Trang chính » Bàn Tròn: Chiến Tranh Việt nam, Chụp và Chép, Chuyên đề Flash, truyện thử nghiệm Email bài này

Những mẩu chuyện về Việt Nam


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 29.09.2017

LTS: Nhân dịp phim tài liệu 18-tiếng The Vietnam War của đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick hiện được chiếu toàn quốc trên đài truyền hình công cộng PBS của Hoa Kỳ, chi nhánh địa phương của đài PBS là đài WETA 26 tại Thủ đô Hoa Thịnh Đốn đã kêu gọi khán giả gửi hình ảnh và những kỷ niệm cá nhân hoặc gia đình liên hệ đến chiến tranh Việt Nam để đăng trên “bức tường” The Vietnam War: Share Your Stories.  Tạp chí Da màu xin mời quý độc giả xem những hình ảnh và kỷ niệm đã được chọn lọc và trích dịch từ tường Việt Nam của WETA, trong tinh thần Chuyên đề Truyện Chớp/Truyện Thử Nghiệm … không biên giới. Mỗi mẩu chuyện dưới đây đã được chọn từ từng cái nhìn: chủng tộc, giới tính, tôn giáo, chính trị và văn hóa.

Khái niệm montage kết tựu những trải nghiệm hiện thực hoặc lời khai của nhân chứng thành nghệ thuật đã được nhà thơ Hoa kỳ gốc Do thái Charles Reznikoff biểu diễn qua tập thơ Testimony (Lời Khai) (1965) và Holocaust (1972). Hy vọng những câu chuyện dưới đây sẽ dệt thành một bức thảm đa diện về hồi ức, hiện tại và tương lai của kinh nghiệm Việt nam.

 

Viet girl in village outside L.Z. Baldy. 1968.

“Bé gái Việt nam, cũng có thể là lai Pháp, trong một tỉnh lỵ gần trại lính Baldy của Không quân Mỹ, thung lũng Hiệp Đức, hướng Đông Nam Chu Lai,  Quảng Ngãi, 1968. Hãy chú ý đồ khui hộp P-38 mà con bé đeo lủng lẳng như nữ trang trên áo. Đúng là nó đã chuẩn bị tiếp thụ khẩu phần C-ration! Dáng điệu của nó y như người kiểu mẫu. Tôi mong nó đã sống sót.” – Hawk (Diều Hâu)

Brothers in Arms

“Clyde Nelson (đứng, trái) Adam Monahan (đứng, phải), anh ruột tôi, John Chiarella (ngồi, phải), và Vincent Napoli (ngồi, trái). Anh Johnny sang Việt nam từ tháng 10, 1967 tới tháng 11, 1968. Anh sang chỉ mấy tháng trước Tết Mậu Thân. Anh ở trong sư đoàn bộ binh 101. Bức hình này vẫn ám ảnh tôi – tôi nghĩ nó đã có thể là một hình bìa của Tạp chí LIFE. Nó giống như phiên bản Việt nam của bìa album Sgt. Peppers [của ban nhạc Beatles.] Anh tôi viết nguệch ngoạc mấy chữ làm tựa ở phía trên, vỏn vẹn: The Nam – 67-68.  Anh tôi sinh ngày 31 tháng 7 năm 1948 và mất năm 1999 lúc 51 tuổi. Tôi biết anh được lên thiên đàng vì anh đã phải sống tuổi trẻ ở địa ngục.” – Lou

American female army seargeant photo with Vietnamese male manicurist

“Khi hồi tưởng lại thời gian ở Việt nam, tôi thực sự không thể hiểu chuyện gì được vị Chỉ huy đoàn coi là quan trọng. [Phụ nữ] chúng tôi được gửi sang Việt nam trong đồng phục Hạng B, giầy cao gót và vớ mỏng. Hầu 99% những phụ nữ trong quân đội Mỹ không được mang vũ khí …. Nhưng chúng tôi được theo học lớp trang điểm hoặc ủi quần áo. Cốt cách bề ngoài là điều tối hậu.” —Donna Lowery, Trung sĩ Bộ binh Hoa kỳ, Việt nam, trích từ Women Vietnam Veterans: Our Untold Stories. Theo lời bà Lowery, lính phụ nữ trong Bộ binh Hoa kỳ được đi làm tóc thường xuyên trong trại, nhưng quân đội Mỹ không phác thảo kế hoạch sơ tán hay những phòng bị khẩn cấp cho họ.

Mormon translators

“Dùng máy ảnh Kodak Instamatic, tôi đã chụp một bức ảnh lịch sử vào một ngày Chủ nhật tháng 12 năm 1969, tại một ngôi nhà tư nhân ở đường Công Lý, Sài gòn, trong một buổi họp của Hội thánh Mormon, địa phận Sài gòn. Bức hình chụp Giáo trưởng và [Nữ] Giám đốc Hội Tài trợ đang trong lúc bận rộn dịch Kinh thánh MormonLời Truyền của Giáo Chủ Joseph Smith từ Anh ngữ sang Việt ngữ. Lúc đó, tôi là lính mới sang Việt nam, 23 tuổi, hạ sĩ trong quân đội Mỹ, làm việc truyền tin và sửa máy tại tiểu đoàn Tín hiệu [xã] Phú Lâm thuộc Đệ nhất Lữ đoàn Tín hiệu. Sau khi Sài gòn thất thủ, cả hai vị đều bị chính quyền hành hạ và ngược đãi, cho đến khi họ được sang Mỹ sinh sống. Câu chuyện của họ – “Thoát Khỏi Hang Hùm” đã xuất hiện tháng 6 năm 1989 trên tạp chí Ensign của Hội thánh Mormon. Hiện nay, Hội thánh Mormon đã được chính quyền Hà nội chính thức nhìn nhận, và sự bức hại tôn giáo đã chấm dứt.” – John

 

Dat parents

Trong vòng 10 năm qua, khi sức khỏe bố tôi càng ngày càng suy yếu, tôi không rõ có lúc nào ông đã chấp nhận chuyện ông sẽ lìa đời trên đất Mỹ. Cho đến lúc tôi lên 10, lúc nào tôi cũng nghe ông nói rằng Việt nam là nơi ông sẽ một ngày trở về. Ông gần như cả quyết rằng cuộc sống lưu vong chỉ là tạm bợ. Ông và những người bạn của ông – chính khách, nhà báo, thường thức đêm bàn chuyện phục quốc. Nhưng họ thề sẽ không bao giờ trở về khi Cộng sản còn cầm quyền.

Khi còn học trung học đệ nhất cấp, tôi nhớ đã có lần mặc áo T-shirt “Dân chủ cho Việt nam,” có thể được ảnh hưởng từ phong trào Thiên An Môn bên Trung quốc. Nhưng đến một lúc nào đó, sau đợt đột quỵ đầu tiên, bố mẹ tôi đi mua hai phần đất nằm sát cạnh nhau trong một nghĩa trang gần nhà. Đến một lúc nào đó, những câu chuyện trở về đã chấm dứt. Bố tôi chứng kiến chuyện Tổng thống Clinton tái lập quan hệ ngoại giao và thương mại với Việt Nam.  Tôi nhớ ông nói rằng đó chỉ là một thắng lợi nhất thời cho người dân Việt nam nhưng là một thắng lợi dài hạn cho chính quyền Cộng sản. Sẽ chả còn ai màng tranh đấu cho tự do khi chủ nghĩa tư bản đã vào bờ –  Đạt.

 

Steve at orphanage
“Lúc đó tôi là nhân viên y tế Không quân, được gửi tới một đơn vị chiến đấu ở căn cứ Không quân Phú Cát.  Đó là một trại “đóng” – không an toàn cho bất cứ ai muốn đi vào những khu làng lân cận. Nhưng tôi thường được xuất trại qua những chuyến y tế công dân, đến thăm những ấp, trường học và viện mồ côi trong khu vực. Tôi không rõ nếu chúng tôi đã được lòng và trí dân nhưng tôi biết sự tiếp xúc này đã giúp tôi. Đây là hình chụp tôi làm quen với các em bé trong ấp.”   – Steve

 

Lauren Vuong and Family on Rescue  Ship 1980

“Cuộc hành trình đến Mỹ của gia đình tôi chắc không khác lắm với những thử thách của dân tị nạn Trung Đông ngày hôm nay. Cha tôi, một thành viên của chế độ miền Nam Việt Nam, bị giam trong 4 năm sau cuộc chiến. Lúc còn bé, tôi đã được nhắc nhở hàng ngày rằng ông là một kẻ phản bội; gia đình tôi không được ai chấp nhận. Cuộc đàn áp của chúng tôi kể như bất tận. Chỉ còn một lựa chọn –  vượt biển.

Chúng tôi dự trù một chuyến đi 8 ngày đến Phi Luật Tân. Chúng tôi có hai ngày thời tiết tốt. Những ngày khác chỉ là một khoảng mịt mù nồng nặc mùi chất thải của con người, sự co thắt liên tục của dạ dày, nôn mửa cho đến lúc tôi nghĩ mình sẽ chết. Tôi nhớ những bức tường đen cao của nước đe dọa sẽ nuốt chìm con thuyền gỗ mỏng mảnh của chúng tôi. Tôi nhớ sự đói khát xoắn chặt như dây thừng bao quanh mọi bộ phận cơ thể tôi. Trong thời gian đó, chúng tôi thấy 120 tàu đi qua. Không tàu nào dừng lại.

Vào sáng ngày thứ 10, bầu trời quang tạnh. Chúng tôi hết sạch thực phẩm và nước. Nhiên liệu ở độ thấp hiểm nghèo. Chuyện cập bến vô vọng. Kỳ diệu thay, một con tàu với lá cờ Mỹ đến gần. Chúng tôi được cứu sống.

 

American rescue ship

 

Tôi đã dành phần lớn quãng đời trưởng thành của tôi để truy tìm ông thuyền trưởng và nhân viên trên tàu đã cứu sống chúng tôi.  Nghĩa cử của họ tạo niềm tin cho tôi về lòng quảng đại của người Mỹ và lương tâm của tinh  thần nhân loại.”

Với tự giác và lòng biết ơn, tôi là Lauren Vuong.

Lauren Vuong là một luật sư ở San Francisco. Tháng 11 năm nay, cô và gia đình sẽ đến New York để hội ngộ với viên thuyền trưởng đã cứu sống cô và những người thân của cô từ 30 năm trước.

(WETA đăng lại link từ đài phát thanh KQED)

bài đã đăng của Nhiều tác giả


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch