vẫn tiếp tục chiến đấu ngăn làn sóng Đỏ ở Đông Dương, bằng phương tiện của Mỹ, với lời khuyên muốn thành công, Pháp phải đạt được hậu thuẫn của dân Việt. Điều này chỉ có thể đạt được khi Pháp chứng tỏ thực tâm trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam. Lời khuyên có vẻ hợp lý, nhưng với Pháp là chuyện kỳ cục, không thể chấp nhận. Dùng tiền và phương tiện của Mỹ, hy sinh xương máu dân Pháp, để cuối cùng trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam, khác nào đánh thuê cho Mỹ. Cho nên, sau khi thua đậm ở Điện Biên Phủ, với chính phủ mới thuộc phe Xã Hội lên cầm quyền, Pháp quyết định ra đi.

Mỹ lâm vào thế khó xử: Một đằng thiếu hậu thuẫn quốc nội và quốc tế để trực tiếp can thiệp cứu Đông Dương. Đằng khác, nếu để mất Đông Dương, có triển vọng sẽ mất cả Đông Nam Á, vòng đai phòng thủ của Mỹ từ Tây Thái Bình Dương (dọc theo Việt Nam, Mã Lai, Nam Dương) sẽ thu hẹp và chuyển sang bờ Đông Thái Bình Dương (chạy từ Alaska tới Mexico). Ngoài ra, còn chuyện bầu cử sẽ diễn ra năm 1956. Phía Cộng Hoà từng làm khó phía Dân Chủ trước đây qua câu hỏi “Ai để mất Trung Hoa?” Bây giờ, nếu để phe Cộng sản thắng, sẽ trả lởi thế nào trước câu hỏi trả đũa của phía Dân Chủ: “Ai để mất Đông Dương?”

Trong khi ấy, phía Quốc Gia Việt Nam, ông Bảo Đại vốn dựa vào Pháp để tồn tại. Nay Pháp ra đi, chỉ còn hy vọng vào Mỹ. Ông không có hậu thuẫn tại Mỹ, nên phải tìm người có thể được Mỹ ủng hộ. Người đó, không ai khác hơn một nhân vật Cựu Hoàng từng biết rõ từ lâu, ông Ngô Đình Diệm. Ông này từng được Vua Bảo Đại cử làm quan đầu triều khi mới 32 tuổi, và đã khảng khái từ chức vì bất bình với người Pháp. Ông nổi tiếng liêm khiết, chống cộng kịch liệt, và điều quan trọng là được nhiều yếu nhân tại Mỹ ủng hộ, như Thẩm phán Tối Cao Pháp Viện William Douglas, các Nghị Sĩ Mike Mansfield và John Kennedy, Dân Biểu Walter Judd, và nhất là Hồng Y Francis Spellman, Tổng Giám Mục New York, Tổng Tuyên Uý Quân Đội Hoa Kỳ, bạn học cũ tại Roma của Giám Mục Ngô Đình Thục, anh ruột ông Diệm.

Tất nhiên, một người hoàn toàn phụ thuộc vào Pháp như ông Bảo Đại không thể tự mình trao quyền cho ông Diệm, mà quyết định này, phải có sự gợi ý hay thoả thuận của Pháp. Dù họ chẳng ưa gì ông Diệm, nhưng để ông cầm quyền vào phút chót, khi Pháp không còn hy vọng gi nữa, là thủ đoạn khôn ngoan. Họ có thể ra đi trong trật tự theo kịch bản không phải vì thua trận, mà vì đã trả hết quyền hành cho Việt Nam, đã hết nhiệm vụ. Nếu ông Diệm để đất nước ông mất vào tay Cộng Sản, là trách nhiệm của ông, không phải của người Pháp.

Theo Bernard Fall trong The Two Viet-Nams, Ông Bảo Đại từng nhiều lần mời ông Diệm làm thủ tướng, nhưng ông đều từ chối, vì thấy tình hình chưa chin mùi. Sau Điện Biên Phủ, Pháp đành ký thoả hiệp cuối cùng với Hoàng Thân Bửu Lộc ở Paris, ngày 4 tháng 6, 1954, trả hoàn toàn độc lập về chính trị cho Việt Nam (Chủ quyền về tiền tệ và tài chánh mãi đến ngày 02 tháng 01, 1955 mới được bàn giao cho VN). Ngày 16 tháng 6, 1954, Bảo Đại mời ông Diệm thành lập chính phủ mới. Ông Diệm đòi được trao toàn quyền về dân sự và quân sự. Sau ba ngày do dự, ông Bảo Đại chịu nhượng bộ vào ngày 19 tháng 6. Trao toàn quyền, chẳng khác gì một hình thức thoái vị. Để vớt vát, ông Bảo Đại yêu cầu ông Diệm phải thề trung thành với ông.

Thủ Tướng tân cử Ngô Đình Diệm về tới Sài Gòn ngày 26 tháng 6. Thành lập và trình diện tân chính phủ ngày 7 tháng 7, được kỷ niệm hàng năm với tên “Ngày Song Thất.”

(còn tiếp)

bài đã đăng của Đinh Từ Thức


5 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Phim tài liệu. Dĩ nhiên là theo quan điểm, cách làm của người Mỹ. Tuy vậy không khỏi tránh được chữ thời. Mỹ làm phim trong khi nhà nước VNCS còn sờ ra đó. Phim Kong: Skull Island [có bối cảnh lịch sử VN] mấy tháng trước, còn bây giờ là thời điểm của hội nghị APEC. Tôi còn nhớ lúc TT OBama thăm VN đã gỡ bỏ cấm vận vũ khí, TT Obama còn đem về Mỹ hợp đồng VN mua máy bay Boeing đến 11 tỉ dolllars.

    Ở Mỹ, sáng tác văn nghệ luôn luôn kèm theo hiệu quả của bussiness, dù sao đi nữa.

  • Trần Vũ viết:

    Kính chào bác Đinh Từ Thức,
    Bác ghi lại nhận định của Edward Lansdale, như sau:
    Trong cuốn hồi ký In The Midst of Wars (ITMOW), Tướng Edward Lansdale đã cho biết, ông được nghe các quân nhân Pháp bị bắt làm tù binh, sau khi được Việt Minh thả, kể lại rằng: “Việt Minh đã chọn các tù nhân Pháp trở lại trận địa để diễn lại trận đánh trước máy quay phim hầu làm cuốn phim chính thức về trận đánh. Khi các diễn viên đến, trận địa đã bị ngập nước! Vào thời gian trận đánh, Tướng Giáp của Cộng Sản đã ra lệnh thay đổi dòng chảy của mấy con suối chung quanh những ngọn núi, để làm lụt vùng đất thấp. Khi trời mưa, những công sự phòng thủ của Pháp như đặt dưới đáy một bồn tắm với vòi nước chảy tối đa. Hàng ngàn sinh mạng đã có thể không bị hy sinh nếu Việt Minh chỉ đợi trời mưa. Rõ ràng nhu cầu chính trị về một chiến thắng mau lẹ đã khiến Việt Minh bỏ qua việc đợi một chiến thắng qua thuỷ lực” (ITMOW, tr. 151).
    Edward Lansdale là một sĩ quan quân báo OSS, không phải chiến lược gia cũng không phải tư lệnh mặt trận, nhận xét của Lansdale thiếu luận cứ. Trong quân sử, khắc nghiệt của thiên nhiên luôn xảy đến cho cả hai phía tấn công và phòng ngự, và thường xuyên là nặng nề hơn cho phía tấn công. Mùa đông 1941, là mùa đông băng giá nhất tại Âu châu suốt một thế kỷ qua, nhưng phía tấn công là Lục quân Đức bị tổn hại nặng nề vì giữa đồng trống và trên những lộ ngập tuyết, vận chuyển khí cụ, tiếp liệu khó khăn hơn quân Nga trú trong thủ đô Mạc Tư Khoa. Tại Điện Biên Phủ những trận mưa to bắt đầu tháng 5, nước ngập lên đến đầu gối trong giao thông hào, nhưng với Việt Minh phải vận chuyển đạn pháo binh 105 ly lên đỉnh núi, tiếp liệu 4 sư đoàn chính quy, khó khăn cũng nhiều, nhất là trạm trung chuyển hậu cần Tuần Giáo nằm ở chỗ trũng thấp hơn Điện Biên Phủ. Mà Tuần Giáo là kho trạm chính của chiến trường, nếu Mường Thanh ngập nước thì Tuần Giáo cũng ngập nước. Sau nữa, vào đầu tháng 5-1954, Tổng bộ Việt Minh chưa biết kết quả hội nghị Genève, cần thanh toán mục tiêu để áp lực thêm lên chính phủ của Mendès France. Cùng thời gian, tiểu đoàn 3 Nhảy dù Lê Dương (3e BEP) vừa từ chính quốc tăng viện sang, đã cập cảng Hải Phòng. Tiểu đoàn 7 Nhảy dù Thuộc địa (7eBPC) đang không vận sang VN, xuyên qua ngã Ấn Độ, 2 đại đội tiền phương đã xuống Tân Sơn Nhất. Tiểu đoàn 3 Nhảy dù Thuộc địa (3e BPC) đang được thả xuống ngày 6 tháng 5-1954. Võ Nguyên Giáp chờ đợi mưa lũ, là chờ viện binh Pháp đổ sang. Từ tháng 3-1954 đến tháng 5-1954, Bộ Tư lệnh Bắc phần thả 5 tiểu đoàn dù giúp kéo dài trận chiến 1 tháng rưỡi, thêm ba tiểu đoàn dù nữa là thêm 1 tháng chiến trận. Quan trọng hơn, kéo dài Điện Biên Phủ là cho Pháp thời gian củng cố vành đài phòng thủ Hà Nội mà nếu hội nghị Genève thất bại, Giáp sẽ phải tiến xuống đồng bằng. Lý lẽ của Lansdale hoàn toàn thiếu thiết thực.
    Nếu muốn nhấn mạnh Giáp đã thí quân, thì phải nhấn mạnh vào chiến thuật biển người đánh các đồi Béatrice, Gabrielle và đặc biệt dẫy đồi Éliane phía Đông cứ điểm.
    Việc trích dẫn Lansdale ở đây, không thuyết phục.
    Cần tham khảo thêm khối lượng sách khổng lồ của các quân nhân Pháp viết về chiến tranh Việt-Pháp.

  • Đinh Từ Thức viết:

    Thưa anh Trần Vũ,

    Rất cám ơn anh đã đọc bài và góp ý.

    Tôi đã trích dịch một đoạn trong hồi ký của Tướng Lansdale để dẫn chứng. Cả đoạn này nói tới hai việc: Một là trong trận đánh quan trọng như trận Điện Biên Phủ, Hà Nội đã cho diễn lại trận đánh để quay phim làm tài liệu chính thức. Hai là vì nhu cầu chính trị, Tướng Giáp đã không cần tiết kiệm sinh mạng binh sĩ bằng cách đợi lợi thế nhờ thuỷ lực.

    Dưới tiểu tựa “Hình ảnh và sự thật”, tôi không đề cập tới chuyện thí quân. Chuyện này, tôi đã đề cập tới trong một bài khác, khi nói về cuộc phỏng vấn của Tướng Giáp dành cho nữ ký giả Oriana Fallaci vào tháng Hai năm 1969, tại Hà Nội. Dịp này, khi được hỏi về thiệt hại nhân mạng tại Điện Biên Phủ, phía Pháp là mười hai ngàn người, phía Bắc Việt bốn mươi lăm ngàn người, Tướng Giáp đã rất bình thản, trả lời rằng: “Mỗi hai phút có ba trăm ngàn người chết trên hành tinh này, bốn mươi lăm ngàn người cho một trận đánh, có đáng gì? Trong chiến tranh, chết không kể!”

    Ở đây, tôi chỉ muốn đề cập tới chuyện “diễn lại”. Đáng lẽ, chỉ cần trích dịch nửa đoạn đầu, đã đủ để dẫn chứng. Nhưng nếu làm như vậy, lại sợ bị chỉ trích là chỉ nhặt nhạnh một vài câu mà bỏ lại toàn cảnh.

    Nếu quả thật tôi trích dịch Lansdale để nói chuyện thí quân ở đây, chẳng những “thiếu thuyết phục”, mà còn lạc đề.

    Rất ngạc nhiên khi được biết một nhà văn mà thông hiểu quân sử tới từng chi tiết. Chắc gì một Tổng Tư Lệnh Quân Đội như Ngài Donald Trump có hiểu biết như vậy.

  • Trần Vũ viết:

    Cám ơn bác Thức đã giải thích.

    Đúng là trích dẫn dài gây hiểu lầm là mụch đích gián tiếp phê phán Giáp nướng quân. Về việc đạo diễn Sô-Viết Roman Karmen dựng cảnh quay hình sau khi Điện Biên Phủ kết thúc, rất đông nhân chứng mà câu chuyện nổi tiếng là trung tá Marcel Bigeard, chỉ huy phản kích Nhảy dù, đã từ chối “đóng phim” bằng câu trả lời: “Plutôt crevé! (Thà chết!)”
    Trừ De Castries và bộ chỉ huy bị thâu hình, hầu như không có sĩ quan Nhảy dù và Lê dương nào xuất hiện trong phim Việt Minh. Đa số là lính Bắc Phi được Roman Karmen giả trang thành Lê dương và Nhảy dù.

    Loạt bài 3 kỳ của bác Thức công phu và không dễ viết, vì vừa phải dàn trải, vừa phải tóm lược. Có vài điểm có thể bàn luận thêm.

    Tác giả viết: “Tuy thiếu hậu thuẫn để cứu Điện Biên Phủ, ông Eisenhower hy vọng Pháp vẫn tiếp tục chiến đấu ngăn làn sóng Đỏ ở Đông Dương, bằng phương tiện của Mỹ, với lời khuyên muốn thành công, Pháp phải đạt được hậu thuẫn của dân Việt. Điều này chỉ có thể đạt được khi Pháp chứng tỏ thực tâm trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam. Lời khuyên có vẻ hợp lý, nhưng với Pháp là chuyện kỳ cục, không thể chấp nhận. Dùng tiền và phương tiện của Mỹ, hy sinh xương máu dân Pháp, để cuối cùng trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam, khác nào đánh thuê cho Mỹ. Cho nên, sau khi thua đậm ở Điện Biên Phủ, với chính phủ mới thuộc phe Xã Hội lên cầm quyền, Pháp quyết định ra đi.”

    Đoạn này bác Thức viết hơi nhanh. Quân viễn chinh rời VN không vì mặc cảm đánh thuê cho Mỹ, cũng không vì tự ái dùng tiền bạc, phương tiện của Mỹ hay trắc ẩn trước hy sinh xương máu của dân Pháp rồi cuối cùng trắng tay. Dân Pháp không hy sinh nhiều, ngay từ 1951 Hoa Kỳ đảm trách phân nửa chiến phí, sẽ tăng lên gần ¾ vào năm 1954. Lính Pháp (thuần tình nguyện không phải trưng binh) chiếm 20%, còn lại là lính thuộc địa, lê dương và bản xứ. Lính Việt chiếm đông nhất: 55% quân số ở các tiểu đoàn dù và 76% cấp số ở các tiểu đoàn lê dương “vàng hóa”. Hy sinh lớn lao là chết và bị thương 3 khóa võ bị mỗi năm, từ 1952. Hoa Kỳ trả bằng đô-la, là nguồn thu ngoại tệ khổng lồ. Càng tiếp tục, càng lời.

    “để cuối cùng trao trả hoàn toàn độc lập cho Việt Nam”?

    Từ 1949 Pháp đã chính thức công nhận nền độc lập này và đã bắt đầu chuyển giao nhân viên hành chánh, các bộ ít quan yếu, với thời gian tiến trình này sẽ hoàn tất không thể vãn hồi, ngay cả nếu Pháp chiến thắng tại Điện Biên Phủ. De Lattre tuyên bố tại Vĩnh Yên: “Tôi đến đây để hoàn thành nền độc lập của quý quốc, không phải để giới hạn nền độc lập ấy.” Một trong những lý do Bảo Đại chấp nhận về nước chấp chính, là vì đạt được thỏa thuận Pháp phải thành lập quân đội quốc gia. Bảo Đại thành công thêm nữa khi đạt thỏa thuận với tướng Collins, trưởng ban quân viện và thanh tra Đông Dương (về sau là tổng tham mưu trưởng lục quân) là Hoa Kỳ chuyển giao trực tiếp vũ khí cho quân đội quốc gia mà không thông qua Phòng Quân Nhu Pháp. Ngay từ 1952 Collins đã thực thi điều này không đợi đến 1955. Collins đi xa hơn nữa, yêu sách vũ khí phải được sữ dụng theo phương pháp Hoa Kỳ, có nghĩa vũ khí nào, chiến thuật ấy, tức là gián tiếp can thiệp vào cung cách chỉ huy của Pháp.
    Pháp biết rõ nền độc lập của VN không khứ hồi, nhưng muốn tiếp tục hiện diện trên đất Việt để duy trì VN trong vùng ảnh hưởng của Pháp và hưởng những đặc quyền từ quá khứ.

    “lời khuyên muốn thành công, Pháp phải đạt được hậu thuẫn của dân Việt.”

    Khác với các thuộc địa Bắc Phi mà Pháp tin chiến thắng trên quân sự nhưng không thu phục được lòng dân Ả Rập, tại VN, họ tin dân Việt theo họ, bằng chứng 1 triệu người di cư mà nếu Việt Minh không ngăn chận, sẽ đông hơn nhiều. Dân Việt thân Pháp khá đông, thân binh và phụ lực quân cùng lính VN là cấp số căn bản của quân Liên Hiệp Pháp. Giống sau này dân chúng chạy theo lính VNCH xuôi nam, dân chúng chạy theo lính Pháp mỗi khi Việt Minh giải phóng các “vùng tạm chiếm”. Chính tại Cao Bằng vì dân Cao Bằng chạy theo Binh đoàn Charton mà binh đoàn này chậm trễ trong lui quân. Tại Hòa Bình 1952, khi Pháp triệt thoái, dân Mường cũng chạy theo Pháp và Xứ Thái Tự trị trên miền Thượng Du hoàn toàn theo Pháp. Tại Campuchia và Lào còn đông hơn. Trong cuộc hành binh tái chiếm Lạng Sơn chớp nhoáng để phá hủy kho tàng, dân chúng Lạng Sơn mặc dù đã được giải phóng 2 năm từ tháng 10-195O đã xin đi theo quân dù về vùng quốc gia.

    “khác nào đánh thuê cho Mỹ.”

    Phía Pháp chưa bao giờ nghĩ vậy, họ nghĩ đây là một cuộc chiến chung, cho mục đích chung: ngăn làn sóng đỏ, thì bên góp máu, bên góp của là bình thường. Tại Tây Âu để ngăn sóng đỏ, Pháp đặt 10 sư đoàn dưới điều động của Minh Ước Bắc Đại Tây dương OTAN, (ngẫm hiểu dưới quyền Hoa Kỳ). Tại Triều Tiên, Pháp gửi trung đoàn bộ chiến Cao Ly (Régiment de Corée) sang tham chiến cùng Hoa Kỳ, thì việc Hoa Kỳ cung cấp vũ khí là tất nhiên. Như Hoa Kỳ từng võ trang 20 sư đoàn chính quy Pháp năm 1943 chia thành 2 Lộ quân dưới quyền de Lattre và Juin, một đổ bộ lên miền Provence tháng 8-1944 và một đổ bộ lên miền Trung Ý tháng 9-1943. Không ai thắc mắc.

    Như vậy, thì vì sao quân viễn chinh ra đi?

    Đại tướng Paul Ély, tư lệnh cuối cùng ta thán trong hồi ký: “điều mà Hồ Chí Minh không đạt được sau chín năm máu lửa, đồng minh thân cận của chúng ta hoàn thành trong một tháng!” Chính vì thủ tướng Ngô Đình Diệm yêu cầu quân đội Pháp ra đi trong một tháng. Thực tế diễn ra lâu hơn, nhiều tháng, nhưng vẫn là một fact (c’est un fait.) Vào thời điểm ấy, cố thủ tướng Ngô Đình Diệm danh chính ngôn thuận khi yêu cầu Pháp rút lui, vì độc lập đã trao trả trên giấy tờ, quân đội quốc gia đã hình thành nhiều sư đoàn, do Hoa Kỳ võ trang, chiến tranh đã đình chiến. Pháp không có lý do thoái thác, ngoại trừ dùng vũ lực tái kiểm soát VN, nhưng cũng không thể tuyên chiến với chính quân đội quốc gia, là đồng minh cũ, ngay sau Điện Biên Phủ. Lời khuyên của Pétain vào tháng 7-1940, khi quân đội Pháp muốn tuyên chiến với Anh vì Anh đã bắn chìm tàu Pháp tại Algérie, còn nguyên giá trị: “Một thất trận,là quá đủ!”

    Ra đi vì “lực bất tòng tâm”. Tuy sự ra đi ấy khiến giai cấp sĩ quan cao cấp và trung cấp bất mãn, xem là đã bán đứng Đông Dương, chính vì vậy đưa đến đảo chánh của quân đội tại Alger về sau vì không muốn bỏ Algérie.

    Không biết bác Thức có đồng ý với cách nhìn này?

  • Đinh Từ Thức viết:

    Rất cám ơn anh Trần Vũ đã cho thêm thông tin về vụ phía Cộng Sản cho diễn lại để quay phim trận Điện Biên Phủ. Tôi không biết các nhà làm bộ phim The Vietnam War, Ken Burns và Lynn Novick, đã cho bao nhiêu cảnh diễn lại vào trong bộ phim của họ. Và nếu có chuyện này, để bảo vệ sự trung thực, ít nhất, họ phải cho khán giả biết.

    Về câu hỏi cuối cùng của anh, tôi chỉ xin ghi lại những gì được biết qua tài liệu:

    Tôi không biết trong 9 năm theo đuổi cuộc chiến ở Việt Nam, nước Pháp đã “lời” bao nhiêu, nhưng tới trận Điện Biên Phủ, họ đã quyết định ra đi, dù Mỹ vẫn muốn giữ họ lại. Trong cuốn sách To Move A Nation, tác giả Roger Hilsman, Phụ Tá Ngoại Trưởng về Viễn Động Sự Vụ, viết rằng vào mùa Xuân năm 1954, Ngoại Trưởng Dulles và Tham Mưu Trưởng Liên Quân Radford cố vận động để Quốc Hội đồng ý cho Mỹ cứu Pháp ở Điện Biên Phủ bằng không lực. Sau khi thảo luận, các lãnh tụ tại Quốc Hội đã đưa ra điều kiện gồm ba điểm: (1) việc giúp Pháp phải đến từ đa phương (có sự đồng ý tham dự của nhiều nước); (2) Pháp phải tăng mau tiến trình trả độc lập cho Đông Dương, và (3) Pháp phải đồng ý không rút các lực lượng quân sự khỏi Đông Dương.

    Điểm 1 không đạt được, vì nước Anh cương quyết chống lại, sợ chiến tranh VN sẽ trở thành giống chiến tranh Cao Ly, và Trung Cộng có thể tham dự, dẫn tới Thế Chiến Ba. Đồng thời, Pháp chỉ muốn Mỹ cấp bách cứu nguy ĐBP, không muốn “quốc tế hoá” chiến tranh VN, làm mất uy tín của Pháp.

    Điểm 2, cũng không đạt được. Trong cuộc thảo luận vào tháng 4, 1954, tại Paris, giữa Ngoại Trưởng Dulles và Chính Phủ Pháp, nước Pháp vẫn muốn giữ Việt Nam trong “Khối Liên Hiệp Pháp”. Mãi đến ngày 4 tháng 6, 1954, khoảng 4 tuần sau khi thất trận ĐBP, Pháp mới ký văn kiện chót với hoàng thân Bử Lộc tại Paris, trao trả hoàn toàn độc lập cho VN. Sau đó, ông Diệm mới chịu nhận lời mời thành lập chính phủ.
    Điểm 3, không bảo đảm. Điều này có vẻ lạ, vì nhiều người vẫn nói rằng Mỹ đã tìm cách đá Pháp khỏi Đông Dương để nhảy vào. Sự thật là từ thời Truman, Mỹ chủ trương chống chế độ thực dân, muốn giúp các dân tộc cựu thuộc địa dành độc lập. Tuy vậy, Mỹ đã giúp Pháp tiền và võ khí để theo đuổi chiến tranh Đông Dương, dù biết Pháp muốn cố giữ thuộc địa cũ. Ngay từ năm 1951, khi còn là Dân Biểu Hạ Viện, sau chuyến đi Đông Dương trở về, ông John Kennedy đã tuyên bố: “Tại Đông Dương, chúng ta tự làm đồng minh với một nỗ lực tuyệt vọng của Pháp để có bám vào đế quốc còn sót lại”. Mỹ làm vậy, tuy mâu thuẫn với chủ trương chống đế quốc của mình, nhưng có vài điểm lợi: Một là phải chi tiền, nhưng tiết kiệm được xương máu của dân; hai là dù Đông Dương trong tay Pháp, vẫn đỡ tệ hơn lọt vào tay cộng sản.

    Tới vụ thua trận ĐBP, Pháp muốn ra đi qua cuộc dàn xếp tại hội nghị Genève. Mỹ sợ Pháp đi, bỏ mặc Đông Dương rơi vào tay Cộng Sản. Trong cuốn The Sky Would Fall, nói về cố gắng của Mỹ cứu ĐBP bằng Chiến dịch Diều Hâu (Operation Vulture), tác giả John Prados cho biết, trong chuyến đi Paris vào giữa tháng Tư, trong đêm trước khi trở về Mỹ, phụ tá Ngoại Trưởng Dulles là Đại Sứ MacArthur II (cháu của danh tướng Mac Arthur) đã gặp Thủ Tướng Pháp Laniel tại tư dinh, nhắc nhở ông về lời hứa vào tháng Bảy năm 1953, có liên hệ tới chi phí của Kế hoạch Navare, rằng Pháp sẽ “không có hành động trực tiếp hay gián tiếp có thể đưa Đông Dương vào tay cộng sản”. Mỹ nhắc nhở Pháp rằng chấp nhận hoà đàm ở Genève là phạm tới lời hứa này.
    Theo Mac Arthur II, Laniel xác nhận ông ta không phải là người làm chuyện đó, nhưng trạng thái quá mệt mỏi vì chiến tranh tại Pháp đã tạo ra tình trạng khó khăn về chính trị. Chính Phủ Laniel có thể đổ bất cứ lúc nào và Chính Phủ kế tiếp không thể trành được việc dàn xếp bằng hoà đàm. Prados nhận xét rằng: “Lời hứa Mỹ nghĩ rằng đã có được khi họ đồng ý chi tiền cho Kế hoạch Navare hoá ra thành vô giá trị” (làm liên tưởng tới lời hứa ông Thiệu nghĩ rằng có giá trị từ ông Nixon khi đồng ý ký vào Hiệp Định Paris 1973).

    Sau kết quả của Hiệp Định Genève 1954, Nhật Ký của Tổng Thống Eisenhower (The Eisenhower Diaries) ghi rằng “Đầy những chuyện rắc rối đến từ những dàn xếp lỏng lẻo về hoà bình tại Việt Nam. Người Pháp đã nghĩ kỹ trao trái bom nổ chậm này cho Hoa Kỳ, người đã ôm đại, không cần suy nghĩ”.

    Tôi đã đợi cho tiêu hết món gà tây trong dịp Lễ Tạ Ơn, rồi mới trả lời anh. Hy vọng hồi đáp này không quá trễ.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)