Trang chính » Nhận Định, Tùy Luận Email bài này

Viết và Đọc: những nẻo đi về

 

Chagall

.1.

Viết là mã hóa. Viết là đưa vào mã qua dạng chữ tất cả những ước mơ, những tra vấn, những thiết tha, những gạn hỏi, những băn khoăn ray rứt dịu dàng của ta. Viết là đưa vào những dòng chữ cái đời sống văn hóa của kẻ viết chữ; từ đó, người đọc có thể đi vào và, trong những mức độ khác nhau, khám phá ra vũ trụ riêng tư của người viết. Một cách nào đó, viết có nghĩa là một nỗ lực nén tất cả đời sống tinh thần và vật chất, những hoa lá nắng mưa cây trái, những mùa màng thời tiết của đời sống mình, những trăng sao tinh tú của mộng ước mình… vào cái li ti của những mặt chữ. Giống như một Đấng Thượng Đế (nếu có) của thuyết “Nổ Lớn” (Big Bang) đã nén tất cả vũ trụ kỳ bí và nhiều màu sắc này vào trong một chất điểm không lớn hơn đầu một que tăm, ở những giây phút khởi đầu của vũ trụ, để rồi cho nó bùng nổ như những hình ảnh của một chiếc kính vạn hoa vào trong cái cảm và nhận thức của con người. (1)

Vũ trụ mà chúng ta đang sống, với tất cả những kỳ bí ảo huyền sôi sục và linh động của nó, là một vũ trụ được con người cảm nhận và thức nhận—trong những giới hạn riêng của chính con người. Chữ viết cũng thế. Chúng mở ra những mã văn hóa. Mỗi người đọc văn mang theo với mình những chìa khóa riêng trong hành trình thám mã của chính mình. Văn bản, như thế, trở nên một trường ám ảnh, một trường thu hút, mà mỗi người đọc, trong thế giới kinh nghiệm và mộng mơ của chính hắn, cùng góp phần sáng tạo với nhà văn, nhà thơ.

Viết là tôn trọng sự tự do của kẻ khác, nói như J.P. Sartre. Viết cũng là mời gọi sự tự do đó. Sartre không muốn bàn về thơ. Cái viết, trong suy tư và nhận thức của ông, chỉ nhắm vào văn. Ông có cái lý của ông trong những biện luận để trình bày thái độ và cung cách “dấn thân” của mình. Nhưng thật ra, việc viết như một sự tôn trọng tự do của kẻ khác, nếu áp dụng vào việc viết và đọc thơ, cũng không có gì khác. Nhất là vì chúng ta bây giờ không như Sartre ngày đó, bị giam hãm trong vai trò của mình như một người phải lên tiếng trả lời cho những tấn công và nghi ngờ của những trí thức cùng thời, cũng như không bị giam hãm trong những luận lý của một khung “dấn thân” mà nhà triết gia muốn bảo vệ. Thơ, thật ra, cũng đòi hỏi tự do và cũng mời gọi tự do nơi người đọc nó.

Đọc một bài thơ không hẳn chỉ là chuyện tìm vào tâm hồn của người làm thơ. Đọc một bài thơ, rất nhiều khi, là tìm vào tâm hồn của chính mình. Đọc một bài thơ là đi ngược trở về những “đường xưa lối cũ” trong ta, là sờ mó trở lại những vết thương cũ, cảm nhận lại tiếng máy đập của chính trái tim mình trong những bình minh mưa hay nắng ngày nào, là nhìn ngắm trở lại những phong cảnh, đất đai, vườn tược, đồng bằng, núi non mà một lần nào đó, trong đời, ta đã bắt tay từ giã. Đọc một bài thơ là nghe ngóng lại đời sống mình, bằng cách dò tìm vào trong những mặt chữ của tổ chức bài thơ, của cấu trúc thơ, những hang động thâm u dẫn ta giáp mặt với những ám ảnh thiết tha xa vắng. Cũng có khi, trên những mặt chữ, ta tìm thấy được những con hẻm nhỏ dẫn ta đi ngược trở về những ngõ thu phong, những trời xanh mây trắng và những lá đỏ hoa vàng đâu đó trong đời đã làm xao động lòng ta. Lúc ấy, ta sẽ cảm nhận lại được tiếng những bước chân khắc khoải của mình trong tiếng gió nhẹ của thời gian.

Đọc thơ là sáng tạo lại đời sống. Trước hết, đời sống của chính mình. Người làm thơ, qua cái mã của những hình ảnh và tư tưởng trong chữ viết của mình, tạo nên được những hồi quang từ những kinh nghiệm và những rung động của hắn trong đời. Người ấy, qua công việc đó, đã mã hóa những cảm xúc, những suy tư rung động, những tiếng khóc nụ cười của mình vào một tổ chức của chữ và nghĩa mà ta gọi là thơ. Nói tóm, người ấy đã mã hóa một mảnh sống của họ, của cá nhân họ như một con người văn hóa, vào trong bài thơ. Người đọc, khi bước vào bài thơ, không nhất thiết phải tìm ra được tất cả những mã mà người viết, trong lúc sáng tạo, đã để lại đâu đó trong bài thơ của mình, để có thể thật sự thưởng thức bài thơ ấy. Hành động viết và đọc đều đòi hỏi sự tự do. Nếu không có tự do, con người sẽ đọc trong bóng tối. Và trong bóng tối, người ta không thể thấy được những hồi quang của đời sống hay của chính lòng mình. Đọc là đọc với tự do. Công việc phê bình hệ tại cũng chính ở sự tự do đó. Chính tự do đã tạo ra diện mạo của tác phẩm, của tác giả, và của cả chính người đọc. Nó cũng tạo nên màu sắc cho đời sống.

Người đọc thơ, để thưởng thức một bài thơ—hay đúng hơn, để hạnh phúc với một bài thơ—không nhất thiết phải tìm được hoặc có những mã văn hóa, trong vốn sống của mình, trùng khít với những mã đã được nhà thơ đặt để đâu đó trong bài thơ của hắn. Người đọc, thật ra, chỉ cần bắt được một vài mã căn bản, chính yếu của bài thơ, một vài tín hiệu chấp chới trong cái không gian bao la bát ngát của thơ, là có thể từ đó, với tự do của mình, bước vào để cảm nghiệm và thức nghiệm bài thơ. Một tác phẩm văn học được sáng tạo không hẳn chỉ trong ý thức của kẻ sáng tạo, mà, nhiều phần, còn là trong vô thức của hắn. Cũng thế, nó không chỉ được tiếp nhận với ý thức của người thưởng ngoạn, mà, chính yếu là, bằng và qua vô thức của người ấy—cái vô thức đã trở nên xương thịt của đời sống tinh thần hắn, đã trở nên dòng máu và hơi thở hắn, làm cho kẻ tiếp nhận trở nên một con người văn hóa trong những nghĩa mà nó có thể có. Người thưởng ngoạn, như thế, tiếp cận tác phẩm với toàn thể con người thịt xương cũng như con người mộng mơ, suy tư, ước muốn của mình.

Sự tiếp nhận vì thế, bây giờ, sẽ là một hiện tượng giao thoa. Ấy là lúc các trường ám ảnh, trường liên hệ, trường thu hút trong không gian tâm hồn của người đọc thơ giăng những sóng ngang sóng dọc vào cái không gian của người làm thơ (hay đúng hơn, vào cái không gian tâm hồn của người làm thơ khi hắn sáng tạo ra bài thơ ấy). Tùy vào độ rung của sóng, tùy vào số lượng sóng, cũng như tùy vào tính chất của sóng, mà người đọc thơ sẽ có một bài thơ riêng cho hắn ta. Hắn đọc thơ, cùng lúc, sáng tạo chung với người làm thơ một bài thơ mới. Và một bài thơ, như thế, không hẳn là một bài thơ. Nó sẽ là bao nhiêu bài thơ chưa được viết ra. Bởi lẽ, có bao nhiêu người đọc thơ là có thể có bấy nhiêu bài thơ mới. Những bài thơ ấy không hề giống nhau. Chúng không đứt cuống trong nguyên mẫu, nhưng trong tiến trình thẩm thức và sáng tạo của mỗi người đọc thơ, chúng có những khuôn mặt khác hẳn nhau.

Số lượng những bài thơ phái sinh—những bài thơ được sinh nở như những sinh thể được tạo ra trong một môi trường có điều kiện tạo nên sự sống, là cái bài thơ tiên khởi của một người làm thơ nào đó—có thể tăng lên gấp nhiều lần. Bởi lẽ, không những là ta có những bài thơ khác nhau của mỗi người đọc thơ khi cùng đọc một bài thơ, mà ta còn có thể có cả những bài thơ khác nhau của mỗi người đọc thơ trong những lần đọc khác nhau trong cả cuộc sống hắn. Những kinh nghiệm mà hắn thu nhận được mỗi ngày trong cuộc sống sẽ làm cho cái đọc của hắn trở nên khác đi. Và, như thế, hắn không đọc lại một bài thơ cũ. Hoặc có thể, hãy cứ cho là hắn đọc lại một bài thơ cũ, nhưng cái bài thơ hắn đọc và cảm và sống với, bây giờ, không còn là cái bài thơ cũ mà ngày xưa, trong một lúc nào đó của cuộc sống, hắn đã từng đụng chạm vào. Bây giờ là một bài thơ khác, nhú lên như một búp hoa thẹn thò thơ ngây từ những kinh nghiệm xác thân cũng như tinh thần của hắn trong cuộc sống, từ những khát khao mộng mị, những trăn trở dày vò, những rã rời hân hoan hay những hưng phấn chìm đắm của riêng hắn trong những ngày tháng sau lần tiếp xúc trước của hắn với bài thơ. Kẻ đọc thơ kia, hắn không còn là hắn của lần đọc thơ trước. Hắn đã thay đổi. Và một bài thơ mới ra đời.

.2.

Lý luận tiếp nhận văn học là một nửa của lý luận văn học. Một nửa rất quan trọng. Nếu lý luận văn học đã được nhìn nhận như một hệ thống, vào khoảng giao thời giữa thế kỷ XVIII và XIX, để nhận thức đời sống văn học cũng như đời sống con người, thì lý luận về tiếp nhận văn học chỉ mới ra đời trong khoảng gần năm mươi năm trở lại đây. Bàn về lý luận văn học, người ta thường chỉ nói đến khía cạnh sáng tác chứ ít hoặc không để ý gì đến một khía cạnh khác cũng không kém phần quan trọng của văn học là khía cạnh tiếp nhận. Trong lý luận tiếp nhận, vai trò của người đọc được coi trọng. Tùy vào quan niệm cũng như sự nhấn mạnh đến những khía cạnh đặc thù của việc tiếp nhận nơi những nhà lý luận văn học khác nhau (đa số là Nga và Mỹ) mà sự tự do của người đọc có thể được đề cao một cách tuyệt đối hay được trình bày, ít nhất, ở một giới hạn như là một yếu tố không thể bỏ qua của đời sống và giá trị của tác phẩm văn học.

Tác phẩm văn học, bây giờ, đối với nhiều nhà lý luận, được coi như một quá trình. Nó được sáng tạo bởi nhà văn, nhà thơ, nhưng sự sáng tạo ấy không hẳn là đã chấm dứt sau khi kẻ sáng tạo viết xong hàng chữ cuối của tác phẩm mình. Tác phẩm là một quá trình. Sự tồn tại của nó có thể được nhìn ngắm ở những dạng, những khía cạnh, hay những giai đoạn khác nhau: chủ ý của tác giả, sự tưởng tượng và những sức mạnh vô thức dẫn dắt kẻ sáng tạo trong khi thực hiện tác phẩm của mình, văn bản (một dạng mà trước đây người ta thường cho là thể hiện của sự hoàn tất tác phẩm), sự khách thể hóa ý định của tác giả trong một cấu trúc mang đầy mã, đầy tính ký hiệu, và sự cảm thụ của người thưởng ngoạn—như một con người văn hóa. Và con người văn hóa này cũng không tránh khỏi những chi phối giằng giật của vô thức tập thể mà trong đó hắn sống cùng, cũng như vô thức của chính hắn qua những kinh nghiệm xương thịt trong đời. Và vì tác phẩm là một quá trình, như thế, ta có thể nói: khi nào còn người thưởng ngoạn thì bấy giờ tác phẩm cũng chưa hẳn là đã hoàn tất theo nghĩa mở rộng của nó. Nó còn tiếp tục được sáng tạo. Mỗi một cá nhân người đọc có thể làm mới tác phẩm, và, trong một nghĩa nào đó, tạo ra một tác phẩm khác so với nguyên bản. Cũng thế, mỗi một thế hệ, mỗi một thời đại có thể có cách thẩm định, đánh giá, tiếp nhận tác phẩm một cách khác nhau, theo cách cảm, cách nghĩ và theo xu thế của thời đại ấy.

Norman Holland, nhà lý luận và nghiên cứu văn học Mỹ, đã có một nhận xét sâu sắc khi cho rằng tiếp nhận là quá trình cái tôi đem nội dung vô thức chuyển thành nội dung ý thức, và, chính bởi thế, tác phẩm được nhìn nhận như sự biểu hiện và ghi dấu của sự sống cũng như cá tính của người đọc. Một câu nói đã trở thành nổi tiếng của ông là “Việc giải thích [tác phẩm] là một hàm số của cá tính” (“Interpretation is a function of identity”). (2) Tác phẩm văn học, bây giờ, trở nên một cái cớ để mỗi kẻ thưởng ngoạn, với cá tính riêng của mình, giải thích nó, soi chiếu nó, và trong sự soi chiếu cũng như giải thích ấy, hắn tìm lại được chính bản thân mình.

Đọc thơ, cũng như đọc văn, như thế, không còn là đọc về người khác. Nó không phải là cái đọc về sự cảm nhận, suy nghĩ, rung động, tưởng tượng, ước mơ, ham muốn, thiết tha… của kẻ sáng tạo nữa. Có đấy, nhưng điều đó, bây giờ, chỉ là một hiện tượng nhiều phần có tính biểu kiến. Cái đọc bây giờ là để tìm lại chính mình, để phục chế con người mình, con người bị tan tác và mất hút, nhiều khi, trong những manh mún rối ren của đời sống hằng ngày, trong trò lắp ráp của đời sống này đã chia cắt tâm ý của chúng ta thành những linh kiện khác biệt trong những vai trò đầy những ngộ nhận của đời sống.

Đọc, bây giờ, là để đi tìm lại cái hồn của chúng ta sau những cơn thất tán, những nỗi thất tung, và sau những cuộc co kéo giằng giật với đời.

Chúng ta, mỗi người, trong sâu thẳm của lòng, hãy thử tìm đọc lại cho riêng mình một bài thơ cũ.

bùi vĩnh phúc

XII – 1996

Xem lại và bổ sung: IX – 2017

________________________________________

Chú thích:

(1) Bài viết này là một dạng tiểu luận văn học mang nhiều chất thơ; bởi thế, nếu đưa một chú thích khoa học vào đây có lẽ sẽ không hoàn toàn đúng chỗ, mặc dù có thể cần thiết. Dù sao, có độc giả đã tỏ ý muốn được biết thêm về nguồn gốc khái niệm có tính cách lý thuyết về vũ trụ (“tất cả vũ trụ kỳ bí và nhiều màu sắc này [đã được nén] vào trong một chất điểm không lớn hơn đầu một que tăm, ở những giây phút khởi đầu của vũ trụ”) mà tôi đã diễn tả trong bài. Họ nghĩ rằng điều này vô lý, và khái niệm “không lớn hơn đầu một que tăm” là một khái niệm giả. Về điều này, xin độc giả tìm đọc một bài báo khá dài mang tựa đề “Big-Bang Discovery Makes A Star Out of An Astrophysicist” (Los Angeles Times, Sunday, May 10, 1992, phần The Nation). Xin phép được trích một đoạn ngắn có liên hệ mật thiết đến khái niệm được diễn tả: “Theorists have come to the remarkable conclusion that all of the matter of the universe—and all of the space as well—was initially contained in an infinitely dense ball smaller than the period at the end of a sentence…” (“Các nhà [vật lý] lý thuyết đã đi đến một kết luận đáng lưu ý [và có tính khác thường] này là, tất cả vật chất trong vũ trụ này—và tất cả không gian nữa—đã được dung chứa, ở lúc khởi đầu, trong một điểm tròn [một trái banh] được nén thật chặt không lớn hơn dấu chấm ở cuối một câu viết.”) Dĩ nhiên, người Âu Mỹ không thường dùng ý niệm “đầu que tăm” trong những dẫn giải khoa học của họ, vì hình ảnh “que tăm” không nằm trong khung văn hóa của đời sống họ. Nhưng những cách diễn ý về [độ lớn của] “đầu que tăm” và [độ lớn của] “dấu chấm cuối câu” chỉ là những cách nói khác nhau để chỉ cùng một khái niệm có tính cách lý thuyết về nguồn gốc của vũ trụ đang được nhiều nhà vật lý lý thuyết tin tưởng. Khám phá này, được thực hiện bởi nhà vật lý lý thuyết George Smoot, thuộc Lawrence Berkeley Laboratory, qua những dụng cụ được đặt để trên vệ tinh Cosmic Background Explorer (COBE), đã được rất nhiều người hoan nghênh. Bài báo nói tiếp, “Nhà vũ trụ học Stephen Hawking của Cambridge University, người được thế giới xếp loại cùng với nhà bác học Albert Einstein như là một trong những nhà vật lý lý thuyết hàng đầu của thế kỷ, đã nói trong bài phát biểu của mình về sự khám phá của George Smoot: “Đây là sự khám phá [vĩ đại] của thế kỷ này, nếu không muốn nói đó là sự khám phá [vĩ đại] của mọi thời” ”.

(2) Normand Holland, UNITY IDENTITY TEXT SELF. PMLA 90, số 5 (tháng Mười, 1975): 813-22. Được trích lại trong “Reader Response Criticism: from Formalism to Post-Structuralism”, do Jane P. Tompkins chủ biên (Baltimore and London: The Johns Hopkins University Press, 1980.)

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


2 bình luận »

  • Vũ Đăng Khoa viết:

    Tác giả BVP viết :”Sự tiếp nhận vì thế, bây giờ, sẽ là một hiện tượng giao thoa. Ấy là lúc các trường ám ảnh, trường liên hệ, trường thu hút trong không gian tâm hồn của người đọc thơ giăng những sóng ngang sóng dọc vào cái không gian của người làm thơ (hay đúng hơn, vào cái không gian tâm hồn của người làm thơ khi hắn sáng tạo ra bài thơ ấy). Tùy vào độ rung của sóng, tùy vào số lượng sóng, cũng như tùy vào tính chất của sóng, mà người đọc thơ sẽ có một bài thơ riêng cho hắn ta.”

    Theo mạch văn của tác giả, độc giả có thể hiểu dụng ý của tác giả là áp dụng khái niệm trường trong vật lý (field) để “ẩn dụ” về hành động thưởng thức thơ của độc giả Nếu đúng như thế, độc giả xin xin có vài thắc mắc

    “In physics, a field means that a physical quantity is assigned to every point in space (or, more generally, spacetime).(…) A field is seen as extending. For more complicated fields, there are more than one number for each point in space. They are called vector fields or tensor fields. For example, one can model a gravitational field by a vector field where a vector indicates the acceleration a mass would experience at each point in space. Other examples are temperature fields or air pressure fields, which are often illustrated on weather reports by isotherms and isobars by joining up the points of equal temperature or pressure respectively”(Nguồn: https://simple.wikipedia.org/wiki/Field_physics) Dùng định nghĩa trên, qua phần giải thích của tác giả BVP,có thể hiểu: độc giả thưởng thức thơ đựợc tác giả BVP đặt vào trong trường bị tác dung bởi hơn “one number”(ghi chú: xin xem phần trích dẫn trên). Đó là:trường ám ảnh,trường liên hệ, trường thu hút. Xin được hỏi tác giả BVP:

    1. Thay vì viết “các trường ám ảnh, trường liên hệ, trường thu hút” ta có thể viết một cách chính xác hơn như: “trường ten sơ gồm: ám ảnh, liên hệ, thu hút”?

    2. Người ta dùng đơn vị gì đễ đo lường trường liên hệ và trường ám ảnh?

    3. VN bây giờ dịch tensor field là trường ten sơ, ông có đồng ý không? Nêu không, ông dịch như thế nào?

    Trân trọng cảm ơn

  • Bùi Vĩnh Phúc viết:

    Kính tác giả Vũ Đăng Khoa:

    Trước hết, xin thưa thật: Ông làm tôi rất sợ! Ông đem “chuyên môn vật lý Wikipedia” vào để hỏi tôi về “trường”, một từ ngữ rất thường thấy (không nhất thiết là chỉ ở lĩnh vực vật lý) trong báo chí, trong văn học, v.v., thì quả là đáng sợ thật.

    Dù sao, vì ông đã cho biết là ông hiểu tôi dùng từ “trường” theo nghĩa ẩn dụ thì tôi xin được thưa như sau: “Trường” có nhiều nghĩa. Có nghiã rộng, nghĩa hẹp; có nghĩa chuyên môn (như trong Vật lý, trong Toán), và có những nghĩa tổng quát. Ông có thể tham khảo bất cứ từ điển nào trên mạng hay trên giấy để kiểm chứng điều này. Trong bài chủ, tôi dùng một vài hình ảnh mang tính vật lý, nhưng đúng như ông hiểu, “trường” ở đây, trong văn học, vẫn chỉ mang màu sắc ẩn dụ.

    “Ẩn dụ”, một cách tổng quát, là một so sánh ngầm, dùng điều này để chỉ, để nói điều khác (Ông có thể tham khảo thêm chuyên luận “Ẩn Dụ: Cuộc Phiêu Lưu Của Chữ”, của tác giả Trần Hữu Thục, mà tôi có hân hạnh viết bài Tựa). Tôi đã dùng những cụm “trường ám ảnh, trường liên hệ, trường thu hút” theo nghĩa ẩn dụ. Còn nếu muốn hiểu theo nghĩa thường, “trường” cũng có thể được hiểu giản dị là “the region in which a particular condition prevails, especially one in which a force or influence is effective regardless of the presence or absence of a material medium.”, hay “the force exerted or potentially exerted in a field: “the variation in the strength of the field” “ (Oxford Dictionary, xem https://search.yahoo.com/yhs/search?hspart=trp&hsimp=yhs-001&type=39883_061017&p=%22field%22++define ). Tôi không dùng nó theo nghĩa chuyên môn vật lý như ông dẫn, hay như trong Toán, kiểu “a set of mathematical elements that is subject to two binary operations the second of which is distributive relative to the first and that constitutes a commutative group under the first operation and also under the second if the zero or unit element under the first is omitted” (https://www.merriam-webster.com/dictionary/field).

    Hai câu đầu ông hỏi, tôi xin không trả lời, vì chúng “irrelevant”, như đã nói trên. Các “trường” ở đây được dùng theo nghĩa ẩn dụ. Câu thứ ba, theo thiển ý, có nhiều từ trong các lĩnh vực chuyên ngành, như computer chẳng hạn, được các chuyên gia VN dịch trong sự hiểu biết chuyên môn của họ về ngôn ngữ và về lĩnh vực ấy. Dĩ nhiên sẽ có nhiều từ mà người ở ngoài giới nghe khá lạ tai. Chính cụ Hoàng Xuân Hãn, khi dịch các từ về Toán, về khoa học, sang tiếng Việt, ban đầu, cũng làm nhiều người bỡ ngỡ. Thậm chí bực bội. Nào là vi phân, tich phân, rồi đạo hàm, hình học giải tích, v.v. Nhưng rồi ta cũng quen dần. Và ta biết là cụ HXH đã có những đóng góp rất lớn vào việc chuyển ngữ các từ khoa học, giúp cho sự chuyển tiếp tốt đẹp từ chương trình Pháp sang Việt, tạo cơ hội cho sinh viên Việt có thể học tập, nghiên cứu thẳng bằng tiếng nước mình.

    Về từ “tensor field”. Dịch là “trường ten sơ” cũng là một cách dịch. Xin để cho các chuyên gia trong ngành suy nghĩ thêm. Nhân tiện, xin ghi nhận là, cũng giống như ngành “topology” được Việt Nam bây giờ dịch thành “tô pô” hay “tô pô học”. Dịch âm. Trước 1975, nó được dịch là “vị tướng học”, hay “hình học vị tướng” (vì, trong tiếng Hy-Lạp, “topos” là “nơi chốn” và “logos” là “nghiên cứu”). Dịch âm hay dịch nghĩa đều có cái lý và cái hay của nó.

    Trân trọng,

    bvp

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch