Trang chính » Truyện ngắn Email bài này

VỀ ĐÂU (kỳ 2/2)

0 bình luận ♦ 30.10.2017

Mấy người bạn lần lượt trở lại bàn xa – lông đặt gần cái bàn ăn. Chỉ còn Cảo, chủ nhà, đứng bên cạnh cửa sổ nhìn mưa rơi ngoài kia. Vẻ mặt của họ có chút đăm chiêu, tay vịn thành ghế, tần ngần. Lý ngồi xuống ghế trước tiên, những người khác ngồi xuống theo. Rồi người thì dựa lưng vào lòng ghế, ngả đầu nhìn trần nhà; người thì ngồi nghiêng một bên, cằm tựa lên lòng bàn tay; người thì hai chân vắt chéo lên nhau, hai cánh tay vòng lại; người thì vừa xoa tay, vừa rung đùi một cách máy móc theo thói quen. Không nói ra, nhưng ai cũng muốn nói chuyện trở lại, nói chuyện dài dài – xa nhau lâu ngày, nay gặp lại, biết bao điều muốn chia sẻ với nhau mà chưa nói hết. Chẳng lẽ chỉ vì một chút xúc động vừa qua khiến họ im lặng rồi phải im lặng mãi. Nhưng họ không chịu ngồi yên. Chỉ trong một khoảnh khắc ngắn, có người đứng nhổm lên rồi ngồi xuống đổi thế ngồi cho thoải mái hơn; có người bảo phải đi toa lét cho khỏe cái bụng cái đã, lúc nãy ăn uống nhiều quá; có người lò dò đi tìm cái kính để quên đâu mất. Ai nấy ra cái dáng sẵn sàng bắt đầu vào chuyện. Lý đứng lên gọi Cảo:

“Ông chủ nhà ơi, tới đây với anh em chứ. Mọi người đang chờ cậu đấy.”

Cảo hơi giật mình, vội đến, rồi đi nhanh vào phòng ngủ mang ra hai bao thuốc lá Pallmall, một cái bật lửa.

“Bạn nào thích hút thuốc lá,” Cảo nói, “thì … cứ việc. Xì gà Havana cũng có, ô … quên mang ra rồi. Để tôi vào lấy nhé. Nhưng có ai không hút thuốc mà ngại hít khói hay không?”

Tùy lên tiếng: “Ông chủ nhà cẩn thận thế là phải. Ở nước ngoài, muốn hút thuốc lá mà chả khác gì sắp đi làm chuyện quốc cấm. ‘Này tụi mày ai ở đâu cứ ngồi yên đó. Đừng nhốn nháo. Tao chưa về đâu. Tao phải ra ngoài này, ngoài này, một chút thôi …’”

Lý tiếp: “Lắm chuyện! Tụi mình trước kia mỗi ngày một thằng không hai bao thì một bao. Có thằng kiểu cọ điệu nghệ miệng không bao giờ rời ống dố, ta đây quan trọng mà. Hết thái cực này qua thái cực nọ. Có kiêng, thì đừng hút đều đều, thế là đủ rồi. Thỉnh thoảng gặp anh em hút chơi một điếu có sao đâu. Còn hít khói, khỏi nói. Không răng mô, không răng mô, phải không Hưng.”

Hưng đáp: “Mô đó.” Đã mấy mươi năm anh không dùng hai chữ này, nay tự nhiên nó bật ra cửa miệng. Sợ người ta không hiểu, anh nói thêm. “Mô đó nghĩa là … đại khái đồng ý.”

Lý nhấn mạnh thêm: “Tui không tin hít khói của người khác còn nguy hiểm hơn ngậm điếu thuốc hút lấy, như có người nói. Bày đặt, xạo.”

Tùy cãi: “Không xạo đâu.”

Lý cự nự: “Sao mày biết không xạo?”

Tùy đáp: “Biết chứ.”

Lý tiếp: “Biết cái con khỉ.”

Tuỳ cười to: “Nhưng sao mày biết tao không biết?”

Lý cà khịa: “Sao tao lại không biết.”

Cảo nhảy vào: “Hai bạn mà cứ cù cưa như vậy thì đến tết cũng không hết cù cưa. Tuy nhiên không răng mô, hai đấu thủ cứ việc so găng. Chúng tôi sẵn sàng làm trọng tài.”

Lý cười lớn: “Bảo cù cưa, rồi bảo cứ việc. Ông chủ nhà lẫn lộn hết thuốc chữa rồi.”

Cái không khí vui vẻ, sôi nổi trở lại với mọi người. Nhưng Hưng không yên tâm:

“Thái tự nhiên bỏ về. Tại sao vậy?”

Tuỳ cũng áy náy: “Có lẽ vì tôi đùa dai với nó hơi nhiều. Bậy quá. Tôi biết thằng Lý cũng sắp sửa theo gót thằng Thái bỏ tụi mình mà đi đấy.”

Không chờ Lý đang chu tròn cái miệng muốn trả lời ngay, Phùng vội nói:

“Làm gì có chuyện đó. Nó bận việc thật. Chiều nay nó phải về Sài Gòn …”

Hưng tiếp: “Tôi nhớ nghe nó nói vài hôm nữa nó mới về Sài Gòn để cùng vợ đi Cần Thơ. Rồi lên đường đi Mỹ.”

“Đúng vậy,” Phùng đáp. “Nhưng sau đó nó nói riêng với tui nó sực nhớ phải về Sài Gòn ngay chiều nay để giải quyết vài chuyện khác nữa.”

Hưng quay lại nhìn Phùng như tỏ lời cám ơn, rồi lặng lẽ nhìn hết người này đến người khác. Và tự nhiên, không ai bảo ai, chuyển đề tài. Không nói chuyện chính trị nữa. Dẹp một bên những băn khoăn, những lo âu về hiện tình của đất nước. Hỏi han nhau về gia đình, vợ con, công việc làm ăn. Và sôi nổi nhất là những chuyện cũ mà mọi người đều biết và nhớ, những kỷ niệm chung của thời Trung Học. Tranh nhau nói như sợ không kịp nói, nó sẽ bốc hơi bay đi mất. Một người khơi dậy một chuyện xẩy ra hồi đó … hồi đó … mọi người khác ồ lên khoái trá, rồi thêm thắt, bổ sung, ý kiến, bình luận. Tía lia nhất là Lý.

Hưng, trái lại, lòng nôn nao như thuỷ triều dâng mỗi khi nhìn từng người bạn cũ một cách âu yếm. Bỗng dưng anh muốn nghe hơn là nói. Anh vẫn có cái thói quen ấy. Đang nói huyên thuyên bỗng khựng lại, im lặng nghe. Đang vui bỗng buồn. Đang dzô dzô la de với anh em, lại đặt lon bia xuống bàn, nhìn ngơ ngác. Bạn bè từng chỉ trích anh về chuyện đó, nhưng anh chứng nào tật đó. Anh sực nhớ Phùng thỉnh thoảng cũng có cái tật ấy.

Anh kín đáo quan sát mọi người, nhận thấy ai nấy đều chẳng khác gì cái cuộn chỉ may, được mở mối ra là kéo dài như không bao giờ hết. Mình thì làm kẻ đứng ngoài nhìn vào. Tụi nó sống, mình nhìn cuộc sống. Thì cũng là một cách sống, anh lý luận. Nghĩ đến Thái. Cái thằng thật bặm trợn, nóng nảy, ba hoa, lắm chuyện, chửi thề như tát nước, mà thật dễ mến. Không có nó, thấy thiếu đi nhiều. Nhớ bữa nhậu vừa qua, ê hề, náo nhiệt. Ăn uống nhồm nhoàm, cố làm thô tục. Thức ăn lùa vào miệng chưa kịp nuốt đã cùng với lời nói văng ra vung vít. Thật ra thoạt tiên đùa cợt chơi cho vui, sau chơi thành thiệt. Ai nấy ăn nói thả cửa, thả giàn. Và đã đi quá đà. Mà quá đà thì đã sao, anh ngẫm nghĩ? Phải như thế mới biết lòng của nhau. Như người say rượu mới nói ra hết những gì mà lúc tỉnh táo hắn đắn đo, dè dặt. Tên nào có cái ý kiến chí lý đó hè, mình quên mất. Hay mình đã đọc trong một cuốn sách nào.

Những lời nói bung ra một cách tình cờ, những tiếng lóng tưởng đã bị xóa nhòa khỏi ký ức, nay hiện lên thật bất ngờ. Như bất ngờ tìm thấy tấm ảnh của cô bé hàng xóm đã tróc nước thuốc mà mình không thể nhớ tại sao nó nằm trong một cuốn truyện cũ một hôm giở ra xem. Như bất ngờ gặp lại tại một sân ga một thằng bạn của thời thơ ấu đã xa cách nhau gần nửa thế kỷ, nhìn nhau ngỡ ngàng thật lâu mới cùng ồ lên một tiếng, rồi ôm chầm lấy nhau.

Thời gian thụt lùi mấy mươi năm, mỗi người trẻ lại mấy mươi tuổi.

Lại nghĩ đến Tùy. Thằng Bắc Kỳ này cao lớn, thông minh, tài ba. Di cư từ Bắc vào Nam khi sắp trưởng thành. Học hành, đỗ đạt. Như cá gặp nước tha hồ vẫy vùng, thành công sớm. Thành công tiếp nối thành công, hứa hẹn một tương lai “toàn màu xanh, màu hồng”. Để rồi lại phải bỏ tất cả, mất hết cả, ra đi một lần nữa. Lần thứ nhất là di cư, là đổi chỗ ở, nhưng chưa “vô xứ”, là vẫn còn sống trên quê cha đất tổ. Lần thứ hai mới biến thành người lưu vong trên xứ lạ quê người. Lênh đênh trên biển cả, bị hải tặc chiếu cố nhiều lần, vợ bị hãm hiếp, đứa con gái còn nhỏ tuổi càng bi thảm hơn, bị làm nhục rồi bị mang đi biệt tích. Muốn chết cho xong kiếp người, có lần nó nói. Vâng, nó, vợ con nó, cơ ngơi của nó, có khác gì ngôi sao chổi xẹt ngang bầu trời rồi tắt ngấm trong đêm đen. Quá ngắn ngủi, quá sớm. Gone Too Soon, Michael Jackson, anh liên tưởng. Thích bài hát đó. Yêu tác giả. Thuộc lòng cả nhạc lẫn lời. Like a comet/Blazing ‘cross the evening sky/ Gone too soon. Bài hát vận vào số phận của tác giả của nó. Michael Jackson đã chết sớm quá. Số phận của thằng Tuỳ cũng na ná? E không đúng lắm. Vợ nó gục ngã, trở thành người mất trí. Nhưng nó gượng dậy. Mới hơn 50 tuổi, đầu đã bạc phơ, những nếp nhăn hằn sâu trên trán, trên hai khóe mắt, trên hai bên mép. Dáng đi nghiêng nghiêng, trước kia đâu có thế, có lẽ vì bị thương nặng sau những lần bị hải tặc tấn công. Thế mà nó vẫn còn cứng cỏi, vững vàng, vui vẻ với anh em, cười đùa luôn miệng. Có giả tạo hay không, bạn Tuỳ của tui, vì dưới vẻ phớt tỉnh, cái buồn thỉnh thoảng thoáng hiện trên khuôn mặt nhàu nát. Đứa con trai còn lại nay đã trưởng thành, học giỏi nổi tiếng ở xứ người. Đã bù đắp một phần nào cho cái đau đớn cũ chưa hả Tuỳ, anh tự hỏi. Có điều là Tùy tuyệt đối không muốn ai đề cập đến nỗi thống khổ cùng cực mà nó đã trải qua. Như vết thương chưa liền da, đừng cào cấu lên. Cái bình đã vỡ, đừng đụng vào nó.

Nay nó cũng về đây.

Có người bỏ đi một thời gian, gặp trở ngại hay thất vọng gì đó, khi được chính quyền trong nước khuyến khích, bèn trở về sinh sống. Có người chỉ về vui chơi, rồi lại ra nước ngoài sống cho thoải mái hơn về cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần. Có người nhất định không về khi chế độ tàn bạo ấy còn tồn tại. Có người về một lần thôi, rồi đi. Để mong tìm lại cái gì đó chẳng biết còn hay mất mà nó cứ canh cánh mãi bên lòng. Như con chim bị trúng tên, thương tích chưa lành, bay về nhìn lại cành cũ. Như như người bị giết hụt máu me đầy mình cũng muốn trở lại xem phạm trường ra sao. Chứ đâu phải chỉ để ăn lại tô bánh canh tôm cua, nước lèo màu đỏ sền sệt nổi trên mặt chiếc nồi đất phải lấy cái vá mỏng khỏa khỏa vớt nhẹ; để nghe ve gọi mùa hè mau tới, gọi nhiều lần từ sáng sớm đến chiều tối, làm rám vỏ những trái nhỡn lồng trong mo cau có đục những lỗ tròn, làm chín những trái ổi sẻ nở nang mơn mởn chuyển từ màu xanh đậm qua màu trắng hồng có nhiều vết chim mổ, làm mồ hôi tuôn ra ướt lưng thon những chiếc áo lụa dài trắng mỏng của những em Đồng Khánh, Gia Long, Trưng Vương, buổi trưa nắng chói, đạp xe đạp từ trường về nhà. Chứ đâu phải chỉ để nhìn thấy, khi đi đến những bến xe đò, những người không nhà trải chiếu rách nằm ngủ vật vờ dưới đất cạnh những chiếc xe chưa đến phiên chạy, bụi đường bám vào tóc, vào mặt; hay khi đi thăm mộ, những ngôi mả có mái che được dùng làm nơi trú ẩn mưa, nắng, của những trẻ mồ côi trần truồng da bọc xương, gò má nhô lên như hai hòn bi chai mẻ, lăn lóc chơi đùa với cỏ, rác, sỏi, cát, và của những thương phế binh phe bại trận, cụt tay, cụt chân, sứt cằm, bể trán từ một nơi nào đó lê lết tới những nghĩa địa ven thành phố, những năm Miền Nam không còn? Chứ đâu phải chỉ để vờ không trông thấy những khuôn mặt khô héo của người vợ chờ chồng, người mẹ trông con, những người tù ‘cải tạo’ năm năm, mười năm, mười lăm năm chưa thấy về, người vợ trẻ tóc xanh không còn, bà mẹ già nhắm mắt không thấy đứa con trai lần cuối.

Ô, chiến tranh đã làm khổ người đàn bà hơn là bọn mày râu hay sao — cái chết của người ngoài mặt trận thì đến mau, cái sống của người ở hậu phương chờ đợi thì đau đớn dai dẳng, và dai dẳng gấp bội khi người tù bại trận không biết khi nào về.

Gone too soon! Miền Nam!

Nhưng đừng nên lấy vài câu hát vớ vẩn của một ca nhạc sỹ, dù đó là một nhân vật nổi tiếng, để đem ra so sánh với vận mệnh của một quốc gia. Đừng nên bắt chước cái lối nhìn nước biển còn đọng lại trong một chiếc vỏ sò mà nghĩ là thấy được cả đại dương. Thôi, đừng liên tưởng lôi thôi. Hay là, để lên tinh thần, hãy nghĩ đến chuyện khác vui hơn trong ngày họp mặt hiếm hoi này. Hãy lắng nghe và tham gia chuyện trò với bạn bè, hãy sống những giây phút hiện tại hiếm hoi tuyệt vời này. Phải rồi, đừng nên, đừng nên … Nhưng cố tránh nó thì nó lại bướng bỉnh xuất hiện. Miền Nam! Nhiều người nhất định bảo Miền Nam còn. Nhiều người nói Miền Nam đã ra đi mang theo lá cờ. Gone too soon! Đã bị bức tử quá sớm rồi sao? Đã … đã chết hẳn rồi sao?

Vậy Miền Nam là gi? Là đất nước, trời mây, giang sơn, biển đảo. Là tổ tiên, dĩ vãng, mồ mả, am miếu, chùa chiền, nhà thờ, nhà từ đường, lầu chuông, gác trống. Là ký ức tập thể. Là sinh hoạt cộng đồng. Là hiện tại, tương lai, ước mơ, hy vọng và thất vọng. Là thói quen, tiếng cười giọng nói, âm nhạc, văn thơ, tranh ảnh, tượng đài. Là ruộng đồng, cây lá, con người và muôn loài. Là món ăn, thức uống. Là niềm tự hào, tự trọng. Là những gì được tôn thờ, trân quý, những gì rất cao xa, mơ hồ, những gì mà chí sỹ Phan Bội Châu từng nói, Không có nỗi đau nào lớn lao bằng nỗi đau mất nước. Và lạ thay, cũng là những gì rất gần gũi, thân yêu, trìu mến, đeo đẳng nhau mãi không rời, như người tình đối với người tình – Nhớ môi em và màu mắt biếc.

Mất. Bơ vơ.

Một buổi trưa bỗng mặt trời không còn, sấm chớp dọc ngang, mưa đổ xuống thật bất ngờ, u uất. Like the loss of sunlight/On a cloudy afternoon/Gone too soon … Đi đâu vội thế!

21 năm! 1954 – 1975! Những năm tháng đầu tiên rực rỡ của 21 năm ấy khi nền hòa bình ngắn ngủi trở lại với quê hương. Dù vết thương chiến tranh cũ còn nhức nhối, dù đất nước bị chia đôi với gần một triệu người từ Bắc di cư vào Nam, dù nỗi hoang mang như những mảng mây đen lác đác trên bầu trời xanh, người ta vẫn như nghe trong không gian âm vang một cuộc đời mới tự do và yêu thương. Như trong bài thơ của một nhà thơ từ Bắc mới di cư vào Nam, bồng bột, nồng nàn, mỗi lời, mỗi chữ là một giọt máu sôi sục ứa ra từ trái tim đầy ắp tin yêu, hy vọng, và ước mơ, trái tim của những người nhất định không chịu chết dù lưỡi lê đâm thấu phổi và đạn bắn vào đầu, mọi thứ, mọi thù hằn kể cả cái chết cũng không ngăn cản được “tình yêu, tự do và sự trường tồn của nó”, nó nhảy nhót reo vui theo điệu nhạc nhịp ba, lưỡi lê đâm và đạn nổ cũng phải khuất phục nhảy nhót theo “nhịp ba nhịp ba nhịp ba/tình yêu tự do mãi mãi”[1]. Như một nhà một thơ khác mới về từ nước ngoài, tha thiết, say đắm, “Mắt nghẹn ngào sáng tỏ nắng phương Nam[2].

Trong khi đó, không ít những người viết lách Miền Nam của vỹ tuyến chia đôi đất nước, không có kinh nghiệm gì về Đảng Cộng Sản, người Cộng Sản, vẫn mang nhiều cảm tình đối với cái gọi là Kháng Chiến Thần Thánh giành độc lập, chống ngoại xâm, cho nên họ chờ đợi, hoài nghi và im lặng. Cũng may, có một số người khác sớm thấy được những ngộ nhận của lịch sử. Anh nghĩ đến nhà văn Võ Phiến – Võ Phiến của trước năm 1975 với những tác phẩm nói về cộng sản sâu sắc, Võ Phiến của sau 1975 với Nỗi Buồn Lưu Đày.[3] Và về sau, một nền văn học vô cùng phong phú, đa dạng, mà chế độ mới luôn luôn muốn chôn vùi, thiêu hủy cho mất sạch tông tích.

Thơ, văn, rồi nhạc. Hồi anh mới bước chân vào Trung Học cũng là thời gian bài ca Nhà Việt Nam của Thẩm Oánh được mọi người thuộc nằm lòng, “Nhà Việt Nam/Nam Bắc Trung sáng trưng Á Đông/Bốn ngàn năm đó văn hóa xây đắp bao kỳ công … Nam Quan cho đến Cà Mau/Là Nhà Việt Nam non nước tươi một màu”. Trí thảnh thơi, lòng phơi phới, tiếng hát dâng lên trên trời cao. Miền Nam “mở mặt mở mày” với năm châu, bốn biển. Dựng nước, giữ nước. Khi tổ quốc gọi, toàn dân đáp lời. Nhạc sỹ Văn Giảng viết Lục Quân Việt Nam trong hoàn cảnh đó: “Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn/Đoàn hùng binh trong sương lướt gió reo vang”. Và hàng trăm, hàng ngàn bài ca khác nay vẫn được nhiều người ái mộ từ Nam tới Bắc. Họ trình diễn trên sân khấu, trên các đài truyền thanh, truyền hình. Trong nước và ngoài nước. Thế mà Miền Nam bỗng dưng tan biến như trong một trò ảo thuật. Còn lại gì? Phải chăng chỉ còn cái nón sắt của người lính Cộng Hòa bại trận lỗ chỗ dấu đạn trên bờ lau sậy này?[4]

Không, Miền Nam vẫn còn đó, không chỉ trong văn thơ, âm nhạc. Anh nhớ mông lung.

Những năm mưa thuận gió hoà, được mùa liên tiếp, lúa đầy vựa, cây trái đầy nương, đầy vườn, đầy rẫy, cuộc sống no ấm, hạnh phúc. Những cánh đồng ngập nước sau mùa gặt, những người dân quê trên chiếc thuyền nhỏ lùa những đàn vịt hàng ngàn con không biết từ đâu đến. Những đàn vịt béo tốt, nhờ những nhánh lúa còn sót lại đầy đồng, đẻ không biết bao nhiêu là trứng. Người chăn vịt vô tình hay hữu ý hay vội vàng, để lại trên bờ ruộng, bãi cỏ, không ít những quả trứng màu trắng, màu xanh trước khi lùa đàn vịt qua những cánh đồng khác. Nhớ những ao hồ, những nhánh sông, cá lội từng đàn. Buổi chiều, thì chim về che kín mít cả bầu trời bến bắc Hậu Giang những lần anh có dịp đi Cần Thơ. Mới chiều tưởng đã tối.

Lại lan man qua nhiều chuyện khác, những chuyện có người cho là vớ vẩn, nhưng nó đóng một vai trò không kém quan trọng trong cuộc sống của anh. Chuyện thể thao chẳng hạn. Anh chơi vài ba môn thể thao, không hay ho gì, nhưng thích coi. Thích coi hơn những phim truyện tình cảm lâm ly bi đát. Anh say mê theo dõi thành tích thể thao của ta trên trường quốc tế. Nhớ đội bóng tròn từng đoạt giải cao quý nhất châu Á, giải Merdeka; nhớ đội bóng bàn từng đánh bại Tàu và Nhật đoạt chức vô địch châu Á, rồi vô địch giải đơn nam Quốc Tế Pháp Quốc, bây giờ gọi là giải Pháp Quốc mở rộng – một loại vô địch thế giới — với cây vợt Lê Văn Tiết. Từ Tiết liên tưởng đến Nguyễn Văn Châu, vô địch Nước Rút giải đua xe đạp châu Á. 21 năm trôi qua như giấc mơ. Born to amuse, to inspire, to delight/ Gone too soon … Vâng, ra đi quá sớm! Như người yêu vắn số. Mới đó. Như mới hôm qua. Bỗng dưng mùa hè năm ngoái? Lại liên tưởng đến vở kịch ngoại quốc nổi tiếng được chuyển thành phim chiếu trên nhiều rạp tại Sài Gòn thời anh còn ở tại Đại Học Xá Minh Mạng, Chợ Lớn. “Suddenly Last Summer”. Không, lâu hơn nhiều chứ. Mấy mươi năm rồi mà cứ tưởng như mới xẩy ra hôm qua. Vâng, bỗng dưng, cuối mùa xuân năm ấy.

Chưa hết! Không phải anh chỉ nhớ những thành tích vẻ vang mà thôi. Có chuyện “không lẫy lừng cho lắm” cũng nằm sâu trong ký ức. Cũng lại chuyện thể thao. Nhớ vận động viên Trần Văn Lý với môn chạy Marathon hơn 42 cây số tại một kỳ Thế Vận Hội. Có lẽ được dặn dò nước mình đã được độc lập hoàn toàn vậy phải tham gia những sinh hoạt trọng đại của Cộng Đồng Thế Giới. Cho nên hiện diện mới quan trọng, hơn thua là chuyện phụ. Nghĩa là không được bỏ cuộc. Trần Văn Lý đã đáp ứng một cách xuất sắc yêu cầu đó. Anh chạy nhịp nhàng, dẻo dai, thoăn thoắt, nhưng chân hơi ngắn, nên vận tốc “khiêm tốn”. Mặc những đấu thủ khác dẫn trước, hoặc qua mặt, hoặc bỏ cuộc; mặc những đứa bé đùa giỡn chạy theo anh vài đoạn đường ngắn, hoặc vượt qua anh rồi quay đầu lại nghịch ngợm đưa tay chào, anh cứ thế kiên trì và từ tốn chạy. Để duy trì sức lực, khỏi bị bỏ cuộc như nhiều người trước đó đã vượt anh và bỏ lại anh đằng sau rất xa. Các đấu thủ khác chạy trước anh càng lúc càng kéo dài khoảng cách giữa anh và họ trên con đường thăm thẳm, mù mịt. Rồi họ mất hút. Cuối cùng anh về tới đích. Một mình. Về hạng nào? Khó xác định quá. Trước anh không có một ai cả, thế là hạng nhất sao? Sau anh cũng không còn một ai, hạng chót chăng? Bên ngoài trời đã tối từ lâu. Bên trong vận động trường, đèn sáng choang. Khán giả không còn người nào ngồi trên khán đài. Vài người trong ban tổ chức kéo nhau đến chào đón anh. Trông họ không có vẻ sốt sắng.

Ngày vui qua mau. Hai câu thơ ngắn của một nhà thơ vắn số, vắn nhưng vẫn thọ hơn Miền Nam đến ba bốn tuổi, hiện lên trong tâm trí của anh nhiều lần:

Giờ vui đời có vậy

Thoảng ngày vui qua rồi[5]

Vui rồi buồn. Vui buồn lẫn lộn. Và chuyện buồn kể từ Tháng Tư Đen ấy thì làm sao mà kể cho xiếc nổi. Như nấm mọc kín cả rừng hoang sau cơn mưa đầu mùa. Như cỏ dại mọc đầy hồn sau cơn dâu biển. Anh không nén được tiếng thở dài.

“Hưng ơi. Làm gì mà ngồi thừ từ nãy đến giờ như vậy?” Tiếng nói của Tuỳ nghe buồn buồn sau cái vỗ nhè nhẹ lên vai anh.

Anh thảng thốt. Lúng túng:

“Tui … tui đang nhớ… Không, tui đang tập làm thơ.”

Lý bỏ dở câu chuyện với Cảo, quay qua chỏ miệng:

“Thì để yên cho thi sỹ làm … làm cái con khỉ gì thì làm. Làm xong, hô lên một tiếng thật to.”

Hưng buồn cười: “Để làm chi rứa?”

“Chẳng để làm chi cả. A, phải rồi, để anh em nghe tiếng hô to giật mình ngừng cãi cọ mà tập trung vào việc nghe thơ của cậu chứ. Nhớ đừng làm thơ con cóc.”

Hưng cười trừ thấy lòng ấm áp lại đôi chút. Cái anh chàng Lý này tếu thật, mở miệng ra là đốp chát. Anh lan man nghĩ tiếp. Nào có khác tụi nó, mình cũng là một cuốn chỉ vấn vít, mở mối ra là kéo dài lê thê. Chỉ khác, độc thoại và đối thoại. Trong suốt những quãng đời đi học, khó quên nhất là thời Trung Học. Đúng thôi. Tiểu Học con nít biết gì. Đại Học nhiều lo toan. Chỉ Trung Học là những ngày vui hồn nhiên nhất, là bạn bè, là thương, là ghét, là nhớ, là giận, là làm lành. Là bên nhau lâu nhất, suốt 7 năm trời. Nay đã lớn tuổi, mỗi người có cuộc đời riêng, đi con đường riêng, gặp lại nhau bỗng thấy trẻ lại như xưa, còn muốn trẻ hơn nữa. Sung sướng sống lại những ngày cũ, nhắc nhở những kỷ niệm đã cùng nhau san sẻ.

Ngày xưa … hồi đó … hồi đó … Thầy này mặt lạnh như tiền, không hề nở nụ cười trên môi; thầy kia không dùng khăn lau bảng, hai bàn tay luôn luôn dính đầy phấn xóa xóa cái bảng đen; thầy khác thường để vài phút cuối giờ kể chuyện vui làm học trò cười tít mắt mà thầy tỉnh bơ, đôi ria mép khẽ nhúc nhích; thầy nọ hút thuốc lá liên miên, môi và ngón tay trỏ, ngón tay giữa vàng khè. Lớp này vô địch đá banh; lớp kia giỏi ca hát, đóng kịch; lớp nọ có nhiều thằng học gạo mặt mày xanh như tàu lá chuối. Lại có thằng mặt mâm đầy mụn, miệng mủ mít không bao giờ dám hó hé lên tiếng; thằng lém lỉnh nói không ngớt miệng, không cho lưỡi mọc da non; thằng đầu tóc bù xù muôn năm như tổ quạ, hôi như cú; thằng Bộ Trưởng Bộ Gương Lược lại thơm tho chải chuốt, khách khí; thằng được mệnh danh “anh chàng người Việt gốc Lào”, vì có cái sẹo trên màng tang giống bản đồ nước Lào … Hoặc vào những năm cuối Trung Học, có con gái từ trường khác được gởi đến học chung lớp, ngồi bàn trước, với những mái tóc thề đen mướt đổ dài xuống vai, xuống lưng, như nước chảy tuột, nhột nhạt, ngứa ngáy, những đôi mắt ướt đong đưa long lanh, những tiếng nói thì thầm e thẹn, những nụ cười ríu rít, khúc khích, và đặc biệt là cái mùi hương thoang thoảng như son phấn mà không phải son phấn. Và những mối tình thầm lén, một chiều, ngây ngô.

Bỗng tiếng Cảo nói vang vang trong “giấc mơ ngày” của Hưng:

“Chuyện của tụi mình không bao giờ nói cho hết nổi. Bây giờ tôi đề nghị nghỉ trưa một chút cho khỏe. Ngủ dậy ta lại tiếp tục. Anh em đồng ý nhé.”

Mưa bên ngoài đã ngớt. Năm người nằm la liệt trong phòng khách. Chiếc giường rộng lớn trong phòng ngủ bỏ trống. Quạt máy êm êm, tiếng nhạc nhè nhẹ. Không mở máy lạnh. Tất cả các cửa sổ đều mở toang, mọi người thích thế. Có lẽ để khói thuốc lá loãng đi bớt, gió biển lùa vào. Và cũng để nghe tiếng chim lanh lảnh đối đáp nhau sau cơn mưa nhanh, tiếng sóng biển rì rào trò chuyện, thỉnh thoảng rộ lên cười theo cơn gió.

Lý lim dim mắt, nằm ngửa người chiếc “ghế chữa tê thấp”, lưng ghế hạ xuống thấp, chỗ tựa chân nâng lên cao, rung rung. Cảo, chủ nhà, nằm gác chân chữ ngũ trên chiếc đi văng, chốc chốc nhổm người dậy, rón rén đi quanh, nhìn quanh, rồi trở lại nằm. Tùy ngã người trên chiếc ghế dài đọc báo. Hưng, Phùng, hai người nằm cạnh nhau trên hai tấm trải dùng để tập thể dục. Hưng không chợp mắt nổi, nằm yên nghĩ ngợi và nghe tiếng thở đều đều của Phùng.

Chỉ mới khoảng nửa tiếng đồng hồ, Lý đã nhổm người dậy, lên tiếng:

“Giấc ngủ trưa rất tốt cho sức khỏe. Nhưng kỳ quái thật, nãy giờ cố ngủ mà vẫn không sao ngủ được.”

“Tại ăn no quá,” Tùy ngừng đọc báo nói.

Lý đáp:

“Không phải. ’Ăn no, ngủ kỹ’ hai cái đó luôn luôn đi đôi với nhau. Đằng ngày … Có lẽ tại … lâu ngày gặp nhau, vui quá. Nhưng vui quá ngủ không được, mà buồn quá cũng ngủ không được.”

Phùng đã tỉnh dậy, lẩm bẩm:

“Triết lý ba xu.”

Lý đáp: “Thằng Phùng mới mở mắt ra đã lếu láo. Câu nhận xét của tui đâu phải triết lý. Mà triết lý là cái con khỉ gì tui cũng chả biết.” Hất hàm nhìn Phùng, nhíu mày, ngẫm nghĩ. “Không ngủ được là phải. Cách đây đã lâu, bao nhiêu năm rồi chẳng nhớ rõ, tui Quảng Nam ra Huế học. Đến kỳ nghỉ hè sắp sửa lên xe lửa về quê sung sướng vô cùng. Lòng rộn lên như bắp rang trong trách cát nóng, nhảy lưng tưng, nổ lách tách.” Lên giọng ngâm:

Một nét mặt, trăm tiếng cười rộn rã

Lời trên môi chen chúc nói nghìn câu

Chờ đêm nay; sáng sớm bước lên tàu

Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ

Trong khoảnh khắc sách bài là giấy cũ

Nhớ làm chi. Thầy mẹ đợi em trông

Trên đường làng huyết phượng nở thành bông

Và vườn rộng nhiều trái cây ngon ngọt

“Ui chao là nhớ. Cái thời gian ấy, tuy ngắn ngủi, không nghe tiếng súng nổ, muốn đi đâu thì đi, nhất là được đi bằng xe lửa, không sợ bị đặt mìn, đi đến những làng xa, không sợ bị chận lại thu thuế.” Xoay qua Hưng. “Và bài thơ còn có mấy câu đầu, mấy câu cuối nữa, quên mất. Và tác giả là ai cũng quên mẹ nó luôn. Hưng nhớ không?”

Hưng đáp: “Cái anh chàng Lý này cứ ỡm ờ mãi. Ngâm tiếp đi cho hết đi, còn làm bộ quên. Ốt dột hả?”

“Thiệt mà. Tui quên thiệt mà. Hì hì.”

Hưng hít một hơi thuốc dài rồi đáp gọn lỏn:

“Tui cũng quên.”

“Thôi, đừng đùa dai nữa. Không nói, đây đách thèm nghe.”

Hưng sửa: “Nếu tui không nói, cậu làm sao nghe được mà bảo đách thèm nghe. Hình như thơ của một chàng thi sĩ tiền chiến cũng Quảng Nam như cậu. Có lẽ Nam Trân, Xuân Tâm thì phải, tui chỉ nhớ có thế.”

“Tốt, tốt.”Lý tiếp. “Của ai cũng chẳng sao, miễn là Quảng Nam. Đúng quá, Ăn chẳng được, lòng nôn nao khó ngủ.”

Tùy đặt tờ báo xuống ghế dài, la lớn:

“Hồi trưa tụi mình ăn như những con ma đói. Làm gì có chuyện ‘oăng choẳng đoặng’”.

Lý cười phá: “Lại muốn học nói tiếng xứ Quảng của tui hả? Đâu dễ. Phải nói: ‘Eng chẻng đẹng.’”

Cảo đứng dậy, bước qua bàn bên cạnh nhìn lại các thứ, và nói:

“Ngủ không được tại sao phải ép giấc ngủ. Đồng ý bỏ giấc ngủ trưa này nhé!”

Mọi người cùng ngồi hẳn dậy. Kẻ vươn vai, người xoa tay, xoa mặt, kẻ đứng vặn mình kêu rốp rốp, người lắc lắc cái cổ cũng kêu răng rắc. Cảo lại nói:

“Cà phê, trà đều có sẵn.” Hướng về phía nhà bếp. “Chị Hoa! Mang thêm phích nước sôi, và nhiều đá cục. Trái cây, bánh ngọt, chè, cũng dọn ra luôn. Rồi cho chị về, chiều nay khỏi tới.” Quay qua nói với bạn. “Tôi đề nghị chiều nay khỏi ăn cơm nhà. Mời anh em đi ăn tiệm.”

“Thức ăn còn nhiều quá,” Phùng lên tiếng. “Để ăn tiếp, đừng lãng phí.”

Lý cướp lời: “Thằng Phùng tém tủm như mụ đàn bà. Không được. Phải tôn trọng ý kiến của đại gia, tối nay ta đi ăn ngoài.”

OK, OK. Mọi người hưởng ứng.

Cảo bảo: “Mời các bạn uống cà phê cho tỉnh người. Nhấm nháp thêm vài món, xong, ta đi quanh vùng chơi nhé. Còn sớm chán.”

Tùy nói: “Nhớ tới coi mấy khu nhà của Tàu Khựa.”

Phùng nhắc: “Tôi nhớ đó là khu vực nguy hiểm, cấm vào. Coi làm sao được.”

Lý bẻ: “Thì đứng xa dòm vào. Đơn giản có thế mà không biết. Răng tối dạ rứa. Ngoài ra, còn nơi nào đáng tới nữa không, bạn Cảo?”

“Còn chứ”. Cảo trả lời. “Còn nhiều nơi. Chẳng hạn khu Nước Ngọt …”

“Hình như,” Tùy góp ý, “Nước Ngọt là ở Miền Trung, gần miệt Ba Ngòi, Hòn Khói, Sa Huỳnh, thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi gì đó. Ngoài đó Tàu nó cũng tới khá nhiều. Trước khi vào Sài Gòn, tôi có qua đó.”

Phùng lẩm bẩm: “Cái tụi Tàu thật là …”

Lý ngắt lời Phùng: “Bạn Tuỳ ơi, vùng này cũng có một nơi tên là Nước Ngọt gần ngay đây. Nhưng xin có ý này. Hồi sáng có thằng Thái vui nhộn hẳn lên nhờ nó luôn miệng chửi thề. Còn lại năm đứa mình chẳng thằng nào biết chửi thề cả. Mà cứ cố chửi thề nghe chả ra cái khỉ gió gì cả. Chi bằng nói kiểu khác.”

Tùy bẻ: “Cứ tự nhiên mà nói. Cần gì kiểu cọ này nọ cho nó mệt.”

Lý nói bô bô: “Tui đã có chủ ý, từ nãy đến giờ mà có ai biết đâu. Thế này nhé, thiếu thằng Thái tụi mình giống như con mèo bị cắt tai. Tại sao vậy? Tại nó luôn miệng chửi mà mình không biết chửi, tui xin lặp lại. Thì đấu láo cách khác vậy. Anh em chịu không?” Ngừng nói, chờ, chưa thấy ai trả lời, vội nói tiếp. “Chẳng hạn để cho xôm trò, tui xin đóng vai hoạt náo viên. Mà chuyện hồi trưa nguội điện rồi, không hâm lại nữa, nói chuyện khác vui hơn.”

“Chuyện gì?” Cảo hỏi.

“Chuyện gì hả? Sẽ tính sau. A, xin thêm cái ý kiến hay ho này nữa, là tui sẽ chỉ định người nói, ai nói trước, ai nói sau. Như vậy không ai có thể trốn tránh nhiệm vụ của mình. Như bạn Hưng nãy giờ chẳng hạn. Ê Hưng, sao hôm nay ăn phải chi mà cậu câm miệng hến lâu quá vậy?”

Mọi người nhìn nhau, có vẻ chưa hoàn toàn đồng ý với Lý. Lý đã nói tiếp:

“Im lặng là đồng ý. Bây giờ ta hãy bắt đầu. Bạn Cảo chủ nhà, nói đi. Tiên vi chủ.”

Cảo cười dễ dãi: “Được thôi, nhưng nói cái gì nào? Xin nói đại một chuyện, chuyện ăn tối nay. Các bạn ở xa tới, phải ăn những món đặc biệt của vùng này. Xin các bạn cho biết muốn ăn gì? Đồ ăn Nhật, Tàu, Ý, Pháp, Ấn Độ, hay ngay cả Ả Rập, Nam Mỹ, Ba Tây, Á Căn Đình đều có ở Vũng Tàu…”

Lý chận: “Ba Tây, Á Căn Đình là cái con khỉ gì? Bây giờ nói thế không ai hiểu đâu.”

Cảo tiếp: “Không hiểu ráng chịu. Dĩ nhiên chưa kể có rất nhiều quán cơm hải sản Việt Nam ngon hết biết. Đây ra đó chạy xe không tới nửa tiếng. Đấy, chuyện của tôi chỉ có thế. Chốc nữa có gì tui sẽ nói tiếp.”

Lý cười: “Bạn Cảo tôi rồi tui loạn xà ngầu. Và cứ mày tao như hồi trưa nghe lọt lỗ tai hơn. A mà tui bây giờ là hoạt náo viên, lèo lái buổi họp mặt, tức là coi như chủ tịch. Thì phải có tôn ti trật tự. Nhưng ăn uống nghe hấp dẫn quá. Tuy nhiên, tuy nhiên … cái ăn cái uống là đồ bỏ. Gặp nhau chuyện trò mới là đáng kể thôi …”

Hai ba người nhao nhao: “Nhớ đấy, nhớ đấy. Tối nay ông Lý Toét sẽ nhịn đói.”

Lý lập nghiêm: “Đừng làm ồn. Im nghe đây. Ta chỉ cần tìm nơi nào có thể ngồi lâu, yên tĩnh, nói chuyện thoải mái. Bây giờ đến phiên …” Lý đưa ngó tay trỏ chỉ từng người một, cuối cùng dừng lại nơi Tùy. “Tới phiên bạn Tùy, thằng Tuỳ. Nói đi. Nói chuyện khác. Không được nói chuyện chính chị chính em, hay chuyện ăn nữa.”

Tùy phân vân: “Lôi thôi quá nhỉ. Nói cái gì đây? Hay để tôi sẽ kể vài câu chuyện hồi bé, những kỷ niệm trước khi di cư vào Nam…”

Bỗng Phùng cự nự: “Tui không đồng ý cái kiểu của Lý. Ai ngứa miệng, nói. Nói trước, nói sau, tùy. Nói gì thì nói. Mới vui.”

Tùy, như trút được gánh nặng, cười:

“Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn Phùng.”

Lý cãi: “Nhưng các bạn đã nhất trí cách sắp xếp của tôi …”

Phùng không chịu thua, ngắt lời:

“Đã có ai nhất trí đâu. Đừng cả vú lấp miệng em.”

Lý lý sự: “Trật. Moa đàn ông lấy vú đâu để lấp vào miệng toa. Còn muốn làm em hả, thì ta chấp thuận.”

Hưng góp lời: “Cụ Lý nói nghe thủng cái lỗ tai quá.”

Lý cười: “Không dám, mô dám. Cám ơn.”

Hưng tiếp: “Nhưng mà này cụ Lý ơi, tui có điều muốn nói với các bạn, chẳng hiểu cụ có cho phép hay không. Hồi nãy ngồi nghĩ luẩn quẩn bỗng nhiên tui nhớ bài hát tiếng Anh, ‘Gone Too Soon’.”

“Cấm nói tiếng ngoại quốc ở nơi này,” Lý làm bộ nổi nóng. “Nhất là cái thứ tiếng của bọn đế quốc xâm lược. Nhưng đã lỡ, cho thông qua. À mà ‘Gone Too Soon’ là cái con khỉ gì?”

Tùy cười: “Ông tuổi thân hả, cái con khỉ cứ dính vào miệng hoài vậy.”

Lý vờ như không nghe, quay qua Hưng:

“Khi không … tự nhiên … xổ tiếng Anh. Ê, Hưng, toa trước kia là thầy giáo tiếng Anh, thử dịch nó ra tiếng Việt xem nào?”

Hưng vui vẻ: “Là ‘Đi Sớm Quá,’ là ‘Ra Đi Sớm Quá’, là … là ‘Chết Sớm Quá.’”

Lý chau mày: “Lạc đề.”

Hưng cãi: “Đã bảo nói chi cũng được thì có đề đâu mà lạc. Tui muốn nói Miền Nam chúng ta …”

Lý chận ngang: “Lại muốn trở lui câu chuyện hồi trưa? ‘Chạy trời không khỏi nắng’ hả Hưng?”

Tùy nhanh nhẩu: “Để bạn Hưng nói cho hết câu đi nào. Tôi để ý thấy hình như thằng Hưng có cái bầu tâm sự đang muốn thổ lộ …”

Lý cười khoái trá: “Thì cứ việc xổ ra ngay đây đi. Khỏi cần vào toa lét.”

Tùy nhăn mặt: “Tiếc là không có thằng Thái ở đây. Cậu rất đáng được nó chửi cho nhẵn cái mặt mo. Này các bạn, theo tôi, nói gì thì nói rồi cũng không làm sao tránh được chuyện thời sự đang nóng bỏng.”

Lý ỡm ờ: “Thế à. Vậy cậu nói đi. Coi như tới phiên cậu. Hay đúng hơn, ai muốn nó gì thì nói, nói trước nói sau không thành vấn đề. Phải không Phùng?”

Hưng vui vẻ nhìn Lý nghĩ thầm. Cái thằng Lý này tếu thật. Cái gì nó nói cũng trôi. Lại cố ý cù nhầy, cù cựa, cù cưa. Lý như bị nhột, quay lại quắc mắt nhìn Hưng:

“Toa muốn được phép nói trước hả? Không răng mô, cứ việc. Ở Pháp, ở Paris, chắc có nhiều chuyện ly kỳ gay cấn mà.” Cười hì hì. “Bạn Tùy bằng lòng cho toa nói trước rồi đó, phải không Tuỳ? Tuỳ sẽ nói chuyện ở Úc tiếp. Hai thằng ở xa về tha hồ nói dốc.”

Hưng đáp. “Tui sống tại Pháp, nhưng đang muốn đi nơi khác đây.”

Mọi người ngạc nhiên, cùng ồ lên một tiếng.

“Yên nào, yên nào. Tui sẽ nói lý do sau. Nhưng vấn đề là đâu phải muốn là được. Trước kia khi tới được một hòn đảo nào đó, mình có thể chọn lựa một nơi định cư một cách dễ dàng. Người ta muốn cứu vớt mình mà. Nay …nay … ván đã đóng thuyền. Với lại thủ tục di trú khó khăn, phiền toái, phức tạp, điều kiện này, điều kiện nọ, tiền bạc, lý lịch. Thôi thì đủ mọi thứ rầy rà, rắc rối. Không chừng suốt đời phải ở lỳ một nơi. Hơn nữa …”

Lý chận ngang: “Răng rầy rà rắc rối rứa?”

“Sao cứ chận họng người ta hoài vậy?”

“Thì không chận nữa, nói lẹ lên đi. Để thì giờ cho người khác nói nữa chứ. Hồi nãy thì câm, bây giờ thì muốn độc quyền nói hay sao? Hả, hả?”

Hưng làm bộ cự nự:

“Cậu phá đám quá làm tui cụt hứng. Không nói nữa.”

Thật ra, Hưng chưa biết phải trình bày như thế nào về chuyện anh muốn rời bỏ nước Pháp, nơi đã mở rộng tấm lòng, mở rộng hai tay, đón nhận gia đình anh những ngày đầu tiên bơ vơ.”

Lý tiếp̣:

“Toa mà cứ lộn xộn hoài, moa sẽ từ chức chủ tịch cho mà coi.”

Phùng chen: “Chủ tịch cái gì vậy?”

Lý cười nhăn nhở:

“Chủ tịch Đại Hội hôm nay.”

Phùng không tha: “Có năm ngoe mà cũng Đại Hội, Đại Hiếc.”

Tùy bồi thêm: “Xin can, xin can. Xin ngài đừng từ chức chủ tịch.” Quay qua Hưng. “Nhưng tôi cũng lấy làm lạ. Cậu đang sinh sống yên ổn tại Kinh Đô Ánh Sáng lại tính chuyện này nọ. Tại sao vậy?”

Mọi người quay nhìn Hưng. Anh lúng túng. Cảo thúc giục:

“Kìa Hưng, tại sao?”

Hưng vói tay vớ bao thuốc lá và cái bật lửa. Đốt thuốc xong, cầm mãi điếu thuốc trong tay, rồi nhìn Cảo, nhìn Tuỳ. Lý nhanh nhẩu:

“Hưng bí lù rồi à? Hay có cái chi trong bụng không tiện nói ra, không dám nói ra? Không sao, để tui thử tìm cách gỡ rối cho nghe. Là thế này. Mỗi bạn hãy nêu lên ý kiến của mình về chuyện tại sao Hưng muốn … muốn tính chuyện ‘lày lọ’ như lời thằng Tuỳ đã ‘lói núc lẫy’…”

“Ê,” Tuỳ cải chính, “Tao không nói ngọng đâu.”

“Không sao,” Lý đáp. “Không răng mô. Ngọng hay không ngọng, sao hả Hưng, ‘thơm thúi cũng cùng một nghĩa như nhau’. Thôi, tất cả câm miệng, để tui nói tiếp. Cuối cùng bạn Hưng sẽ chấm điểm xem ai là người nói đúng ý mình nhất. Cái trò ‘sờ mu rùa đoán mò’ này chắc là vui lắm. Các bạn tha hồ tưởng tượng, thêu dệt, vặn vẹo đủ thứ. Bây giờ, em Phùng của tui nhỏ tuổi nhất được phép bắt đầu.”

Phùng nhún vai:

“Cái trò này, theo tui, khó chơi lắm. Và cũng chả hay ho gì. Ngoài ra, ai ngứa miệng, cứ nói. Việc gì phải chờ ông anh chỉ định.”

Lý bô bô: “Thì khỏi phải chỉ định vậy.”

Tuỳ chắc lưỡi: “Cứ để bạn Hưng nói toẹt ra ngay mọi chuyện là gọn nhất.”

Lý gân cổ: “Bạn Tuỳ quên rằng tui là chủ tịch mà. Phải theo cách sắp xếp của tui.” Đứng dậy, chỉ tay vào trán ra chiều suy nghĩ lung lắm. “A nhớ ra rồi, chơi trò xù xì vậy.”

Hưng hỏi: “Xù xì là cái gì?”

“Dân Huế đẻ ra cái trò xù xì mà còn làm bộ hỏi hả?”

“Không biết thiệt mới hỏi chớ.”

“Là thế này. Khi có hai thằng cà khịa tranh giành nhau cái gì đó, nhất định không ai chịu nhường ai, thì xù xì cho ‘công bằng’. Thằng nào lanh tay, lẹ miệng, sẽ chỉ vào mình trước, rồi chỉ vào thằng kia, miệng thì hô lia lịa, cứ hô một tiếng chỉ một phát: Xù xì xụt xịt/Hột mít lùi tro/Ăn no té … Chữ cuối cùng thúi lắm, không tiện nói ra đây. Lẽ dĩ nhiên tiếng cuối cùng sẽ rơi vào thằng kia, thì coi như thằng kia thua.”

Tùy thắc mắc: “Nhưng bọn mình năm người chứ đâu phải hai.”

Lý đáp: “Không sao cả, mấy người cũng được. Thằng nào nhanh tay giành xù xì trước, nghĩa là vừa hô vừa chỉ vào mình trước. Tiếng cuối cùng sẽ rơi vào ai nấy chịu, nhưng chắc chắn không rơi vào thằng đầu tiên.”

Mọi người đều thử chỉ chỉ, hô hô. Bỗng Tùy la lớn:

“Không xong rồi. Thằng nào cũng đòi chỉ vào mình trước để thắng, lại tranh nhau, ai ở đó mà phân xử.”

“Rất dễ,” Lý cù nhầy. “Đã có chủ tịch là tui quyết định. Mà ủa, thằng Phùng đâu rồi hè?”

“Nó vào toa lét,” Cảo đáp.

Lý cười khoái trá: “Vào đó để ăn hay uống.” Làm bộ ngẫm nghĩ. “Hay lại muốn độc quyền cả hai cho sướng cái thân.”

Tùy nói móc: “Tôi biết Phùng nó quý ông anh của nó lắm. Chắc chắn nó để dành công việc ‘cả hai’ đó cho bạn Lý.”

Mọi người lại cười vang. Lý vờ giận:

“Ê, cái anh chàng Tùy kia! Không được xỏ xiên! Còn mấy người này nữa. Tui cấm các bạn không được ‘vén môi’ lên mà cười ‘tồ tồ’. Vô duyên!”

Nhưng hồi trưa nay, nằm trên tấm nệm mỏng trải lên sàn nhà, thỉnh thoảng nghe văng vẳng tiếng chim hót, tiếng sóng biển xa, và tiếng thở đều đều của Phùng nằm bên cạnh, anh còn nghĩ ngợi lung tung và nhớ miên man. Lộn lui, lộn tới. Như người ghiền thuốc lào nhớ ống điếu, đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.

Nhớ lại thời gian còn ở quê hương, những năm tháng hoang mang, hãi hùng. Bằng mọi giá, phải thoát ly. Làn sóng vượt biên nổi lên cuồn cuộn. Như cơn sốt, như điện giật, như truyền nhiễm. Hai vợ chồng anh và đứa con gái, cũng như rất nhiều người Miền Nam, đã chọn lựa: “Tự Do hay là Chết”. Trước kia, trong lần di cư từ Bắc vào Nam, thì “Đi để chọn Tự Do”. Khẩu hiệu này được viết cả bằng tiếng Pháp, được treo nhiều nơi, được viết lên trên sườn tàu: “Partir c’est choisir La Liberté”.

Những buổi tối mưa gió, đói khát, ướt mèm, lạnh buốt. Gai gốc, sỏi đá, đâm vào chân, vào tay, vào đầu, vào người. Lặn lội qua những đám lau sậy, tràm, đước, trên những vàm sông, những bãi biển hoang vắng. Tìm đến những điểm hẹn thường thay đổi, đến chiếc ghe nhỏ ọp ẹp để chở đi qua ghe lớn. Nhiều lần đổ bể, tù tội, không nản lòng. Khi tiền bạc không còn, hai chiếc nhẫn cưới cũng phải mang đi bán, hết chỗ vay mượn, hết đường xoay xở, thì cái may mắn đến. Tới được ghe lớn, cũng ọp ẹp, mỏng manh, và cũng không lớn bao nhiêu như tên gọi của nó. Thế là mọi người, như những con thiêu thân thấy lửa, nhào lên. Không còn hơi sức đâu mà ngó ngàng đến tình trạng thê thảm của chiếc ghe. Chen chúc nhau, chật như nêm, quá tải nhiều.

Ra được hải phận quốc tế, vui mừng tưởng như đã thoát hiểm. Nhưng rồi lênh đênh mãi trên biển cả, chìm nổi trong bão tố. Sau mấy tuần, ghe hỏng máy, bánh lái gãy, la bàn liệt, mất phương hướng. Dần dà hết thức ăn, và nhất là nước uống. Một số trẻ con, người già kiệt lực, chết. Xác bị đẩy qua khỏi mạn thuyền. Có những người lớn lao xuống biển chết theo. Cứ thế kéo dài trong nhiều ngày. Thuyền nhẹ bớt, người ít dần, nhưng cái đau đớn gia tăng lên mãi. Rồi buông tay, tuyệt vọng. Chỉ còn mong một điều, chết thế nào cho nhanh chóng. Bỗng một đêm không trăng không sao, trời biển kết thành một khối khổng lồ, đen đặc, rùng rợn, thì không ai ngờ, chiếc ghe bé nhỏ, tả tơi, theo đuôi cơn bão giạt vào một hòn đảo.

Thanh lọc. Chọn lựa. Sẽ được đưa đến đâu trong những nước đang có người đại diện và sẵn sàng tiếp nhận người tỵ nạn Việt Nam? Anh, Đức, Pháp, Mỹ, Úc, Gia Nã Đại, vân vân, hay ba nước Bắc Âu Thụy Điển, Na Uy, Đan Mạch? Cuối cùng hai vợ chồng phân vân trong chọn lựa giữa Mỹ và Pháp.

Pháp? “Mẫu quốc” từ phương Tây đến xâm lăng và đô hộ hơn 80 năm, một chủ nhân ông thực dân, keo kiệt, tàn bạo, bóc lột. Nhưng cũng có để lại những dấu ấn chưa phai mờ.

Mỹ? Cũng từ xa xôi khi không nhảy vào giúp đỡ. Giàu có, trẻ trung, hào phóng, xài tiền như ném qua cửa sổ. Rồi nửa chừng bỏ ngang xương, để lại những vết thương trí mạng.

Anh giở lại trong trí từng trang sử đau thương của đất nước.

Ta, khác hẳn với các nước khác trên thế giới. Vừa mới thoát vòng nô lệ đã bị sử dụng như con cờ thí trên bàn cờ quốc tế. Trên một đấu trường mới, trong cái xu thế “giải thực” đang xẩy ra rầm rộ khắp nơi từ Á châu, sang Trung Đông, sang Nam Mỹ sau Thế Chiến thứ hai, Pháp dù muốn cũng không thể duy trì mãi nền đô hộ trên đất nước ta. Nhưng Pháp khác Anh. Anh có nhiều thuộc địa nhiều hơn Pháp, “mặt trời không bao giờ lặn trên Đế Quốc Anh”, thế nhưng đã thức thời, nhanh chóng và dứt khoát trả lại độc lập cho tất cả thuộc địa mênh mông của họ. Không những thế, trước khi trao trả, Anh còn quan tâm đến công việc trợ giúp và xây dựng bước đầu cho những quốc gia non trẻ vừa mới có chủ quyền. Pháp thì dằng co, tiếc nuối, không chịu buông tay ra ngay.

Trong hoàn cảnh đó, toàn dân Việt Nam vùng lên chống Pháp từ năm 1945. “Phe Quốc Gia” quy tụ được một số nhà cách mạng, nhà yêu nước, kể cả nhiều vị từng bôn ba nhiều nơi trên thế giới. Họ có nhiệt tâm, hy sinh, nhưng hoạt động lẻ tẻ, thiếu tổ chức. Trái lại, “Phe Cộng Sản” được tôi luyện và có kinh nghiệm lâu ngày trong chiến đấu, lại được cả khối cộng sản khổng lồ đứng đằng sau yểm trợ. Họ cũng chống Pháp nhưng trước hết họ tìm mọi cách lọai trừ những ai có chính kiến khác họ. Họ chụp mũ Việt gian cho tất cả những nhà yêu nước khác họ. Họ chỉ muốn Việt Nam nằm trong khối cộng sản quốc tế. Tổng Bí Thư Lê Duẩn của Đảng Cộng Sản Việt Nam từng nói ta đánh Pháp, đánh Mỹ là đánh cho Trung Quốc và Liên Sô. Đối với họ, Đảng đứng trên tổ quốc.

Phe “Quốc Gia” dần dần bị tiêu diệt hết. Có người kịp trốn ra nước ngoài tiếp tục đấu tranh, có người hợp tác với Pháp với mong muốn Pháp sẽ theo xu thế của thời đại trả lại độc lập và toàn vẹn lãnh thổ kể cả vùng Nam Kỳ và biển đảo. Pháp không thể làm khác, từng bước thực thi việc trao trả độc lập, một cách khá chậm chạp, cho Việt Nam do phe Quốc Gia lãnh đạo. Trong khi đó, phe Cộng Sản tiếp tục đánh Pháp cho đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, kết thúc Chiến Tranh Đông Dương lần thứ nhất. Đất nước chia đôi dù Việt Nam Cộng Hòa nhất định không ký kết hiệp ước.

Pháp rút lui, Mỹ nhảy vào. Mỹ không có nhu cầu chiếm đất, chỉ muốn “be bờ” ngăn chận làn sóng đỏ đang lăm le tràn ngập Đông Nam Á, và Úc Châu, đã gởi đến Cố Vấn và vũ khí. Miền Nam trong giai đoạn này đã trở thành một nước có kỷ cương, có độc lập, độc lập hoàn toàn, và được hơn 90 nước trên thế giới công nhận. Miền Nam nỗ lực xây dựng đất nước, tương lai ngày càng tốt đẹp. Nhưng Miền Bắc Cộng Sản không để yên, quyết tâm thôn tính Miền Nam với sự yểm trợ lớn lao của Trung Cộng, Liên Xô, và Đông Âu. Có thể kể thêm Cuba. Trước tình thế ấy, Mỹ cùng một số nước đồng minh mang quân đến, gia tăng viện trợ quân sự cho Miền Nam.

Thói thường, kẻ giúp đỡ không mấy nể nang kẻ được giúp, kẻ được giúp cũng nhìn người “đồng minh hùng mạnh” bằng con mắt ngại ngùng. Để đánh bóng bộ mặt của mình, kẻ giúp đỡ cố tình phủ nhận những công lao, những hy sinh xương máu của kẻ được giúp đỡ. Rồi truyền thông Mỹ, cũng theo chiều hướng ấy, loan tin quân đội Miền Nam không chịu tích cực tham chiến. Trên thực tế, có rất nhiều đơn vị của quân Cộng Hoà đã chiến đấu vô cùng gan dạ, bền bỉ, anh dũng, khiến cho cố vấn Mỹ phải thán phục.[6] Và lẽ dĩ nhiên số thương vong lên quá cao. Đây là một ví dụ. Trong trận cuối tại Xuân Lộc tháng tư năm 1975, chỉ trong vòng một tháng, 90% của quân số hơn 500 người thuộc Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân đã hy sinh vì tổ quốc.[7] Thương vong bên phía địch càng khủng khiếp. Trong trận chiến thắng vang dội của quân đội Miền Nam tại An Lộc năm 1972, sau 93 ngày đêm tử chiến, số tử trận về phía Cộng quân tấn công lên đến trên 10 ngàn người, tức là xấp gần 10 lần so với phía quân Cộng Hoà trấn thủ. Trận chiến Cổ Thành Quảng Trị cũng năm 1972 là một ví dụ khác. Và trước đó, ngoài nhiều trận ác liệt khác, trận Mậu Thân 1968 mà Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa đảm nhận vai trò chủ chốt, theo báo cáo đã được bạch hóa của phe Cộng, có đơn vị Cộng quân khi ra đi quân số trên 2000, khi kết thúc trận đánh, còn lại 30 người. Một nhà thơ lớn của Đảng Cộng Sản Việt Nam, lúc gần cuối đời đã viết một bài thơ đề cập đến số tử vong kinh hoàng ấy như một ăn năn muộn màng – bài thơ Ai? Tôi![8] Những trận đánh quá ác liệt, số thương vong quá lớn lao, làm mọi người sửng sốt bàng hoàng.

Bên nhau trên 10 năm, cuối cùng người “bạn đường” của chúng ta giã từ. Tại sao thế? Vì lý do gì? Anh suy nghĩ mãi không biết đâu là môn, đâu là khoai. Bạn của ta vốn nóng nảy, trận chiến lại kéo dài quá lâu, sốt ruột, cuốn gói? Hay là mệt mỏi trước một kẻ địch không có gì đáng sợ nhưng quen lì lợm, chịu đựng? Thì cũng gần như lý do vừa nêu. Dù sao đi nữa, ta chỉ còn có ta, thiếu khí giới, đạn dược, gồng mình chống chỏi. Cái kết quả bi thảm khó tránh nổi lởn vởn như ma trơi trước mắt. Ô, không răng mô. Trước khi Mỹ rút quân về nước, để lại cho Việt Nam Cộng Hòa tất cả lãnh thổ Miền Nam mà Pháp đã để lại, nhưng Cộng quân lại được quyền không rút quân, với ký kết ai ở yên nấy, chờ ngồi lại với nhau “động khẩu” chớ không “động thủ”. Thật ra, Cộng quân chỉ chiếm được rất ít đất đai tại rừng núi và đồng bằng. Nhưng bên địch có bao giờ tôn trọng những cái gọi là ký kết đâu. Cũng không răng mô, đã có lời hứa hễ địch vi phạm hiệp ước, bạn ta sẽ trở lại ra tay liền một khi. Chột dạ. Lỡ bạn ta vô ý quên lời hứa?

Phải chi ta biết sớm đứng trên đôi chân của ta! E cũng không ổn. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, ta không cho phép lực lượng ngoại quốc nào nhảy vào can thiệp. Nhưng ta chỉ có hai chân, bên địch có hai dãy chân rết. Nếu húc nhau, ta ngã. Thế giới bây giờ, mà thế giới ngày xưa cũng thế, bị qua phân, như quả dưa bị bổ ra mấy miếng. Ta phải nằm trên một miếng nào. Khối Cộng Sản viện trợ nhiều mặt cho Bắc Việt. Tài liệu được bạch hóa tiết lộ có 320 ngàn quân Trung Cộng phục vụ cho hậu cần Miền Bắc, và nhiều đơn vị không quân, phòng không của Liên Xô và Cuba được điều đến giúp sức. Cho nên độc lập không xong, phải liên lập, mới tồn tại. Đệ Nhất Cộng Hoà bị tiêu diệt vì không chịu liên lập chăng? Thì sau đó ta thoải mái và tích cực liên lập. Ta đứng phe đồng minh của Thế Giới Tự Do chống khối Cộng Sản.

Anh buồn bã châm thêm điếu thuốc, lặng lẽ nhìn những bức tranh treo trên tường. Toàn là tranh tĩnh vật, anh ngạc nhiên. Trong cuộc sống để đạt tới cái gọi là “đại gia” của mình, có lẽ Cảo đã gặp không ít điều lôi thôi, phiền toái, trong một xã hội băng hoại, nên treo tranh tĩnh vật như một nhắc nhở, như để tìm thấy trong đó sự lắng đọng. Có người, mỗi khi có được một kỳ nghỉ phép dài, tìm những nơi vắng vẻ, khô cằn, sỏi đá, hoặc là đến những sa mạc hoang vu. Ở những nơi đó, họ dễ dàng lắng nghe bản thân hơn.

Cơn giận dữ bỗng bùng nổ giữa mọi người.

Lý đứng lên xắn tay áo sừng sộ:

“Về vấn đề này, mày phải thú nhận tao đã đi guốc vào trong bụng mày. Đừng ngoan cố giả đui, giả điếc nữa.”

Tùy cũng đứng lên tay cầm chai bia trong tư thế sẵn sàng tấn công, lớn tiếng:

“Mày cà chớn lắm. Tao đếch thèm nói chuyện với mày.”

Phùng nói như hét:

“Thôi! Thôi!”

Cảo la to:

“Nữa! Nữa!”

Hưng ngơ ngác. Lý cười hô hố:

“Bạn Hưng ơi, tỉnh giấc chưa?”

Nhưng, lại nhưng. Những nước bé nhỏ, yếu đuối, nghèo nàn, thường thích dùng những chữ nhưng, nếu, phải chi, giá mà, in hay khi tê. Nhưng có luận điệu rằng khi bạn ta đã “đi đêm” bắt tay được với Trung Cộng để khuynh loát Liên Xô (Trung Cộng và Liên Xô bị rạn nứt vì những tranh chấp ở biên giới, đã đánh nhau kịch liệt vào năm 1969), nhận thấy công cuộc “be bờ” chống làn sóng đỏ không còn cần thiết nữa, liền “phản bội”, bỏ rơi Miền Nam tức tưởi.

Chưa hết. Như anh đã nói phớt qua về phía truyền thông Mỹ, một mặt trận vô cùng quyết liệt, về phía cộng sản, đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng của cộng quân. Đó là bộ máy tuyên truyền lớn lao và tinh vi của họ. Họ đánh lừa cả thế giới, đánh lừa cả dư luận và truyền thông của Hoa Kỳ, khiến nhiều nơi, và ngay tại Mỹ, dấy lên phong trào phản chiến thân cộng, lên án Mỹ và Chiến Tranh Việt Nam.[9] Miền Nam bị đánh gục là chuyện tất nhiên.

Ta thua, nhưng, lại nhưng, nhưng ta vẫn mang mối bận tâm rất lớn rằng chúng nó thắng thì đất nước trước sau gì cũng lọt vào tay Tàu. Tôn Tử binh pháp mà: ở cạnh một nước lớn thích bành trướng, phải tìm cách liên minh với nước lớn khác ở xa hơn. Huống chi cộng sản Bắc Việt muốn thắng Miền Nam, đã nhờ cậy cộng sản Tàu quá nhiều. Trở lại với ta, dù nói cách nào đi nữa, trong lịch sử thế giới hiện đại, không có một nước thứ hai nào chịu cảnh ngộ như Việt Nam Cộng Hòa. Đã thế, nhiều báo chí Mỹ còn muối mặt đổ lỗi cho Miền Nam không chịu đánh giặc nên thua trận! Con trùn bị giết cũng còn ngo ngoe, không lẽ ta để yên:

Ví dầu tình bậu muốn thôi

Bậu gieo tiếng ác cho rồi bậu ra

Bậu ra cho khỏi tay qua

Cái xương bậu nát, cái da bậu mòn

Uất ức và tuyệt vọng thì nói sảng vậy thôi. Cái xương của “bậu” càng cứng, cái da của “bậu” càng dày, kể cả da mặt. Chỉ có “qua” là khốn đốn.

Hình như trên quan hệ quốc tế, không có bạn lâu dài, không có thù lâu dài, chỉ có quyền lợi là lâu dài mà thôi. Nói chi đến chuyện “bạn đường”. Ô, chữ “bạn đường” trong trường hợp này không chừng lại đúng. Nó có nghĩa là loại bạn bè đi với nhau trên một đoạn đường ngắn, rồi đường ai nấy đi. Lại liên tưởng những quan hệ của phe thắng trận với nước láng giềng phương bắc. “Bốn tốt, mười sáu chữ vàng”, núi liền núi, sông liền sông, cùng chung một văn hóa, một số phận, một định mệnh, đời đời bao bọc nhau, môi hở, răng lạnh, vân vân. Thế mà cũng có người tin, hoặc giả đò tin. Họ chóng quên, hay giả đò quên, trong chiều dài của lịch sử, có quá nhiều cuộc tắm máu giữa ta và Tàu.

Có điều lạ lùng Hưng không thể nào hiểu nổi. Đó là, nói chung, người Miền Nam không oán trách “Người Bạn Đường” như ta tưởng. Họ dễ giận, dễ quên, dễ tha thứ. Có phải vậy hay không, hay là còn có nhiều lý do khác? Chẳng hạn vì họ ở cái thế chẳng đặng đừng, oán trách cũng chẳng đi đến đâu. Một bên là người ruột thịt lấy danh nghĩa “giải phóng” đã đánh bại họ, và đã luôn luôn tìm mọi cách hãm hại họ để hưởng trọn vẹn những gì chiếm được; một bên là những người xa lạ từng xử tệ với họ nhưng có hồi tâm, đưa tay cho nắm khi họ sa chân. Thì họ sẽ đi về đâu?

Nhưng Hưng không dễ giận, dễ quên. Anh không chọn Mỹ, mà chọn Pháp, dù em gái của Hưng đã du học tại Hoa Kỳ từ lâu, đã có gia đình con cái thành công, và đã mong gia đình Hưng qua chung sống cho có anh, có em. Thế tại sao lại chọn Pháp mà không chọn những nước còn lại ở châu Âu? Vì ngại, sợ. Không biết tiếng nói, không rõ tính tình, không quen phong tục, tập quán. Lỡ gặp “thứ dữ” hơn Mỹ? Con chim bị tên sợ cành cây cong. Với Pháp dù sao cũng đã biết nhau ít nhiều. Cứ đến Pháp trước đã trong cơn túng quẫn. Nếu có làm sao đi nữa, sẽ tìm cách đi nơi khác.

Hưng cay đắng ôn lại những ngày qua, và tự hỏi mình đang ngụp lặn trong vòng xoáy của lịch sử, liệu mình có được cái nhìn khách quan và trung thực hay không. Nhưng anh lại nghĩ thế hệ của anh mới là nhân chứng tươi rói, nóng bỏng, vui buồn theo thế sự thăng trầm, sống chết theo vận nước chìm nổi. Mình không chịu nói ra thì mọi chuyện sẽ bị lớp bụi thời gian phủ kín. Đó là chưa kể những tác động của con người: nhầm lẫn, chủ quan, bất lương, bưng bít, xuyên tạc, bóp méo, bịa đặt, đổi trắng thay đen. Một ví dụ nhỏ. Khái Hưng, nhà văn có tài, có những đóng góp lớn vào văn học Việt Nam mà chính quyền trong nước không thể nào phủ nhận được. Ban đầu họ triệt để cấm lưu hành tác phẩm của Khái Hưng, về sau, họ cho tái bản toàn bộ. Phần tiểu sử của tác giả, về cái chết của nhà văn, đại khái họ chỉ viết sơ lược, năm 1947, Khái Hưng mất ở huyện Xuân Trường, nay thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Họ không viết cho thật hơn: Khái Hưng bị họ thủ tiêu vào năm đó. Cho nên, nếu không có thông tin trung thực, vài ba thế hệ mai sau sẽ nghĩ Khái Hưng là nhà văn cách mạng thuộc phe của họ.

Rồi nhờ sự giúp đỡ của một đồng nghiệp người Pháp trước kia cùng dạy học chung trường, anh ta dạy môn Pháp văn, hai vợ chồng anh và đứa con gái được sống tại ngoại ô Paris.

Chỉ gặp khó khăn trong mấy tháng đầu tiên, dần dà hai vợ chồng có việc làm, đứa con gái được đi học. Chẳng bao lâu, tậu một chiếc xe hơi nhỏ, cũ, và mua trả góp một ngôi nhà cũng cũ, nhỏ. Nhà không có ga-ra, phải cho xe đậu chen chúc với nhiều xe khác trên một con hẻm chật hẹp. Không dư dả nhưng qua năm sau vẫn dành dụm chút tiền để hưởng một mùa nghỉ hè đầu tiên từ khi xa quê hương. Học đòi theo lối sống của người Pháp mà, nghỉ hè mọi người đi xa để lại kinh thành Paris vắng teo. Đi lại dễ dàng, nhanh chóng, hễ có dịp là đi thăm nhiều nơi trên nước Pháp. Rồi thăm những nước láng giềng gần như Anh, Tây Ban Nha, Ý, Thụy Sĩ, Bỉ, rồi đi xa hơn.

Cuộc sống vui? Vâng, còn gì vui bằng. Cá chậu chim lồng nay vẫy vùng nơi trời cao, biển rộng. Thở bầu không khí tự do. Muốn ăn, ăn. Ăn gà nhé? Khỏi phải tìm cách giết gà giấu lông. Muốn nói, nói. Nói những ấm ức trong lòng nhé? Khỏi phải dáo dác nhìn quanh sợ sệt. Muốn đi đâu, cứ việc đi. Khỏi tạm trú, tạm vắng. Muốn ở đâu, ở. Khỏi hộ khẩu. Khỏi báo cáo, trình diện, kiểm thảo, phê bình, lên lớp. Không bị ai dòm ngó, canh chừng, quản lý. Khỏi phải “làm việc” với những “cán ngố phách láo”.

Nhưng chỉ vui trong thời gian đầu tiên. Những tháng ngày kế tiếp buồn nản dần. Không hy vọng, không ước mơ. Nhiều lúc tự thấy bị bỏ quên tại một góc trời nào đó. Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu, anh nhớ câu thơ. Cuộc sống trống trải, gần như vô nghĩa. Cứ tưởng cái cũ chấm dứt, cái mới xuất hiện. Nhưng không. Cái mới chưa thành hình, cái cũ chưa tan biến. Quá khứ đeo đuổi, tương lai mờ mịt. Không lẽ cứ như thế này cho đến cuối cuộc đời?

Buồn và nhớ quyện vào nhau. Nhớ quê cũ, họ hàng, bạn bè. Nhớ bờ sông, bến cảng, bến xe đò, ga xe lửa. Nhớ phố xá, những con hẻm luồn lách, những xóm đêm mịt mùng, những nghĩa trang đìu hiu. Nhớ cà phê vỉa hè, xe phở, xe hủ tiếu, gánh bún bò lề đường. Nhớ những chiếc áo bà ba, cái nón lá, và thỉnh thoảng tà áo dài. Nhớ tiếng cười đầu ngõ, tiếng nói sau hè, tiếng khóc trẻ con từ nhà hàng xóm, tiếng rao hàng ngoài đường cái, tiếng gà gáy buổi trưa, tiếng chim kêu buổi sáng, tiếng còi xe inh ỏi suốt ngày. Và nhớ, có lần về thăm quê, con chim bìm bịp cánh nâu to dài hơn chim bồ câu, đậu trên ngọn tre cao đầu làng, tuôn ra một thôi dài tiếng gọi vang lừng trong không gian đón mừng người về, và con chim khách cánh đen trông như con quạ, bay chuyền từ hàng cau trước nhà qua cây nhãn, cây khế, trong vườn, kêu hối hả, giục giã nghe “muốn xốp phổi” báo tin khác đến. Còn gì nữa? Còn nhiều lắm, nói sao cho hết. Không nói nữa nhưng không thể không nói thêm về khí hậu, thời tiết, nắng cháy có về, mưa rào có về, ngày nào: Nắng có về cho em hỏi thăm… Mưa có về cho em nhắn thêm …

Nhưng cũng phải bỏ nước mà đi để làm kẻ lưu vong, một kẻ lưu vong không giống bất kỳ người xa quê hương nào trên thế giới. Người ta ra đi vì lý do kinh tế, vì chiến tranh, vì loạn lạc tại quê nhà, hay vì muốn làm công dân một nước khác giàu mạnh hơn. Vâng cũng có người ra đi vì vậy. Những người đó, khi tình hình ở quê nhà ổn định, họ ở lại hoặc quay về tuỳ thích. Hoặc ngay trong lúc xa quê hương, họ cũng có thể có những liên hệ chặt chẽ với chánh quyền cũ trong nước. Người dân trong và ngoài nước hoà hợp nhau, yểm trợ nhau. Đấy là chuyện rất bình thường. Người Tàu chẳng hạn. Rất nhiều người Trung Quốc sống tại nhiều nơi vẫn có liên hệ mật thiết với chính quyền Cộng Sản ở quốc nội. Hoặc trường hợp những người chống Cộng, thì họ hướng về với Đài Loan, chính quyền quốc gia cũ.

Ta khác. Người tỵ nạn Việt Nam không chấp nhận chính quyền, chính thể, trong nước. Thì họ tìm cách phân hóa những “khúc ruột ngoài ngàn dặm” để trừ “hậu hoạn”. Không có kết quả, họ thay đổi sách lược, tung ra nghị quyết chủ trương “hoà hợp, hoà giải dân tộc”. Nhưng họ chỉ muốn hoà giải với người tỵ nạn ở hải ngoại, có nhiều tiền, có tiềm năng lớn, và ở thế đối lập chính trị mà họ không thể “xử lý” bằng chiếc còng số 8. Còn đối với những người bất đồng chính kiến ở trong nước, họ thẳng tay trừng trị. Ai cũng nhận thấy ngay cái chuyện phi lý ấy. Ý đồ “hoà hợp, hoà giải” chẳng qua chỉ là sách lược tạm thời, lùi một bước để tiến lên nhiều bước khác. Vả lại dù cho họ thật sự muốn hoà hợp, hoà giải, thì họ cũng chỉ đi trở lại một bước ngắn trên quãng đường dài mà họ đã gây ra quá nhiều thảm họa. Gây nên tội, hoà giải chưa đủ.

Kẻ chiến thắng tha hồ huyênh hoang, nào chính thống, nào đã chống ngoại xâm, nào giải phóng đất nước, và xem kẻ bại trận là ngụy quân, ngụy quyền, là bọn bán nước ôm chân thực dân, đế quốc. Nhưng trên thực tế, họ đã và đang phá nát quê hương đất nước mà tổ tiên đã dày công gây dựng. Người Miền Nam vừa bị cướp đoạt, vừa bị hạ nhục. Hàng triệu người đã bỏ nước ra đi bất chấp sống chết, hàng trăm ngàn người đã bỏ mình trên biển cả, rừng sâu. Gần nửa thế kỷ đã trôi qua nhưng vết thương chưa lành, hận thù chưa nguôi. Không có một đám di dân thứ hai nào chịu cảnh ngộ như người tỵ nạn Việt Nam.

Anh cầm trong tay điếu thuốc cháy gần hết, chau mày nhìn cái gạt tàn thuốc nằm tận bên kia bàn, rồi chắc lưỡi nhét đại mẩu tàn thuốc vào chai bia đã uống cạn. Nó kêu xèo lên một tiếng ngắn và tắt ngấm. Anh nghe bạn bè nói cười lao xao mà như nghe những âm vang đến từ một thế giới nào khác. Còn riêng anh, những nỗi niềm cũ sao nó cứ luẩn quẩn mãi trong lòng.

Vào giữa thế kỷ thứ 17, Trung Quốc dưới triều nhà Minh bị Mãn Châu thôn tính. Người Tàu yêu nước không chịu sống dưới ách nô lệ ngoại bang đã trốn chạy qua Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam tỵ nạn, chờ ngày trở về quang phục quê hương. Ngày đó không thấy đến. Tại Việt Nam, người tỵ nạn nhà Minh ở rải rác tại miền Bắc, tập trung khá nhiều tại Miền Nam nhất là vùng Hà Tiên, và lập nên những làng, xã, gọi là Minh Hương tại miền Trung. Minh Hương hàm ý quê hương nhà Minh. Lâu ngày người tỵ nạn biến thành người Việt Nam. Nhưng may mắn thay cho nước Tàu, một nước đông dân và có nền văn hoá phong phú, lâu đời và bền vững, kẻ đô hộ là Mãn Thanh dần dần bị Hán hoá, chẳng khác gì trước đó trên 300 năm, nhà Nguyên Mông Cổ cũng đã biến thành Tàu. Trung Quốc bỗng chốc ‘bất chiến tự nhiên thành”, biên cương được mở rộng, thêm Mãn Thanh, Nội Mông, Tân Cương, rồi tràn qua Tây Tạng. Nước Tàu chưa bao giờ rộng lớn như bây giờ. Nhưng lòng tham không đáy, họ còn lấn chiếm biển, đảo, và đất liền của Việt Nam trong khi chính quyền Việt Nam luôn luôn tỏ ra khiếp sợ, và muốn thần phục.

Tiếng cười của Lý nghe rổn rảng. Anh thảng thốt quay nhìn mọi người, rồi chăm chú nhìn Lý. Lý không bỏ lỡ cơ hội:

“Nãy giờ tui trổ tài ứng phó lu bù với các bạn, đồng thời cũng không giây phút nào quên để ý xem ông bạn Hưng của chúng ta đang lén lút làm cái trò gì mà im lìm lâu thế. Nhớ vợ hả. Thì lần tới đem vợ theo. A, nhớ ra rồi, bạn Hưng đang tình tự với Nàng Thơ. Xong chưa, đọc lên nghe coi.”

Hưng chưa biết nói năng thế nào. Tuỳ lên tiếng:

“Nghe thì nghe, chứ sao lại nghe coi. Chữ coi trịch thượng lắm.”

“Cậu nói sai rồi. Tui không trịch thượng mà là cấp thượng, tức là cấp trên, tức là thượng cấp. Cậu quên tui là chủ tịch cái Đại Hội này?”

Tuỳ làm bộ khúm núm:

“Tôi sai, xin rút kinh nghiệm. Nhưng là chủ tịch ai lại đi làm công việc của cán bộ quản giáo quản lý sát đít tù cải tạo. Hưng đâu phải là tù mà Lý phải luôn luôn dòm ngó, xoi bói.”

Lý cù nhầy: “Tui chủ tịch kiêm quản giáo vậy.” Quay qua Hưng. “Cậu còn chờ gì nữa. Tới phiên rồi, nói đi.”

Hưng: “Ủa, phiên tui?” Anh lúng túng. “Vâng thì tui nói. Các bạn hỏi tui tại sao muốn bỏ nước Pháp mà đi? Khó nói quá, vì chính tui cũng có chỗ không đồng ý với chính mình. Với lại chuyện đó còn lâu, và cũng không dễ dàng gì.”

Anh tiếp tục chậm rãi nói, vắn tắt, bỏ đi những gì anh cho là chỉ làm trò cười cho mấy người bạn đang “lên cơn” chọc phá nhau. Cũng may họ bớt cười, và dường như có chút quan tâm. Lý nghe xong, ngẫm nghĩ một chốc, rồi nói một hơi dài:

“Bạn Hưng nói có cái đúng nhưng sai cũng nhiều. Và thiếu. Cũng dễ hiểu thôi vì toa ở xa quê hương lâu ngày, nay mới về lần đầu, nên chưa thấy được hết. Tại sao chánh quyền bây giờ luôn luôn tranh giành độc quyền yêu nước, và tự cho mình mới có chính nghĩa? Tại vì nói thế mới dễ ăn cướp. Tới một nơi giàu có, chiếm hết của cải, rồi chia nhau ăn tỉnh bơ. Sao được. Phải nói thế nào để nuốt cho trôi chứ. Chẳng hạn phải bảo chúng nó có tội, ‘trời không dung, đất không tha, lấy nước Biển Đông không rửa sạch hết tội, lấy tre trên rừng không ghi chép hết lỗi’. Bạn Hưng có đi tù cải tạo chắc thường nghe mấy câu tuyệt cú mèo đó. Mà có tội thì phải vào tù. Ta có đảng, có chính quyền, có bạo lực cách mạng. Ta là quan tòa, đồng thời là thẩm phán, là công tố viên, là luật sư cả bên nguyên lẫn bên bị. Và là cai ngục luôn cho tiện việc sổ sách. Tha hồ. Thế công luận thì sao? Nhân dân thì sao? Thắc mắc hả? Không sao cả. Với bọn trí thức ‘đầu hàng giai cấp’, ta tạm để yên; với bọn có tư tưởng chống đối, ta cô lập. Người nào vận động được quần chúng, ta hết sức đề cao cảnh giác; hễ chúng có dấu hiệu tổ chức lực lượng phản động, ta thẳng trừng trị ngay trong trứng nước. Đối với đám đông quần chúng hỗn tạp thiếu tổ chức, thiếu lãnh đạo, dễ xử lý lắm. Nói ngọt dễ lọt vào tai. Tổ chức lễ hội truyền thống tưởng tượng, đình đám xôm tụ, ăn chơi, đá banh, đua chó, đá gà, chọi trâu, nhà nhà hoa hậu, vân vân và vân vân, nhằm ru ngủ, khiến họ quên đi những bức xúc, những chuyện trái tai gai mắt, những cảnh bóc lột dã man. Thi thoảng, tức là thỉnh thoảng đấy các bạn ạ, nhượng bộ đôi chút cho họ được xả xú-páp, tiếng thời thượng bây giờ gọi là xả “trét”, tức là xả cái con khỉ gì hả Hưng. Xả “stress”. Ừ, xả xì trét xì triếc gì đó. Đối với những tên Việt kiều ở ngoài nước, hở một chút là nhao nhao như “quạ quạ bẻ bắp”, ta sẵn sàng tuyên bố, Thì quý vị thấy đó, chúng tôi có khác gì quý vị đâu, có đủ bộ sậu dân chủ, nhân quyền, thị trường tự do, tư bản. Hoà hợp hoà giải là điều tất yếu. Nhưng ta không bao giờ được quên rằng ta là của Đảng, bởi Đảng, vì Đảng. Bốn triệu đảng viên trị 90 triệu dân, đám dân sợ sệt, nhút nhát, vô tổ chức. Thừa sức.”

Tùy cười: “Cậu nói thao thao bất tuyệt như cán bộ tuyên truyền. Có học Trường Đảng không đấy?”

Lý đáp: “Học cái mẹ gì, bạn Tuỳ muốn đùa dai hả? Nếu có học phải nói cách khác để dụ dỗ và đánh lừa, chứ ai lại vạch lưng cho người khác xem. Nhưng có điều là xã hội bây giờ đã thay đổi ít nhiều. Giai cấp thống trị cũng đã bị phân hóa vì tranh giành quyền lợi. Và tham nhũng thì hết chỗ nói. Họ chia thành những nhóm lợi ích hợp tác nhau hoặc loại trừ nhau để đục khoét và vơ vét cho hết tài sản của quốc gia. Đấy là câu chuyện anh em mình đã nói đến nhiều hồi trưa, bây giờ xin khỏi nhắc lại.”

Tuỳ móc lò: “Ông vừa nhắc lại ‘chuyện hồi trưa’, rồi ông lại bảo ‘xin khỏi nhắc lại’?”

Lý nheo mắt nhìn Tuỳ tươi cười: “Nhưng tao nhắc lại ít, cũng coi như không nhắc lại. Bắt bẻ hoài đấy nhé. Dê kêu.” Châm thêm một điếu thuốc trước khi nói tiếp. “Chỉ có đám dân đen là lãnh đủ, là những nạn nhân mù quáng, dễ tin.”

Cảo ôn tồn góp ý: “Bây giờ nhiều người đã mở mắt ra rồi, tin cái thế quái nào được…”

Lý cướp lời: “Vì anh có quan tâm đến thời cuộc, có ‘internet’. Anh chịu khó nghe cả lề phải lẫn lề trái, anh thấy rõ vấn đề. Nhưng đại đa số dân chúng thì khác. Họ không có đủ thông tin. Họ an phận thủ thường. Họ sợ, ngại, rồi dần dần biến thành quán tính, đâm ra vô cảm. Tui nhớ, mới đây thôi, đoàn biểu tình ít ỏi đi qua đường giương lên năm ba băng rôn chống Trung Quốc lấn chiếm biền đảo. Có cả đàn bà, con gái, trẻ em đi trong đó. Đúng là những người gan cóc tía, những bậc đáng gọi là anh hùng. Họ bị đánh gãy xương sườn, u đầu, sứt trán. Một lần khác có người bị đạp vào mặt, bị xốc ngang lưng ném lên xe tải, xe buýt như ném con heo, con chó. Trước con mắt bàng quan của các cậu, các cô ngồi trong những quán nước vỉa hè dốc ngược chai bia dzô, dzô…”

Tùy hóm hỉnh: “Cụ Lý Toét hồi nẫy hò hét ta phải đổi đề tài, ta đừng nên hâm lại những chuyện cũ đã nguội lạnh. Thế mà bây giờ hùng hồn hơn ai cả. Xin mày giải thích cho tao nghe thế lày nà thế lào.”

“Giải thích cái con khỉ,” Lý đáp. “Cứ để câu chuyện kéo ta đi đâu thì đi, thế mới hào hứng. Ai ngứa miệng, ngứa mũi, cứ nói.” Quay đầu nhìn Phùng, nheo mắt. “Hình như em Phùng của tui có nói như rứa, phải không?”

Phùng lùng bùng: “Nói vì ngứa mũi? Trật bét.”

Lý cười, nụ cười tròn vo như chữ o:

“Lý mà không trật thì sao gọi là Lý được.”

Hưng lại nhớ. Nỗi nhớ xoay quanh như mạng nhện, như những đường xoắn ốc, như những khúc phim cũ đứt rồi nối, chiếu đi chiếu lại.

Có dịp là đi chơi. Trong nước rồi những nước lân cận. Đúng là lân cận, rất gần nước Pháp, gần Paris, gần nơi gia đình anh trú ngụ. Châu Âu nhỏ. Một buổi sáng cuối tuần thức dậy, cao hứng, đáp TGV chui vào đường hầm xuyên qua biển Manche, Pas de Calais, đến Londres, ăn điểm tâm. Trở về nếu còn bốc đồng, lái xe qua Bruxelles, Bỉ, ăn trưa; và nếu cũng chưa đã, chiều ghé Bonn, Đức, ăn tối. Những thủ đô, những thành phố xinh đẹp ra đời từ thời Trung Cổ. Sang trọng, rực rỡ, huy hoàng.

Nhưng chỉ vui trong thời gian đầu tiên. Câu nói đó lặp đi lặp lại như điệp khúc trong một bản nhạc buồn. Lòng nguội lạnh. Nhìn đất nước đẹp đẽ của người ta mà như nhìn một khung cảnh trên một tấm bưu thiếp, dửng dưng. Nghe người ta nói mà như nghe những câu chuyện đầy âm thanh và cuồng nộ, chẳng có nghĩa lý gì.

Anh hết ham đi. Ngày ngày hùng hục làm việc như cái máy, mong mau hết giờ để về nhà. Về đến nhà càng buồn. Cứ thế quay quay như mấy cây kim chỉ giờ, phút, giây trên chiếc đồng hồ treo tường. Bà con, bạn bè? Ở xa quá. Chỉ gặp nhau qua điện thoại, điện thư. Láng giềng, đồng nghiệp cùng sở? Lịch sự chiếu lệ. Nhìn nhau lạ lạ, quen quen. Mình lấp ló đứng ngoài nhìn vào, người đứng trong ngại ngùng đưa tay vẫy. Có khi cái vẫy tay mang ý nghĩa xua đuổi hơn là chào đón. Không lẽ cuộc đời mình cứ mãi như thế này.

Tự do quý giá vô ngần. Đã bỏ tất cả để tìm tự do. Con người không có tự do thì chẳng khác con vật trong các trại chăn nuôi, anh ngẫm nghĩ. Nhưng chỉ tự do mà thôi, chưa đủ.

Mấy người bạn của anh vẫn hăng say tiếp tục tranh luận, đùa cợt, chọc ghẹo nhau. Kẻ tung, người hứng, kẻ làm bộ cau có, người đóng vai hài hước. Phùng vốn ít nói, nhưng ưa phá Lý, đốp chát:

“Ông anh của tui lại nói sai nữa. Chợ Nổi ở tại Cái Bè chứ không phải ở Cai Lậy. Mà Cai Lậy chứ không phải Cái Lậy.”

“Rứa hả?” Lý trợn tròn mắt, cãi bướng. “Tuy nhiên ai cũng có khi sai. Tam đoạn luận nhé: Không sai không phải là người. Tui sai. Vậy tui là con khỉ sao?”

Trước khi về Việt Nam để “nhìn lại” lần chót, anh đươc một người bạn thân sống tại Nam Cali mời qua chơi. Chuyến đi đó đã khiến Hưng suy nghĩ nhiều.

Trước hết, Mỹ phản bội? Ta là cái gì để một nước xa lạ phải trung thành hay phản bội? Chính sách của Mỹ, hay của nước nào cũng thế, thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh. Mỹ cách đây gần nửa thế kỷ không phải là Mỹ bây giờ. Những người có trách nhiệm vào thời đó hầu hết đã qua đời. Muốn mang mối bất hoà đối với người đi trước đổ lên đầu người đi sau? Mà dù muốn, làm gì được. Who cares? Hơn nữa, có lẽ vì Mỹ đã “lật lường” rút êm, thì bù lại, họ mở rộng cánh tay đón nhận người Việt Nam tỵ nạn. Những chương trình nhân đạo như ODP, HO, ROVR, vân vân, nói lên mối quan tâm ấy. Và do đó, người nước mình đến sinh sống tại Mỹ sau 1975 đông nhất. Nay có đến vài triệu người.

Anh cố tìm thêm vài ba lý lẽ nữa. Thật ra nước Mỹ là của người da đỏ từ xa xưa. Người da trắng chỉ là di dân. Trải qua mấy trăm năm tranh chấp, chém giết, rồi hoà hoãn, thỏa hiệp, nước Mỹ trở thành quê hương của người di dân từ khắp nơi trên thế giới. Từ Anh, Hoà Lan, Đức, Ý, Pháp, Nga …, từ những nước châu Á như Tàu, Nhật, Ấn Độ …, rồi Việt Nam. Một người Mỹ, khi được hỏi về nguồn gốc, sẽ trả lời tôi là người Mỹ gốc Tô Cách Lan, gốc Tây Ban Nha, hay gốc Hàn Quốc, chẳng hạn. Không chút mặc cảm tự ty hay tự tôn. Đây là một nước Hợp Chủng Quốc, một quốc gia của người tỵ nạn, di dân, mà người da trắng chiếm đa số. Mỹ thường tự hào về điều đó. Tuy nhiên trong thâm tâm, anh vẫn nghĩ đến một ngày nào đó khi người bản địa nhận ra rằng số người di dân quá đông đảo, họ có thể tuyên bố nước Mỹ không còn là nước của người tỵ nạn nữa.

Ở với bạn hai tuần lễ, anh được thăm viếng nhiều nơi, biết được một số sinh hoạt và đóng góp của người tỵ nạn Việt Nam vào đời sống chung của quốc gia giàu mạnh này. Có nơi tại miền Nam Ca Li trông không khác gì một Sài Gòn thu hẹp. Ở đấy, một người Việt Nam có thể tìm việc làm, sống thoải mái, mà không cần biết một tiếng Anh. Lẽ dĩ nhiên biết thêm thứ ngôn ngữ phổ biến nhất thế giới ấy càng có lợi. Anh thưởng thức những món ăn đặc sản từ khắp ba miền Nam, Trung, Bắc Việt Nam. Anh nghe trên vỉa hè, trong quán ăn, siêu thị, cơ sở hành chánh, văn phòng luật pháp, vân vân, tiếng Việt Nam quen thuộc, thân yêu. Mùa hè có chợ đêm, mùa thu có Tết Trung Thu cho trẻ em, mùa Tết có chợ Hoa, chợ Tết. Có nhiều đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng Việt với nhiều chương trình đặc sắc. Chẳng hạn anh rất ngạc nhiên và khâm phục chương trình tuyển chọn những tài năng “tí hon”, hạt giống cho tương lai. Đấy là chương trình V Star Kids về các lãnh vực văn nghệ, ca hát, nhảy múa. Có cháu mới bốn, năm tuổi sinh tại nước Mỹ, cha mẹ sống tại đây mấy mươi năm rồi, nói tiếng Việt ngập ngừng, nhưng hát rất đúng giọng. Hát nhạc mới, nhạc Tiền Chiến. Hát được cả những làn điệu Quan Họ Bắc Ninh, Hò Huế, Cò Lả Miền Nam. Và nhảy múa. Khi Ban Giám Khảo nói bằng tiếng Việt nêu những những ưu, khuyết, các cháu lúng túng. Ban Giám Khảo chuyển qua tiếng Anh, các cháu mừng rỡ trả lời trọ trẹ vài câu bằng tiếng Việt, rồi nói lại bằng tiếng Anh không khác gì một em bé Mỹ. Một giám khảo hỏi, Ai dạy cháu hát mà hay thế? Trả lời, Dạ ngoại dạy, mẹ dạy. Còn nhảy, múa? Trả lời, Dạ ba và anh. Anh nghĩ đến tấm lòng của phụ huynh các cháu, người tổ chức các chương trình ấy, và đám người di dân tỵ nạn xa tổ quốc nhưng nặng tình với quê hương, đất nước. Họ ra đi, muốn mang quê hương theo.

Anh nghĩ thêm. Khi một cộng đồng muốn xác nhận căn cước của mình, sự hiện diện và đóng góp của mình vào sinh hoạt chung của nơi mình tới định cư, thì cộng đồng đó phải có lực lượng, có nhân số. Từ đó mới có đại diện. Tối thiểu, họ phải tụ tập lại thành những nhóm người đủ đông đảo. Những người lưu vong sống lẻ tẻ trên thế giới mênh mông này có khác gì con chim lạc đàn, hạt muối bỏ biển. Chỉ trong một thời gian ngắn, sẽ bị quên lãng, xoá nhoà.

Anh nghĩ đến hai trận bão kinh hoàng Harvey rồi Irma vừa xẩy ra kế tiếp nhau. Nó tàn phá tan hoang hai tiểu bang Texas và Florida. Thiệt hại về vật chất ước tính lên đến hàng tỷ đô la, khiến một doanh nhân Việt Nam, từng là người tỵ nạn, gởi tặng cho quỹ cứu trợ 5 triệu đô la (Năm trước, cũng doanh nhân này tặng 5 triệu đô la cứu trợ nạn lụt ở San Jose). Nhiều người thiệt mạng. Gia súc, gia cầm, bò, ngựa, vân vân, một số lớn bị bão tố giết chết hoặc mất tích. Và lẽ dĩ nhiên những sinh vật khác sống ngoài thiên nhiên cũng không thoát nạn. Riêng loài kiến, đặc biệt là kiến lửa, biết tìm cách sống sót. Chúng kết hợp lại thành những mảng lớn, miệng cắn chặt vào nhau, chân bấu víu dính nhau, nhất định không rời nhau, chịu đói nhiều ngày, trôi giạt trên dòng nước lũ. Những con kiến khác mải mê kiếm ăn không kịp nhập vào các mảng lớn đã bị chết chìm từ lâu. Những mảng kiến to lớn ấy, báo chí gọi là những “đảo kiến”, khi sóng yên, gió lặng, tấp vào một nơi nào đó, rất xa tổ cũ, và cũng rất xa nhau. Chúng trở lại cuộc sống bình thường, phân công làm việc, từng đoàn dài đi kiếm thức ăn mang về tổ, những nhóm khác hoặc lo việc xây tổ, hoặc ra sức nuôi dưỡng và bảo vệ kiến chúa. Trôi đi xa quá, chúng không biết đường về tổ cũ. Mà tổ cũ cũng không còn. Chúng sẽ tồn tại trên vùng đất mới, và sẵn sàng chờ đợi những thiên tai khác.

Người tỵ nạn Việt Nam ta sau cơn “quốc phá gia vong” cũng thế thôi. Nhưng dù thất tán ra thành nhiều mảnh nằm rải rác tại nhiều nơi trên thế giới, ta vẫn biết đâu là đất tổ, là quê cũ. Vấn đề là khi nào nên về? Hay sống mãi kiếp lưu vong?

Ngày xưa khi ông cha ta di cư đến vùng đất mới còn hoang vu, phải nỗ lực chinh phục thiên nhiên, chống chọi với thú dữ, bệnh tật, đói khát. Và đóng vai người khai sơn phá thạch, người mở đường. Ngày nay, ta tới những nơi giàu có, an lành, ổn định, trật tự, nhưng liệu ta có được yên tâm hơn hay không? Hay là lạc lõng hơn, ngày đêm lo âu về vấn đề hội nhập để mong bước vào dòng chính nếu không muốn mãi mãi đứng bên lề của cuộc đời. Anh nghĩ đến những con kiến trôi giạt lẻ loi rồi chết dần chết mòn trong những môi trường lạ. Anh nghĩ đến những “đảo kiến”nhỏ nằm cô quạnh tại nhiều nơi, sống rày chết mai. Một chút ánh sáng loé lên: Những đảo kiến lớn phục hồi nhanh chóng. Sau mươi năm, người Việt Nam tỵ nạn tại Canada, Úc, Mỹ, nhất là tại Nam Cali, ngày càng đông, càng vững mạnh. Nhưng có người lo ngại rằng sau vài mươi năm nữa, những cộng đồng Việt Nam sẽ tàn lụi. Lý do chính là con cháu của họ sẽ lớn lên, đi học xa, có công việc làm ăn, sinh sống ở nơi khác, giao tiếp thường xuyên và kết hôn với người bản địa, quên dần tiếng mẹ đẻ. Và bị đồng hoá.

Điều nói trên đã xẩy ra đối với một số người Việt lưu vong. Nhưng ở Nam Cali, sau hơn bốn mươi năm tỵ nạn, số người Việt Nam ngày càng đông thêm, sinh hoạt ngày càng rộn rịp. Họ kiên trì sống ở đó cùng với nhiều người khác từ các nơi đến. Từ những vùng lẻ loi, từ Việt Nam qua theo diện bảo lãnh hay di trú. “Thủ đô tỵ nạn Việt Nam” – Little Saigon — nay đã lớn lao hơn nhiều. Anh thử so sánh với khu phố Solvang do người Đan Mạch xây dựng từ năm 1911, tức là đã hơn một thế kỷ, gần Santa Barbara, cũng thuộc Nam Cali. Solvang quá đẹp nhưng không lớn lao và có nhiều bản sắc bằng Little Saigon sinh sau đẻ muộn. Biết đâu một Thành Phố Việt Nam, một Viêtnam Town, sẽ ra đời chẳng khác gì những China Towns nằm rải rác tại nhiều nơi trên đất Mỹ. Hay là ngược lại, cộng đồng Việt Nam lại sẽ suy tàn vì thiếu đoàn kết, vì tranh chấp quyền lợi, vì tiếng Việt và văn hóa cũ dần dần bị quên lãng, vì bị chánh quyền trong nước tìm cách đánh phá, vì thiếu bản lĩnh, vân vân và vân vân. Vì mọi chuyện trên cuộc đời này đều vô thường.

Anh lẩm bẩm nói cho chính mình nghe. Hay là cứ ở Pháp. Hay là cứ đi. Đi đâu? Nhiều người sống tại Pháp vẫn tìm thấy hạnh phúc và sự yên vui trong tâm hồn. Hai thế hệ rồi. Cộng đồng mình, dù lưu vong, đâu có lẻ loi cho lắm, tuy không đông đúc bằng ở Mỹ, ở Úc, ở Canada. Đâu có giống như người Việt sống tại Pháp trước Thế Chiến thứ hai. Lâu ngày ở đâu quen đấy. Gỗ đá vẫn sống. Trước kia khi Miền Nam chưa mất, anh không hề có những ý nghĩ như trên.

Tiếng cười, tiếng nói, tiếng tranh cãi, vẫn không ngớt. Và xôm trò nhất vẫn là cái giọng Quảng Nam hùng hồn, hài hước, đốp chát mà không kém phần lôi cuốn của Lý. Cảo đứng dậy mang bình trà châm vào những cái ly đã uống cạn từ lâu. Xong quay sang Lý nói một cách trịnh trọng vờ vĩnh:

“Gân cổ lên mà cãi nhau mãi cũng không đi đến đâu. Bây giờ tui xin có ‘cao kiến’ này. Bạn Lý cho phép tui mới dám nói.”

Lý đứng dậy khoanh tay vái vái, nhìn quanh một lượt, hắng giọng:

“Đau dốm, mô dốm. Chưa tới phiên nhưng riêng boạn Cổ thì được đẹc cách muốn nói lúc nồ thì nói. Lựa quên rèng mình loà chủ nhoà hưa sô. Chúng toa phửa dăng chủ, nhưng dăng chủ theo định hướng xõa hậu chủ nghĩa coá thứ tự trên dưới phăng minh.”

Cảo phì cười: “Cậu cố pha tiếng tưởng tui không hiểu? Theo tui, nhân sinh tuỳ mạng mỡ. Người ta muốn bỏ Pháp đi nơi khác, đó là chuyện riêng tư của người ta. Mình không nên xía vô bàn bạc loạn xà ngầu. Lôi thôi lếch thếch. Và trật bét.”

“Ý tui khác. Phải xía vô đời tư của nhau mới là bạn bè. Còn đối với người dưng nước lã, kệ … kệ … kệ con mẹ nó. Hơi sức đâu mà xía. Anh có biết bạn Hưng của chúng ta tuổi con ngựa, phải không Hưng? Cứ phải đi nhé. Ngựa thì thích chạy rông. Ở lâu một chỗ ngứa ngáy, khó chịu, sinh bịnh. Hơn nữa Pháp đâu phải là quê hương của mình mà … mà … mà phải bám víu vào đó suốt đời. Chi bằng có cơ hội ta Sở Khanh ngay, quất ngựa truy phong. Tui nói đúng tim đen chưa, hỡi cái anh chàng Hưng hôm nay cứ làm bộ lơ đãng kia? Mà khoan đã, suýt nữa tui quên hỏi cậu định đi đâu?”

Phùng không tha: “Ê, ngài chủ tịch lộn rồi. Ngài bắt mọi người rờ mu rùa sao bây giờ lại hỏi. Sao ‘lúc thế này, lúc thế khác’, thưa ông anh. Chả có lập trường gì cả.”

Lý đáp ngay: “Đấy chính là lập trường của anh đó nhe em. Nghĩa là cái lập trường ‘lúc thế này, lúc thế khác’.” Bỗng làm như sực nhớ. “Tui suýt quên. Cậu nói muốn đi, đâu có phải đi được ngay. Còn có nhiều chuyện ‘răng rầy rà rắc rối rứa ri’ hè. Mà bỏ nước Pháp thì đi lỗ mô? Câu hỏi này mới thiệt là khó trả lời. Tui đoán đại, cậu sẽ đi qua Tàu.”

Hưng ngạc nhiên: “Tại răng rứa?”

Lý trả lời: “Tại để ‘trả thù dân tộc’. Vì đàn bà con gái người nước mình bị đi Tàu nhiều quá xá cỡ. Mối thù này không trả thì sống cũng bằng thừa. Tui nói câu đó nghe có chi sơ sót, xin được cậu hết lòng dạy bảo. Tui xin hứa sửa sai liền một khi.”

Hưng đáp: “Cụ Lý Toét nhà ta thì có bao giờ nói không có lý đâu.”

10/2017


[1] Nhịp Ba – thơ Thanh Tâm Tuyền:

Ngực anh thủng lỗ đạn tròn

lưỡi lê thấu phổi

tim còn nhẩy đập

nhịp ba nhịp ba nhịp ba

tình yêu tự do mãi mãi

anh về ngã xuống vườn nhà

cây liền kết trái

hoa rụng tơi bời ủ xác

anh chạy nhịp hai qua cách trở

mắt bừng

thống nhất tự do

ngoài xa thành phố

bánh xe lăn nhịp ba

áo màu xanh hớn hở

nhát búa gõ

lòng máy quay

cửa nhà thi nhau lớn

nhịp ba nhịp ba nhịp ba

tình yêu tự do mãi mãi

sông bồi phù sa

ruộng lúa trổ hoa

núi cao uốn cây rừng

nhịp ba nhịp ba nhịp ba

tình yêu tự do mãi mãi

đất nước ào ào vỗ nhịp

triều biển chập chùng

Hà Nội Huế Sài Gòn

ôm nhau nức nở

có người cầm súng bắn vào đầu

đạn nổ nhịp ba

không chết

anh ngồi nhỏm dậy

khỏe mạnh lạ thường

bước ai thánh thót

nhịp ba

tình yêu

tự do

mãi mãi

tình yêu tự do mãi mãi

tình yêu tự do

mãi mãi anh ơi

(Hoàng Ngọc- Tuấn có phổ nhạc bài thơ này và trình diễn với ngón đàn ghi ta điiêu luyện. nt).

[2] Bài Hát Cửu Long – thơ Nguyên Sa:

Có gì đâu, có một đoàn người

Bên bờ Cửu Long gõ nhịp

Cả dòng sông gõ nhịp vịn bờ sông

Họ rủ nhau về sương gió vui chung

Dù có phút nước mắt chạy quanh

Hay miệng cười hớn hở

Vẫn bát gạo Hậu Giang, vẫn nụ cười huynh đệ

Mắt nghẹn ngào sáng tỏ nắng phương Nam

[3] Võ Phiến – Nguyễn Hưng Quốc. Văn Nghệ. California 1996.

Võ Phiến and the Sadness of Exile – John C. Schafer. Northern Illinois University 2006.

[4] Người Tình Không Chân Dung – Nhạc và lời của Hoàng Trọng.

[5] Chùa Hương – Nguyễn Nhược Pháp

[6] Trung tướng James B. Vaught trong hồi ký về Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam và cuộc Hành Quân Lam Sơn 719. Bản dịch: M X 520. http://batkhuat.net/tl-sdnhvn-lamson-719.htm

“Ngày hôm sau, trong khi báo chí Mỹ vẫn đang tràn ngập những bài vở, hình ảnh chê bai đơn vị thiện chiến nhất của Việt Nam Cộng Hoà là Sư Đoàn Dù bị tơi tả thế nào tại Hạ Lào trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 và nay đã mất khả năng chiến đấu, tôi gọi điện thoại thẳng về Bộ Chỉ Huy MACV ở Sài Gòn cho họ biết “chúng tôi vừa chiếm xong các mục tiêu chỉ định ở Dak To, chung quanh chúng tôi vẫn còn la liệt hơn 600 xác Cộng Quân chưa thu dọn. Xin làm ơn gửi ra ngay đây mấy thằng nhà báo vừa nói là Sư Đoàn Nhảy Dù hết sức chiến đấu cho chúng xem tận mắt!” Cũng có vài người ra thật và họ thấy tận mắt kết quả chứng minh khả năng chiến đấu tuyệt vời của các quân nhân Mũ Đỏ là như thế nào.”

“Qua kinh nghiệm chiến đấu bên cạnh các quân nhân Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam, tôi luôn luôn dành sự kính trọng vô biên đối với những thành tích của các chiến binh Mũ Đỏ. Và với tôi, tất cả các cấp chỉ huy Nhảy Dù Việt Nam đều là những sỹ quan thượng thặng.”

“Và đặc biệt nhất, năm 2006, tại Viện Bảo Tàng Nhảy Dù Hoa Kỳ đã khánh thành khu tưởng niệm riêng để vinh danh các chiến binh Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hoà.”

[7] Trận Xuân Lộc 4/1975 – Thiếu Tá Vương Mộng Long viết về Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân.

Nhà văn Lan Cao, đồng thời là giáo sư môn Luật Học tại Đại Học Chapman University ‘s Fowler School of Law, đã viết trong “Five Myths about the Vietnam War”: … “In August and September of that year (1968. NT chú thích), according to Gen. Creighton Abrams, commander of U.S. military operations from 1968 to 1972, ‘the ARVN killed more enemy than all other allied forces combined … ‘” Tạm dịch: “Năm Huyền Thoại về Chiến Tranh Việt Nam”: …”Trong tháng Tám và tháng Chín năm ấy (năm 1968. NT chú thích), theo Tướng Creighton Abrams, tư lệnh lực lượng hành quân Hoa Kỳ từ năm 1968 đến năm 1972, Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà đã tiêu diệt quân địch nhiều hơn tất cả lực lượng đồng minh gộp lại …”

[8] Ai? Tôi! – Chế Lan Viên

Mậu Thân 2000 người xuống đồng bằng

Chỉ một đêm, còn sống sót có 30

Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó?

Tôi!

Tôi – người viết những câu thơ cổ võ

Ca tụng người không tiếc mạng mình

Trong mọi cuộc xung phong.

[9] Vài năm sau khi Chiến Tranh Việt Nam chấm dứt, Tổng Thống Richard Nixon đã tuyên bố: “No event in American history is more misunderstood than the Vietnam War. It was misreported then, and it is misrememberd now. Rarely have so many people been so wrong about so much. Never have the consequences of their misunderstanding been so tragic”. Tạm dịch: “Không có biến cố nào trong lịch sử Hoa Kỳ bị ngộ nhận bằng Chiến Tranh Việt Nam. Hồi đó nó bị báo cáo sai, bây giờ thì bị nhớ lại không đúng. Hiếm khi có nhiều người đến thế đã nhầm lẫn về lắm điều đến thế. Chưa bao giờ những hậu quả của ngộ nhận ấy lại bi đát đến như vậy.”

bài đã đăng của Ngự Thuyết


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch