Trang chính » Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Biên Khảo, Nhận Định, Phê Bình Email bài này

Đọc, giữa những ảnh xạ của phê bình (phần 1)

(Nhân đọc bài Những Nhà Phê Bình Văn Học Hải Ngoại của Bùi Công Thuấn)

the-yellow-books-vincent-van-gogh
Vincent Van Gogh, The Yellow Books (Những Quyển Sách Màu Vàng) (1887)

1.

Tôi vừa có dịp đọc bài Những Nhà Phê Bình Văn Học Hải Ngoại (1) của Bùi Công Thuấn, một người cầm bút ở trong nước. Một cách chung, bài viết là một nỗ lực ghi nhận dòng văn học ngoài nước, đặc biệt trong lĩnh vực phê bình. Trong cố gắng ghi nhận ấy, trước hết, bài viết của nhà văn/nhà phê bình Bùi Công Thuấn có vẻ muốn chia sẻ nhận định của ông về phê bình văn học hải ngoại, đồng thời cho thấy quan tâm và thiện chí của ông về lĩnh vực này. Tuy nhiên, đọc kỹ bài của Bùi Công Thuấn, người quan tâm có thể nhận thấy, ngoài một số phân tích có chiều sâu ở một mức độ nào đó, cũng như ngoài một số nhận định có thể có một mức độ khả tín và giá trị nhất định, bài viết có một số vấn đề của nó. Những vấn đề ấy khiến cho cái nhìn của tác giả bị lệch lạc, méo mó, thậm chí tạo hiểu lầm, gây một ấn tượng không hay về nỗ lực, mà tôi nghĩ có thể đã bắt đầu từ một thiện chí của tác giả, muốn nắm bắt một phần dòng chảy của văn học hải ngoại.

Là một người quan tâm đến văn học hải ngoại, trực tiếp tham gia đóng góp vào dòng văn học này ngay từ cuối thập niên 70, đặc biệt trong lĩnh vực phê bình, và cũng là một người được tác giả Bùi Công Thuấn nhắc đến trong bài viết của ông, tôi sẽ trình bày ở đây cái nhìn của tôi về một số điều mà tôi coi là có vấn đề, là không đầy đủ, thậm chí là sai chệch, trong bài viết của tác giả, trong nỗ lực nhìn lại bức tranh về phê bình văn học hải ngoại mà BCT vừa thực hiện. Điều này không có nghĩa là tôi phủ nhận thiện chí của tác giả, một nhà phê bình trong nước mà tôi đã có dịp theo dõi trong thời gian qua, với những bài viết và đóng góp bền bỉ và có những điểm sáng nhất định, đáng ghi nhận. Chẳng hạn những bài ông viết về thơ Thiền, thơ Lục bát, hay thơ Đường luật, v.v. Những bài viết có thể giúp cho các học sinh, sinh viên có những kiến thức để thêm hiểu và yêu thơ.

Ở đây, tôi sẽ đưa ra một số nhận xét về bài Những Nhà Phê Bình Văn Học Hải Ngoại nói trên, một bài nhận định mang nhiều nét phê bình, của tác giả BCT.

Những nhận xét, cũng là những quan tâm, về một số vấn đề của bài viết, hy vọng sẽ được coi là những chia sẻ, đóng góp đối với cái nhìn của tác giả BCT, có thể giúp cho những công trình tương lai của ông, nếu có, về văn học hải ngoại, nói chung, và về dòng phê bình văn học hải ngoại, nói riêng, có được sự cân bằng nên có. Để các đóng góp của ông được đón tiếp rộng rãi và với nhiều quý mến hơn. Bởi, chính tác giả, nơi cuối bài viết của mình, có lẽ cũng đã nhận ra là, hoặc ít nhất là đã có cảm thức là, ở một mức độ nào đó, trong những chiều hướng nào đó, bài viết của mình đã không trình bày được đề tài một cách cân bằng và thích đáng, nên sợ là nó sẽ “gây ngộ nhận và bị quăng gạch đá” (cụm từ của chính tác giả). Sự nhạy cảm đó là đáng quý và cần thiết. Nó cho thấy, về phía tác giả BCT, ít nhất, ở một mức độ nhất định, một sự tự ý thức, một sự tự tri về những ý kiến, nhận xét, quan điểm, nói chung là về chữ viết, của chính mình.

2.

Bài nhận định, phê bình của Bùi Công Thuấn có tựa đề là Những Nhà Phê Bình Văn Học Hải Ngoại, trong đó đề cập đến công trình, nỗ lực của bốn tác giả, bốn nhà phê bình ngoài nước, theo thứ tự trình bày trong bài của BCT, là Bùi Vĩnh Phúc, Thụy Khuê, Nguyễn Vy Khanh, và Nguyễn Hưng Quốc. Trong bài viết này của mình, tôi chỉ xin phép nói một ít điều về sự chọn lựa của tác giả BCT, cái nhìn toàn cảnh về phê bình văn học ngoài nước của ông, về phương cách nhận định, và về đánh giá của ông trong phê bình văn học, đặc biệt đối với những tác giả mà ông đã chọn lựa trong bài viết của mình. Tôi cũng sẽ xin phép trình bày, có lẽ kỹ hơn, về một số quan điểm, nhận định của ông dành cho phần viết về tôi. Vì chúng liên hệ đến vấn đề phương pháp phê bình và đến một số quan niệm mỹ học, văn học, thi pháp học, và nghệ thuật nói chung. Mục đích là để làm cho phần viết của tác giả được thêm sáng rõ và chính xác, đặc biệt giúp tránh sự hiểu lầm do một số câu chữ mà tác giả đã dùng với ý khá gán ép. Ngoài ra, tôi sẽ không nói gì nhiều hơn là một vài nhận xét tổng quát của mình về cách phê phán, đánh giá của BCT đối với những nhà phê bình còn lại. Điều đó, tôi nghĩ, những nhà phê bình này có chọn lựa riêng, và có tự do của họ.

Một điều nữa, tôi cũng nghĩ, mặc dù những độc giả đã từng theo dõi văn học hải ngoại, nói chung, có lẽ cũng có thể tự đưa ra những nhận xét, đánh giá của mình khi đọc bài viết của BCT, sự trình bày của tôi ở đây, cũng như bài viết của những tác giả, những nhà phê bình khác về vấn đề này, nếu có, cũng có thể điều chỉnh những sai chệch và làm sáng rõ thêm những vấn đề cần nói nơi bài viết của BCT.

Bùi Công Thuấn chọn, trong các nhà phê bình hải ngoại, để lấy ra bốn người, như tôi đã chỉ ra ở trên. Cách chọn lựa này, dĩ nhiên, có phần chủ quan của nó. Và, chắc chắn, tác giả có những lý do riêng của mình. Ở đây, như một người tham dự vào sinh hoạt văn học hải ngoại, đặc biệt trong lĩnh vực phê bình, tôi chỉ muốn nói là văn học ngoài nước, trong lĩnh vực này, chắc chắn có hơn bốn người mà tác giả đã kể tên.

Người trước hết mà tôi nghĩ đến là nhà phê bình Đặng Tiến, một người viết phê bình đã có tên tuổi trong đời sống văn học miền Nam trước 1975, và, cùng với một số nhà phê bình khác (có thể tạm kể như Cao Huy Khanh, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Nhật Duật, v.v.), đã có những đóng góp tích cực và nổi bật trong phê bình văn học thời ấy. Sau 1975, Đặng Tiến cũng đã tiếp tục đóng góp phần của mình trong phê bình văn học ngoài nước. Những khía cạnh đặc thù của phê bình văn học Đặng Tiến không nằm trong mục đích của bài viết này. Nhưng Đặng Tiến là một nhà phê bình văn học nên và phải được kể đến trong lĩnh vực phê bình văn học hải ngoại. (2)

Các nhà phê bình khác của văn học ngoài nước, một cách rất nhanh, xuất hiện trong trí tôi, tạm thời có thể kể là Võ Phiến, Trần Hữu Thục (cũng là một nhà văn, nhà biên khảo), Nguyễn Đức Tùng (một nhà thơ, nhưng cũng là một người viết tiểu luận, phê bình văn học), Nguyễn Tà Cúc (một nhà phê bình văn hóa, xã hội, nghiêng nhiều về phong cách nữ quyền luận), Đinh Từ Bích Thúy (cũng là một dịch giả, đồng chủ biên diễn đàn mạng Da Màu), Hoàng Ngọc-Tuấn (cũng là một dịch giả, đồng chủ biên diễn đàn mạng Tiền Vệ), Trịnh Y Thư (cũng là một nhà thơ, một dịch giả). Đó chỉ là một sự nhận diện rất nhanh, và hẳn là còn thiếu sót. Có thể còn có những tác giả khác với những đóng góp tốt đẹp trong tiểu luận và phê bình văn học ở hải ngoại mà chúng ta chưa có dịp tìm hiểu kỹ hơn.

Với những điều vừa trình bày, tôi nghĩ, ở một mức độ nào đó, phê bình văn học ngoài nước là một dòng thủy lưu có sức mạnh, sức cuộn chảy riêng của nó. Cùng với những lĩnh vực khác, như những nhánh tỏa ra của một hải lưu rộng lớn là văn học hải ngoại, phê bình văn học ngoài nước đã đóng góp phần của mình để làm nên cái phong phú của văn học hải ngoại. Nó trình hiện, soi sáng, bồi đắp và tạo nên cái phần tự-ý-thức cần thiết về mình của nền văn học Việt Nam ngoài đất nước. Một nền văn học ngoại vực. Do hoàn cảnh và định mệnh của lịch sử Việt tạo nên. Nhưng, cùng với văn học trong nước, văn học hải ngoại, trong đó có phê bình văn học, là một dòng chảy mãnh liệt của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XX, và đang bắc cầu qua đầu của một thiên niên kỷ mới.

3.

Trong suy nghĩ của tôi, khi viết về công trình (văn học) của một tác giả, người cầm bút nên có một nỗ lực chuẩn bị, tìm kiếm những tài liệu cần thiết để giúp cho mình có một cái nhìn đầy đủ, ít nhiều mang tính toàn bộ của tác giả và đề tài mà mình dự định trình bày. Người viết phải có công tìm tòi và đào xới cái phần quặng mỏ mà ông ta có được để, từ đó, đưa ra những trình bày, nhận định, đánh giá của mình. Đánh giá ấy có thể có những nét đặc biệt, bất ngờ, nhưng, ngoài một mức độ nào đó mà độc giả có thể cho phép phần chủ quan của người viết để lộ ra trong phần nhận định của mình, những đánh giá ấy phải có sự khách quan, cân bằng cần thiết. Những đánh giá của BCT, trong nhận xét của tôi, đáng tiếc, đã thiếu sự cân bằng, khách quan cần thiết mà tôi vừa nói. Bức tranh ấy cần thêm ánh sáng. Để làm cân bằng lại nhiều khoảng tối, cần thiết hoặc/và không cần thiết, mà tác giả đã vẽ ra.

Chẳng hạn viết về nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, tác giả đã bỏ qua rất nhiều những đóng góp của nhà phê bình này. Để chỉ tập trung vào quyển Thơ, v.v. và v.v. (3) . Và, trong quyển Thơ, v.v. và v.v., chỉ tập trung vào phần trình bày, lập luận của nhà phê bình về bài “thơ con cóc”. Trong phần nói về bài “thơ con cóc”, lại chỉ tập trung phê bình “âm tính”, phê bình tiêu cực, cái nhìn của NHQ mà BCT cho là “lố bịch”. Và, trong suốt phần nói về nhà phê bình này, tác giả bài viết đã không một lần nhắc đến tên của cuốn sách mà ông đang nói về, khiến cho những người đọc chưa có dịp tiếp cận cuốn sách của Nguyễn Hưng Quốc mất đi cơ hội biết rõ ràng về cuốn sách để, nếu muốn, có thể tự mình tìm hiểu thêm. Điều này, nếu không phải là một sự vô ý, thì là một cung cách phê bình còn thiếu nghiêm túc.

Thật ra, Thơ, v.v. và v.v. đúng là một cuốn sách đã gây được tiếng vang của Nguyễn Hưng Quốc. Ngoài việc đưa ra một cách nhìn mang tính “lật ngược vấn đề” về bài thơ con cóc, cuốn sách của NHQ còn trình bày được một số vấn đề về lý thuyết văn học khá lý thú, những vấn đề không mới đối với phê bình văn học thế giới, nhưng, cho đến thời điểm mà NHQ trình bày, nó vẫn còn là khá mới đối với phê bình văn học cả trong lẫn ngoài Việt Nam. Cuốn sách đã được sự chia sẻ, góp ý, tranh luận nghiêm chỉnh của ít nhất bốn người trong giới cầm bút là Đỗ Minh Tuấn, Thụy Khuê, Bùi Vĩnh Phúc, và Nguyễn Trọng Văn. (4) Bùi Công Thuấn, qua việc phê bình, góp ý này, ở một mức độ nào đó, và trong một chiều hướng nào đó, cũng đã đóng góp phần của mình vào việc nhìn về bài thơ Con Cóc cũng như về cách lý giải của Nguyễn Hưng Quốc. Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là khi giới thiệu Nguyễn Hưng Quốc như một nhà phê bình (ở hải ngoại), ông đã thu nhỏ tầm vóc của nhà phê bình cũng như những trước tác của NHQ. Để chỉ còn lại cái nhìn của NHQ về bài thơ con cóc. Và Bùi Công Thuấn đã đưa ra những đánh giá hoàn toàn tiêu cực về cái nhìn ấy. Và, qua đó, về nhà phê bình. Tôi nghĩ một sự giới thiệu và đánh giá như thế rất mất quân bình, không phản ánh được những công trình và đóng góp mang tính toàn bộ của NHQ.

Đối với ba nhà phê bình còn lại, ở những mức độ khác nhau, ông cũng có cách nhìn và đánh giá mất quân bình, mang tính “giảm trừ”, như thế.

Trong phần giới thiệu nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh, BCT lại đưa vào phần nhà phê bình này trả lời phỏng vấn nguyệt san văn hóa Hồn Quê năm 2003 khiến cho, một cách vô tình hay hữu ý, độc giả cảm nhận khung cảnh văn học có nét “phân chia phe nhóm”, thậm chí những nét tiêu cực, của văn học hải ngoại. Thật sự, trong sinh hoạt văn học của bất kỳ một thời nào, của bất kỳ một nền văn học nào, những chuyện này không có gì đặc biệt hay đáng ngạc nhiên. Văn học, trong những giai đoạn phát triển khác nhau của nó, bất kỳ ở đâu, bất kỳ ở thời nào, cũng cho thấy có những nhóm, những đoàn khác nhau, với những lập trường, khuynh hướng khác nhau. Từ đó, mỗi dòng văn học, mỗi khung cảnh văn học, lại cho thấy sự khác biệt, thậm chí đối chọi của những trào lưu, khuynh hướng tư tưởng dị biệt. Những điều này thể hiện ra thành những nhóm, những diễn đàn, những tập hợp khác nhau, với những đối chọi có khi mang những khía cạnh có thể nói là tầm thường, tiêu cực của chúng. Sự cạnh tranh, chia sẻ, đối chọi về mặt tư tưởng, ảnh hưởng của những đoàn, những nhóm ấy, nhìn một cách nào đó, có thể không phản ánh một hình ảnh tích cực. Nhưng, nhiều khi, chính sự khác biệt, “đa nguyên” ấy lại đưa văn học đến chỗ có nhiều màu sắc, làm cho một dòng văn học trở nên phong phú và tạo cơ hội cho sự phát triển.

Phần phát biểu trong trả lời phỏng vấn đó của nhà phê bình Nguyễn Vy Khanh (mà BCT chọn để đưa vào bài viết của mình), trong cái nhìn của tôi, là điều tự nhiên, cho thấy một vài nét (dù không có vẻ tích cực) của sự “đa nguyên” ấy. Nó có thể là tiếng nói cảnh tỉnh, cảnh giác. Nhưng để giới thiệu một nhà phê bình, tôi nghĩ là người ta nên tập trung nhiều hơn vào các công trình của ông ta. Và nhận định, đánh giá các công trình đó. Còn khi cần phải phê bình một nền văn học, ta có thể đặt vấn đề (nếu nhìn là tiêu cực) ấy trong bối cảnh riêng của nó để nghiên cứu một cách cẩn trọng hơn, với những phân tích trên các khía cạnh tâm lý, xã hội, văn học, chính trị, thậm chí dân tộc học, v.v., để xem xét các góc cạnh phát sinh, ảnh hưởng của chúng, hay khả năng giải trừ những khía cạnh (nếu xem là tiêu cực) ấy .

Cũng thế khi Bùi Công Thuấn giới thiệu nhà phê bình Thụy Khuê. Tôi nghĩ ông không cần nhắc đến việc Thụy Khuê đã giới thiệu cuốn Tiểu Thuyết Vô Đề của nhà văn Dương Thu Hương, và phản ứng của DTH về sự giới thiệu ấy. Điều đó không ảnh hưởng đến những trước tác của Thụy Khuê. Để giới thiệu, hay đánh giá, phê bình Thụy Khuê, hãy chú tâm vào những công trình của bà.

Và, để lập lại, một nhà nghiên cứu nghiêm cẩn nên có sự trình bày ở một mức độ khách quan, cân bằng tối thiểu cho bài viết của mình. Nhất là khi ta đang nói về cả một đời văn của người được nhận định, đánh giá. Cho dù đó có thể là một “cân bằng động”. Tức là, trong sự trình bày mang tính khách quan, cân bằng của nghiên cứu, phê bình, những động thái tiến, lui, những thao tác lập luận, phê bình, phân tích của người viết, trong trường hợp này là của BCT, có thể cho thấy bài nhận định, phê bình là một cơn sóng. Nó có thể tràn lên, đổ xuống, hay tạo ra những cơn xoáy, ở lúc này hay lúc khác, đoạn này hay đoạn kia của bài viết. Nhưng, nhìn một cách tổng thể, nó phải cho thấy sự cân bằng, khách quan tối thiểu. Có thế, bài viết mới tạo được sự tin tưởng nơi người đọc.

4.

Bùi Công Thuấn than thở: “Trở ngại lớn nhất của các nhà phê bình hải ngoại là thiên kiến chính trị.” Ông đã nhấn mạnh điều đó khi viết về Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc. Cũng thế, nhưng nhẹ hơn, đối với Nguyễn Vy Khanh. Còn với tôi, ông “nhẹ nhàng” hơn chút nữa trong đánh giá, “(…) bởi góc nhìn và thái độ nghiên cứu của nhà phê bình bước đầu đã thoát ra ngoài những thiên kiến chính trị khi nhìn sự vận động văn học”, khi nói về tham luận “Hai Mươi Năm Văn học Miền Nam (1954-1975): Phẩm Tính và Ý Nghĩa” của tôi. (5)

Thật sự, văn học nói chung, và phê bình văn học nói riêng, gắn liền với ngôn ngữ và tư tưởng. Như thế, văn học nói chung, và phê bình văn học nói riêng, sẽ luôn có thể gắn bó đến những suy nghĩ mang tính chính trị. Mà nói gì đến văn học hay phê bình văn học, con người, tự bản chất, là một “sinh thể chính trị”, một “political being”. Chỉ sống thôi, dù anh sống thế nào đi nữa, cũng hàm chứa trong hiện sinh ấy một thái độ chính trị, theo nghĩa rộng của nó. Như Aristotle đã nói, từ thế kỷ thứ IV trước công nguyên:

“(…) Con người , tự bản chất, là một con vật chính trị… Và trong khi âm thanh chỉ là dấu hiệu của khoái cảm hay đớn đau, và bởi thế cũng có thể tìm thấy nó nơi những loài động vật khác (vì bản chất của chúng cho phép chúng đạt được sự cảm nhận về khoái cảm và đớn đau cũng như biểu tỏ sự thân mật gần gũi của chúng với nhau, và chỉ thế mà thôi, không đi xa hơn), quyền lực, sức mạnh của tiếng nói cho phép con người phân biệt rõ sự thiết thực và cái vô ích, và cũng thế điều công chính và sự bất công. Và, như vậy, con người sở hữu một đặc tính: chính nó là động vật duy nhất có được cảm quan về sự lành và sự dữ, cũng như về điều công chính và cái bất công (…)” (6)

Việc một nhà văn hay một nhà phê bình văn học lựa chọn phô bày những suy nghĩ của mình với một hàm ý chính trị, hay diễn chúng ra một cách minh nhiên cùng những suy tư mang tính chính trị, là một chọn lựa trí thức mang tính cá nhân của mỗi người cầm bút, với những hoàn cảnh riêng, những nhu cầu tâm lý, xã hội và chính trị riêng. Không hề là có gì sai trái trong sự chọn lựa những phát biểu như thế. Vấn đề là nhà văn, nhà phê bình, thể hiện được cái nhìn hoặc/và mối quan tâm của mình. Mà không dính vào những hư tín hay ngụy tín.

Trong cuốn The Politics of Culture (7) của Antonín J. Liehm, với lời giới thiệu kỹ lưỡng của Jean-Paul Sartre, tác giả đã nói chuyện với 14 nhà trí thức người Czech và Slovak (gồm các nhà văn, nhà tiểu luận, triết gia, kịch tác gia, thi sĩ), trong đó có Milan Kundera, về vấn đề văn chương và chính trị, cũng như chính trị và văn chương này. Nó cho thấy những nỗ lực cao quý của người trí thức trong việc cổ xúy tính nhân văn và sự tự do trong chữ viết của người cầm bút.

Mở rộng ra, hãy đọc các nhà văn trong khuynh hướng nữ quyền luận, những gì họ viết ra đều mang ý hướng chính trị. Như Toril Moi trong bài “Feminist, Female, Feminine” trong quyển The Feminist Reader / Essays in Gender and the Politics of Literary Criticism chẳng hạn. Trong phần mở đầu của tiểu luận này, Toril Moi đã viết: “(…)“Phê bình nữ quyền luận”, bởi thế, là một dạng diễn ngôn chính trị rõ ràng: một thao tác mang tính phê bình và lý thuyết, nhiệt thành cho sự tranh đấu chống lại tính phụ hệ và sự kỳ thị giới tính, không phải đơn giản chỉ là một quan tâm về vấn đề giới trong văn học…” (8)

Cũng thế, nếu đọc các công trình và tác phẩm của Edward Said, một nhà phê bình văn học và văn hóa nổi tiếng, mang tầm vóc thế giới, mất vào năm 2003, ta cũng có thể thấy được những tư tưởng và chữ viết của ông đã phản ánh tính chính trị như thế nào. Khả năng diễn đạt qua ngôn ngữ và tư tưởng của ông là một thí dụ hoàn hảo cho việc kết hợp phân tích chính trị/lịch sử với diễn ngôn phê bình văn học.(9)
Bởi thế, việc xem là có “thiên kiến chính trị” trong phê bình văn học không phải là một điều gì có thể khiến cho một diễn ngôn phê bình trở nên mất giá. Vấn đề chỉ hệ tại ở chỗ thao tác. Việc kết hợp những ý kiến, tư tưởng mang màu sắc chính trị đã được trình bày như thế nào. Có xứng hợp không. Có thuyết phục không. Và việc kết hợp đó đã tạo ra được những hiệu ứng gì nơi văn bản phê bình. Và nơi người đọc. Việc đưa những kiến giải, phân tích, những liên hệ, liên tưởng mang tính chính trị vào diễn ngôn phê bình văn học, để lập lại một lần nữa, là một chọn lựa riêng của người làm phê bình văn học. Tự thân việc kết hợp, luận giải ấy không có gì đáng phàn nàn.

Điều oái oăm ở đây là tác giả Bùi Công Thuấn, trong khi phàn nàn là các nhà phê bình văn học hải ngoại phần lớn đều có “thiên kiến chính trị”, thì ông lại là người thường xuyên viện dẫn các nghị quyết của Bộ Chính Trị, báo cáo của Trường Chinh, quan điểm chỉ đạo của Đảng, v.v., trong nhiều bài viết (đa số là các tiểu luận, phê bình văn học) của mình. (10) Thật ra, ở một góc độ nào đó, điều này cũng có khía cạnh khả thủ của nó. Khi tác giả cảm thấy có những mặt, những hướng dẫn, những chỉ thị mà, qua đó, ông coi là những điều tốt, đáng ghi nhận, thích hợp với quan điểm và tín niệm nghệ thuật/mỹ học/văn học mà mình theo đuổi, tác giả có thể đưa chúng vào bài viết, trong những hoàn cảnh nhất định, để nhấn mạnh một luận điểm nào đó trong lập luận của mình. Vấn đề là sự tiếp nhận của người đọc. Nhưng khi chính mình đã thực hiện điều đó, bằng cách trích dẫn các đoạn trong các văn bản trên một cách khá thô nháp, thì tác giả lại phàn nàn về việc kết hợp những phân tích, luận giải mang tính chính trị của những người viết khác, về mặt hình thức có tính mềm dẻo, uyển chuyển hơn (tôi không bàn đến chuyện có khéo léo, hợp lý hay sâu sắc không trong sự kết hợp phân tích như thế ở bất kỳ một tác giả nào), thì rõ ràng là có một cái gì đó mang tính “tiêu chuẩn kép” ở đây. Một thứ “double standard” mà trong thao tác phê bình, nói riêng, cũng như trong các hành xử khác của cuộc sống, nói chung, ta nên tránh.

5.

Tôi cũng xin cám ơn Bùi Công Thuấn đã đưa ra một số nhận xét về các đóng góp của tôi. Dù sao, có những cuốn sách và tiểu luận của tôi không/chưa được phổ biến trên mạng (cho dù chúng đã được in ra, hoặc đã được phổ biến trên báo giấy nhiều năm về trước), một phần cũng vì tôi chưa thấy cần thiết lắm trong việc tái phổ biến rộng rãi chúng. Nhưng, tôi nghĩ, một người muốn làm công việc giới thiệu, thậm chí đánh giá những đóng góp của một người sáng tạo, trong bất cứ lĩnh vực nào, cho dù (và, nhất là, nếu) công trình của mình là một dạng “unauthorized”, nghĩa là không có sự đồng ý, chia sẻ ý kiến, hay sự chấp thuận của người được dùng làm đối tượng nhận định, phê bình, người làm công việc ấy lại càng tự cần tìm hiểu, bỏ thời giờ và công sức ra để đi lục tìm các tài liệu, hầu có đủ những dữ kiện cần thiết để làm tốt công trình của mình. Ở đây, có thể giống như những người viết phê bình văn học ở ngoài nước khác được đề cập trong bài viết của BCT, tôi nghĩ tác giả BCT đã chưa có được, ở mức nên có, những cố gắng cần thiết ấy. Dù, như đã nói, tôi nghĩ rằng khi cầm bút (hay gõ máy) viết bài viết này, BCT cũng đã bắt đầu nó với một thiện chí nào đó, và, có lẽ, cùng với một số tình cảm phức tạp khác. Nhưng, dù sao, trong hoàn cảnh viết như thế, bài viết của BCT đã cho thấy những sai lệch, khuyết lõm, khiến cho nó trở nên khá méo mó một cách đáng tiếc.

Ở đây, tôi sẽ xin phép bàn đôi điều về những nhận xét BCT đã có về (chữ viết của) tôi, trên căn bản một số bài của tôi mà ông đã có dịp đọc được trên mạng.

Để bắt đầu, BCT viết: Tôi gọi Bùi Vĩnh Phúc là nhà phê bình nghệ sĩ bởi ông viết phê bình văn học như một nhà văn viết tùy bút. Ông viết phê bình văn học như một người đọc thưởng thức tác phẩm. Ông nói rõ mục đích phê bình: “Khi ta cầm bút viết về bất cứ điều gì trong đời, cũng có nghĩa là ta cầm bút và viết về chính ta”.

Và ông trích dẫn một, hai đoạn mở đầu trong bài viết của tôi về Thanh Tâm Tuyền, trong bài “Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy”, chẳng hạn như đoạn sau:

Một buổi chiều, một buổi chiều nào đó, giam mình giữa dòng xe cộ trùng điệp của giờ tan sở, để chiếc xe tự động lăn theo dòng nối tiếp mệt nhoài, tâm tư ta lại nhớ về những buổi chiều cũ ở quê nhà. Những buổi chiều đã ngun ngún bay đi. Bay đi như khói thuốc, như hương khói mùa xưa. Những buổi chiều trời thắp mãi tiếng mưa sầu. Làm thế nào để quên được nhau. Hạt mưa kia long lanh nỗi nhớ niềm từ biệt, hoàng hôn bàng hoàng màu khói nhạt/ Ta chợt nhớ đến người thi sĩ ấy. Thanh Tâm Tuyền.” (11)

Và ông nhận xét: “Đoạn văn là tâm trạng của nhân vật trữ tình Ta với tất cả sự mơ mộng lãng mạn. Thơ Thanh Tâm Tuyền chỉ là chất xúc tác, là men say cho tâm hồn nhà phê bình bay lên. Vì thế, viết phê bình văn học, Bùi Vĩnh Phúc ít quan tâm đến việc khám phá những độc đáo nghệ thuật, những góc cạnh của cá tính sáng tạo; cũng không đánh giá các giá trị văn chương, mà chỉ thể hiện Cái Tôi trữ tình khi tiếp nhận tác phẩm nghệ thuật.

Và, sau đó, ông đưa thêm một nhận xét khác nữa:

“… Với cách viết phê bình như thế, Bùi Vĩnh Phúc đã gạt bỏ tất cả hoàn cảnh sống của Thanh Tâm Tuyền từ những tháng ngày trước 1975 đến những năm trong trại cải tạo và thời gian sống ở Mỹ, tức là không tìm đến bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội làm nên hồn thơ Thanh Tâm Tuyền, và vì thế không lý giải được những giá trị thơ Thanh Tâm Tuyền, càng không hiểu đúng về nhà thơ. Bùi Vĩnh Phúc đã không nhận ra những bước chuyển tiếp trong hành trình sáng tạo của Thanh Tâm Tuyền và không định vị được chỗ đứng của Thanh tâm Tuyền trong văn học sử Việt Nam đương đại. (Cũng có thể vì một lý do “nhạy cảm” nào đó đối với cộng đồng người Việt hải ngoại, Bùi Vĩnh Phúc đã im lặng?)”

Trước hết, tôi cám ơn BCT đã đọc và có một vài nhận xét như thế. Nhưng tôi xin được nói là, với cách viết ấy của BCT, trong thiện chí riêng của mình, tôi nghĩ rằng ông đã không đọc hết bài viết ấy của tôi. Hoặc là ông có đọc, nhưng, vì một lý do nào đó, BCT đã cắt bỏ hết tất cả các phần khác của bài viết trong suy nghĩ của ông, tránh việc nhắc đến cấu tứ cũng như nội dung toàn bài tiểu luận ấy. Bài tiểu luận này về Thanh Tâm Tuyền của tôi đã được phổ biến ở nhiều địa chỉ trên mạng. BCT có nhắc đến tên bài ấy, nhưng lại không đưa đường dẫn. Tôi xin phép được dẫn lại ở đây. (12)

Trong tiểu luận này, viết năm 1986 và đăng lần đầu trên nguyệt san Văn Học ở ngoài nước, ngoài đoạn mở đầu phần nào có tính dẫn nhập, trong một bầu khí quyển mang tính hồi cố, để giới thiệu nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, khi ấy vẫn còn đang sống ở Việt Nam, tôi đã chọn hướng viết ấy. Nhưng toàn bài, sau đó, là những đánh giá về phong cách thơ TTT qua hình ảnh, cấu trúc ngôn ngữ và nhịp điệu của các bài thơ ông. Tôi cũng nói về thái độ sống của TTT, về cung cách văn chương của nhà thơ, về “những chọn lựa” của ông. Những chọn lựa trước văn chương, trước cuộc đời, trước lương tâm của người cầm bút. Chọn lựa xã hội, chọn lựa chính trị. Và tôi cũng đã đặt TTT và những bài thơ, tập thơ, của ông trong bối cảnh mà chúng xuất hiện. Tôi đã đánh giá thơ TTT không những trong bối cảnh đó, mà còn trong không gian văn chương nói chung (xin mượn chữ “L’Espace littéraire”, một tác phẩm phê bình của Maurice Blanchot). Và ở phần kết của tiểu luận này, sau khi trích dịch một đoạn văn của Rainier Maria Rilke, nói về nỗi khó khăn, cái công phu và sự hàm dưỡng của con người sáng tạo, chỉ để có được một dòng thơ, thậm chí một câu thơ, xứng đáng gọi là thơ, tôi đã viết: “Thanh Tâm Tuyền đã dâng hiến cho đời nhiều dòng thơ rất đẹp, những câu thơ đau khổ và phẫn nộ và hạnh phúc và thương yêu của ông làm cho ta chảy nước mắt. Nhưng nếu Thanh Tâm Tuyền chỉ có được mươi câu thơ hay, ông cũng xứng đáng cho ta yêu mến và cảm phục, bởi lẽ ông đã sống, đã tân toan trong đời sống, đã chịu đựng và gìn giữ tất cả để trở nên một thi sĩ…”

Ngoài ra, khi nhà thơ mất vào năm 2006, dùng Phong Cách Học (Stylistics) và nhấn mạnh đến khía cạnh ngôn ngữ, tôi còn viết một tiểu luận khác, khá kỹ lưỡng, là “Biệt khúc cho Thanh Tâm Tuyền”, về tập thơ Thơ Ở Đâu Xa của ông. (13) Đây là những bài thơ ông đã làm và giữ trong đầu suốt những năm tháng mà ông đã trải qua nơi những trại tù “cải tạo”, tận những Long Giao, Yên Báy, Lào Kay, Vĩnh Phú, trên quê hương Việt Nam. Những năm ông đã cố gắng “đứng vững không khuỵu chân / trên mảnh đất nghèo khổ” của quê hương. Trong tập thơ đó, người đọc có thể cảm nhận, ngoài cái nhìn hiện thực trước cảnh tù đầy, TTT còn cho thấy ý hướng “vượt lên”, “vượt qua” những chướng ngại, những gian khổ của mình. Thậm chí TTT còn cho người đọc thơ ông thấy được cái nhìn thơ mộng, cái nhìn vượt thoát của ông trước thực tại đầy khốn khổ và khắc nghiệt. Chính cái thái độ đẹp đẽ đó, mà tôi không chắc ai trong hoàn cảnh ấy cũng có thể có được, đã khiến tôi nghĩ rằng ông đã đạt đến một tâm cảnh gần như “thiền” trong cuộc lao động khổ ải. Một tâm thái mà tôi gọi là “thiền lao”. Hay như một cái nhìn chấp nhận, khá “tỉnh thức”, gần với tinh thần Công giáo.

Ngoài ra, cũng trong tập Thơ Ở Đâu Xa, người đọc còn có thể đến gần với tâm hồn nhà thơ qua những bài thơ ông viết cho con gái, hay viết cho bạn bè, khi ông vẫn còn đang trong cảnh tù đầy, hay khi ông đã được trở về với cuộc sống dân dã ngoài đời. Trong tiểu luận ấy, tôi đã đọc và viết về thơ của TTT, về con người nhà thơ TTT, về ngôn ngữ thơ ông, về hình ảnh, về nhịp điệu, về phong cách, về sự làm mới thơ của TTT trong chính cái vỏ âm thanh và trong những loại hình thơ mang vóc dáng cũ kỹ mà ông đã sử dụng. Ông đã làm mới ngay trong cái mà chúng ta vẫn thường xem là xưa cũ ấy.

Vì đã nhìn thấy được vóc dáng và phong thái thơ Thanh Tâm Tuyền, tiết tháo và thi cách của nhà thơ, cũng như những đóng góp mang tính cách tân của thơ ông, đặc biệt trong khía cạnh hình thức, ngôn ngữ, ảnh tượng, và âm điệu, ít nhất trong cái nhìn riêng của mình như thế, nên tôi cũng ngạc nhiên khi thấy BCT đưa ra những nhận xét mà tôi đã dẫn ở trên, về cách viết của tôi đối với Thanh Tâm Tuyền và thơ ông. Những nhận xét ấy có thể gây hiểu lầm. Và những nhận xét ấy chỉ dựa trên một vài câu viết mang phần nào “tính thơ”, tính “tùy bút”, nơi phần dẫn nhập trong một tiểu luận tôi viết, vào năm 1986, về thơ TTT. Ông đã bỏ qua tất cả những điều tôi viết về thơ TTT, về dòng chảy của thơ TTT, tâm thức thơ TTT, ngôn ngữ thơ TTT, hình ảnh thơ TTT, và sự biến đổi về mặt phong cách của thơ TTT từ giai đoạn trước đến giai đoạn sau 1975, qua hai tiểu luận tôi viết về TTT như đã trình bày.

Ngoài ra, cũng nên nói là, khi viết về một tác phẩm bất kỳ của một tác giả nào đó, người ta có thể đi từ (tiểu sử) tác giả, bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội, v.v., và có thể, từ đó, định vị chỗ đứng của tác giả trong dòng văn học mà tác giả ấy được đặt để vào. Người ta có thể làm những điều ấy, nếu muốn, và nếu người ta dùng phương pháp phê bình (tiểu sử) tác giả kiểu Sainte-Beuve, hay phê bình văn hóa-lịch sử của Hippolyte Taine, hay phê bình kiểu giáo khoa, mang tính Lansonisme, v.v. Những kiểu phê bình có nhiều nét thực chứng này đã có mặt từ trên dưới một trăm năm nay (chỉ nói về phê bình giáo khoa kiểu Lanson: nó bừng nở từ năm 1895 đến những năm của thập niên 1930) mà chúng ta đã được dạy trong trường trung học khi học cách bình giảng một bài thơ, một bài văn. Những phương pháp ấy, hiện tại, vẫn có những mặt khả thủ, những khía cạnh hữu ích của chúng, nhưng chúng cũng không nhất thiết là những phương pháp tiếp cận bắt buộc phải có trong phê bình văn học hiện đại.

Phê bình văn học ngày nay đã đi những bước rất dài trong việc tiếp cận tác phẩm. Nó không còn đứng chết một chỗ của những cách phê bình, lý giải kiểu cũ. Người ta đã có phê bình tâm lý/phê bình phân tâm (với đủ mọi trường phái, đủ mọi chiều hướng), rồi Phê Bình Mới theo lối đọc tập trung, “đọc gần”, đọc kỹ (close reading), rồi phê bình cổ mẫu, phê bình theo trường phái hình thức Nga, phê bình theo mỹ học tiếp nhận (Reception Theory) theo trường phái Konztanz của Đức, phê bình theo thuyết hồi ứng của người đọc (Reader-Response theory), phê bình cấu trúc, phê bình hủy cấu, phê bình phong cách, phê bình nữ quyền, phê bình theo trường phái Tự Sự học, phê bình sinh thái, phê bình theo trường phái Tân Lịch Sử và duy vật văn hóa, phê bình hậu-thực dân, phê bình đồng tính, phê bình hậu-hiện đại, v.v. Vấn đề là người viết, nhà phê bình, sẽ chọn lựa hướng đi nào để trình bày, phóng chiếu cái nhìn mình. Và đó là chọn lựa riêng của người cầm bút.

Có lẽ khi tác giả BCT trách nhiều người khác là không hiểu gì, hay không nói được gì về Thanh Tâm Tuyền, ông ngầm ý nói rằng khi viết về TTT, mọi người phải đi theo con đường như ông đã chọn. Và, ở cuối con đường ấy, BCT đã khẳng định rằng TTT chỉ là một con người “tuyệt vọng, trần truồng”. Ông thậm chí còn tìm cách tước bỏ thế đứng và con người nhà thơ của TTT khi, cũng ở phần cuối bài “Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ tuyệt vọng, trần truồng” của mình, dùng chính lời của TTT, trong tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc, BCT đóng dấu mộc, dấu gạch chéo, lên chân dung nhà thơ:

“Thơ TTT không thâm nhập được vào trái tim người đọc, vì tiếng thơ ấy không nói tiếng nói của công chúng, không nói tiếng nói của trái tim Việt Nam trong một giai đoạn lịch sử mà thơ ca phải là ngọn lửa toả sáng, soi đường và cháy rực lên sức sống, sức mạnh của một dân tộc. Thơ phải nói tiếng nói của dân tộc trước thời đại và lịch sử. Thơ ca phải ngang với tầm vóc của thời đại lịch sử (như thơ ca thời Lý Trần, thơ ca thời Nguyễn Du…) TTT không có được tiếng thơ đó.

Có lẽ người đọc hôm nay nên tôn trọng ý kiến của ông:

Tôi đã chết nghẹn ngào

ôm tình yêu tự do chật ngực

tôi chết và chối từ

đừng ai gọi tôi là thi sĩ…

(“Tôi không còn cô độc”)

Thật sự thì Bùi Công Thuấn không bắt được cái tinh thần cách mạng mang đầy tính nhân văn và triết lý trong phát-biểu-thơ đó của TTT, cái tinh thần cách mạng của con người thế giới. Phát biểu ấy, có lẽ, cũng là cung cách phát biểu vừa mang tính khiêm cung về mặt tự-nhận thức đầy nét triết lý, vừa mang tính chối từ cái giá trị mà ông cho là rất cao quý nhưng lại bị người đời sử dụng một cách rất bừa bãi, rất “lạm phát” này. Nhưng người đọc, nói chung, nhất là một người phê bình, nói riêng, không thể vì thái độ triết lý và nhân văn đó của nhà thơ, để “túm ngay lấy”, và cho rằng lời phát biểu ấy là đúng. Con người ấy, đúng như y phát biểu, không phải là thi sĩ (cho dù, trong một lối suy tư nào đó, BCT đã dùng từ “thi sĩ” để đặt tựa đề cho tiểu luận viết về thơ TTT của mình). Người phê bình, tôi nghĩ, không thể có một thái độ “phủi tay” và hời hợt như vậy. Người ấy, tôi nghĩ, không thể bám vào một câu nói triết lý như thế để đẩy nhà thơ ra ngoài vòng, để xếp loại tác giả là “không phải thi sĩ” vì chính ông ta đã tự nói, tự viết về mình như thế.

Cũng như người ta, nhất là một nhà phê bình, không thể nói Federico García Lorca, một nhà thơ lớn của thế giới, không phải là một thi sĩ, hay, thậm chí, không phải là một con người, chỉ vì nhà thơ này đã viết:

(…) tôi không là thi sĩ, cũng chẳng là con người, chẳng là cánh lá

nhưng chỉ là cái nảy bật chảy máu của một vết thương (…)

[ (…) no soy un poeta, ni un hombre, ni una hoja

Pero sí un pulso herido (…) ]

(Poeta en Nueva York, Tierra y Luna / Thơ ở New York, Đất và Trăng, 1940)

Không, mặc dù Thanh Tâm Tuyền đã viết, trong câu thơ mà ta đã đọc, rằng “đừng ai gọi tôi là thi sĩ”, ông vẫn mãi mãi được người đời yêu mến gọi tên như là một thi sĩ đích thực. Gọi như thế, vì chính ngôn ngữ, chữ nghĩa của TTT đã cho người đọc thấy cái cội rễ thi ca nơi mạch nguồn của nó.

Bài viết này không phải là một bài đánh giá hay phê phán (mang tính toàn bộ) cách nhìn Thanh Tâm Tuyền của BCT. Tôi chỉ đưa ra một vài nhận định cần thiết khi trình bày cái nhìn của mình về nhà thơ, đồng thời góp ý với cách nhận định, đánh giá “thu hẹp” của BCT về cái nhìn của tôi đối với thơ TTT, đối với con người TTT. Đã có những chia sẻ, trao đổi với BCT về bài viết của ông vào mười năm trước, chẳng hạn qua hai bài viết của Phùng Nguyễn, “Giải Cấu “Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ tuyệt vọng, trần truồng””, và Nguyễn Đức Tùng, “Mười ba cách ngắm con chim blackbird / Trao đổi với Bùi Công Thuấn về Thanh Tâm Tuyền”. (14)

Trong cái nhìn của tôi, tiểu luận này về TTT của Bùi Công Thuấn (14), dù sao chăng nữa, cũng đã có được những điểm sáng, những nhận xét thú vị, thậm chí có chiều sâu, chiếu soi vào cõi thơ TTT. Nhưng, cùng với chúng, là những nhận định còn nhiều chủ quan, nếu không nói là nhiều “thiên kiến”, khi nhìn vào cõi thơ đó (15). Dù sao, trong quan niệm của tôi, “Anh có quyền đưa ra cái nhìn, thậm chí đánh giá của anh, về bất cứ tác giả nào. Tuy nhiên, anh sẽ trách nhiệm về cái nhìn của chính mình.” Trước hết, với trái tim, với tự do và kiến thức của chính anh. Và, sau đó, với người đọc. Tất cả mọi phân tích, đánh giá, theo tôi, đều chỉ là những diễn giải. Nói như Friedrich Nietzsche, “There is no facts, only interpretations”. Nietzsche còn nói, ở một chỗ khác, “Anh có con đường của anh. Tôi có con đường của tôi. Còn như nói về con đường đúng nhất, chính xác nhất, và là con đường duy nhất (đúng), nó không hiện hữu.” (You have your way. I have my way. As for the right way, the correct way, and the only way, it does not exist.”).

Mỗi người cầm bút có con đường đi của mình. Có phương pháp luận mà mình chọn. Và người đọc, họ nhìn thấy người viết trên con đường đi ấy. Họ cũng có thể nhìn thấy anh trong sự đào xới vào tác phẩm và cung cách chiếu sáng tác phẩm của anh. Cách anh mở nó ra. Cách anh nhìn ngắm, đụng chạm vào nó. Người đọc, đến lượt họ, sẽ chiếu sáng anh.

(còn tiếp)

___________________________

Chú thích:

(1) Xem tại http://www.viet-studies.net/BuiCongThuan_PheBinhHaiNgoai.html , hay tại http://tranlao.blogspot.com/2017/06/bui-cong-thuan-nhung-nha-phe-binh-van.html

(2) Việc không kể tên nhà phê bình Đặng Tiến trong bài viết thượng dẫn của mình của Bùi Công Thuấn có thể có một lý do. Trước đó, ông đã dành cả một bài khá dài để viết về Đặng Tiến. Bài viết mang tên “Đặng Tiến – “Gu” hay Phương Pháp?” Cũng giống như bài viết hiện tại về bốn nhà phê bình văn học hải ngoại mà chúng ta đang nói đến ở đây, BCT cũng dành cho ĐT nhiều điểm âm trong cách đánh giá của mình. Và sự phiến diện, mang tính bất cân bằng trong thao tác chọn lựa điểm nhấn để đánh giá của nhà phê bình BCT trong bài viết về ĐT cũng có nhiều nét giống với những thao tác mà BCT sử dụng để nhìn và xét các nhà phê bình trong bài viết thượng dẫn. Xem bài viết của BCT về ĐT ở đây: http://chuttinhtriam.blogspot.com/2017/03/ang-tien-gu-hay-phuong-phap.html.

(3) Cuốn sách, khi được tái bản, được đổi tên là Thơ Con Cóc và Những Vấn Đề Khác.

(4) Xem “Khế Ước Văn Hóa trong Bài Thơ Con Cóc” của Đỗ Minh Tuấn, trang 18 – 23, và “Trả Lời Ông Đỗ Minh Tuấn” của NHQ, trang 24 – 29, Văn Học số 134, tháng 6, 1997, http://tapchivanhoc.org/?p=195 . Xem Thụy Khuê, “Góp Ý về Phê Bình Văn Học”, trang 3 – 19, và Bùi Vĩnh Phúc, “Về Mỹ Học Tiếp Nhận và Thuyết Hồi Ứng Của Người Đọc”, trang 22 – 45, Văn Học số 138, tháng 10, 1997, http://tapchivanhoc.org/?p=195. Và xem Nguyễn Trọng Văn, “Nguyễn Hưng Quốc, và những vấn đề quanh bài thơ ‘Con Cóc’”, https://www.diendan.org/sang-tac/nguyen-hung-quoc-va-nhung-van-111e-quanh-bai-tho-con-coc/

(5) Xem tại https://www.tienve.org/home/activities/viewTopics.do?action=viewArtwork&artworkId=18430 , hay tại http://damau.org/archives/34812

(6) Dịch từ tiếng Anh: “(…) Man is by nature a political animal… And whereas mere sound is but an indication of pleasure or pain, and is therefore found in other animals (for their nature attains to the perception of pleasure and pain and the intimation of them to one another, and no further), the power of speech is intended to set forth the expedient and inexpedient, and likewise the just and the unjust. And it is a characteristic of man that he alone has any sense of good and evil, of just and unjust (…)”

(7) Xem Antonin J. Liehm, The Politics of Culture, New York: Random House, Inc., 1968.

(8) Nguyên văn: “(…) ‘Feminist criticism’, then, is a specific kind of political discourse: a critical and theoretical practice committed to the struggle against patriarchy and sexism, not simply a concern for gender in literature…”, trong quyển The Feminist Reader / Essays in Gender and the Politics of Literary Criticism, do Catherine Belsey và Jane Moore tuyển chọn, New York, 1989.

(9) Có rất nhiều tài liệu, sách vở viết về Edward Said. Có thể đọc một quyển, tương đối mới, viết về tác giả này: Edward Said / The Charisma of Criticism, của H. Aram Veeser, Routledge, 2010.

(10) Có thể tạm kể hai bài này: “GS – TS Trần Đình Sử và Thi Pháp Học”, http://chuttinhtriam.blogspot.com/2017/04/gs-ts-tran-inh-su-va-thi-phap-hoc.html, và “40 Năm Văn Chương Việt Nam (1975 – 2015) – Những Gì Còn Lại với Mai Sau”, http://chuttinhtriam.blogspot.com/2016/04/40-nam-van-chuong-viet-nam-1975-2015.html

(11) Phần “Làm thế nào để quên được nhau. Hạt mưa kia long lanh nỗi nhớ niềm từ biệt, hoàng hôn bàng hoàng màu khói nhạt”, trong chính bản của tôi trên các trang mạng, được in bằng một co chữ khác. Vì nó chính là thơ của TTT được tôi đưa vào phần dẫn nhập. Mục đích của phần dẫn nhập, với những câu thơ TTT xen kẽ, là để tạo một không khí, đưa bài viết và người đọc vào không gian thơ và tâm trạng của TTT những ngày xưa cũ, khi nhà thơ viết những câu thơ ấy (và những bài thơ khác của ông trong giai đoạn trước 1975). Nơi phần trích đoạn dẫn nhập này của BCT, tất cả đều được chạy một co chữ, làm lẫn chữ của người viết và thơ của TTT. Sự “vô ý” này đã làm mất phần lớn hiệu ứng và mục đích kêu gọi hồi tưởng của đoạn văn.

(12) Xem “Thanh Tâm Tuyền, người thi sĩ ấy” trên talawas, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5335&rb=0101

(13) Xem “Biệt khúc cho Thanh Tâm Tuyền / Đọc Thơ Ở Đâu Xa” trên Văn Việt, https://vandoanviet.blogspot.com/2015/03/biet-khuc-cho-thanh-tam-tuyen.html , hay trên talawas, http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=6997&rb=0101

(14) Xem Phùng Nguyễn, “Giải Cấu “Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ tuyệt vọng, trần truồng””, và Nguyễn Đức Tùng, “Mười ba cách ngắm con chim blackbird / Trao đổi với Bùi Công Thuấn về Thanh Tâm Tuyền”. Cả hai bài viết này đều đã xuất hiện trên diễn đàn mạng Da Màu, vào thời điểm cuối tháng Chín (hoặc đầu tháng Mười), 2007 sau bài viết về Thanh Tâm Tuyền của BCT, cũng đăng trên diễn đàn này vào ngày 10 tháng Chín, 2007. Bài vở trên Da Màu, trong bộ cũ, kể cả trong giai đoạn năm 2007 và trước đó, hiện tại, vì lý do kỹ thuật, khó có thể truy cập. Riêng bài của Bùi Công Thuấn có thể xem ở đây: http://vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=7163

(15) Chẳng hạn, khi tôi, trong bài “Biệt Khúc cho Thanh Tâm Tuyền”, qua thái độ sống của TTT khi vẫn nhìn thấy cái đẹp và cái thơ của cuộc đời, cho dù ông đang chịu cảnh tù đầy, đã cho rằng TTT có được cái nhìn ấy vì ông đã sống tâm thế “vượt lên”, “vượt qua”, một tâm thế gần gũi với cái nhìn Thiền quán của Phật giáo và tinh thần “tỉnh thức” của Công giáo (trích “(…),“Thơ ông trong tập này đằm chín và sâu lắng. Kinh nghiệm cuộc đời và sự thẩm thấu khổ đau, cái nhìn vào pháp tướng của mọi sự vật trong đời đã làm cho những bài thơ ông mang một tố chất gì đó rất gần với sự tỉnh thức và chấp nhận trong tinh thần giáo lý Công giáo, cùng lúc, cũng mang trong chúng một thiền chất khiến ta thấy chúng, có những lúc, có cái tinh thần đốn ngộ của Thiền tông và cái tinh thần bát nhã của đạo Phật… Trong Thơ Ở Đâu Xa, người ta thấy có nỗi buồn và có niềm đau. Có đấy. Có sự cảm nhận buốt sắc về hiện sinh, về định mệnh mình. Nhưng kẻ thi sĩ ấy vẫn không chịu ngã gục hoặc nằm vùi trong sầu khổ.”), thì BCT đã phủ nhận điều ấy. Ông cho rằng TTT không có được cái uy lực đó. Cái nhìn ấy, theo BCT, là do kết quả của lao động. Ông viết, “TTT lao động, sống đời sống người lao động như bao nhiêu người lao động khác… Khung cảnh thiên nhiên đất nước cùng với cuộc sống lao động này đã thức tỉnh hồn thơ dân tộc ở TTT?”, và: “TTT từ con người của ý thức hệ duy tâm trước kia giờ đây trở về với cái thực đời thường, sống thật với sự sống của chính mình, sống cùng với sự tồn tại của người khác, không còn phải sống trong xáo trộn, xô bồ, lo sợ chết chóc, đối diện với những bất trắc tráo trở phản bội đớn hèn đau thương trước đó.” Kế tiếp, BCT khẳng định: “Thơ Ở Đâu Xa là tâm hồn TTT phục sinh trong cuộc sống lao động”. (Tôi [BVP] nghĩ, sự an nhiên, tĩnh tại của TTT có thể, một phần nhỏ, bắt nguồn từ lao động, từ sự hòa mình vào cuộc sống thiên nhiên; nhưng, để đạt đến một tâm thái “vượt lên”, “vượt qua”, và nhìn cuộc sống với sự an nhiên, thậm chí thơ mộng, như thế, ngay trong cuộc khổ ải, phải có sự hiện hữu của một sức mạnh nội tâm khác làm việc ở đây. Nhưng trong bài viết của mình, BCT đã đưa ra nhận định then chốt, “…Ông [TTT] không vượt qua được cái tôi tiểu tư sản quay quắt trong hiện sinh.”, và: “Trước sau TTT vẫn là người tuyệt vọng.” Sau đó, ông nhấn mạnh thêm lần nữa, “Tôi hiểu nỗi tuyệt vọng của TTT là vô phương cứu chữa, tuyệt vọng trần truồng, không che giấu.” )

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


5 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Sự nghiệp của chúng ta và đội ngũ phê bình

    Đó là cách nói và cách tổ chức trong văn học của người VN (trong nước). Không có sự nghiệp của tôi của anh, và phê bình phải vào nề nếp đội ngũ. Quý vị thử gú-gồ mấy chữ “đội ngũ phê bình” xem, kết quả đọc mệt… xỉu.

    Tôi không làm việc và sinh hoạt trong ngành văn học. Tôi chỉ là một người yêu văn nghệ (Việt). Nhưng tôi chống lại sự chỉ huy sáng tác trong văn học. Văn học nên tạo ra kết quả. Kết quả của văn học phải là sáng tác. Dĩ nhiên sáng tác thuộc về văn chương, tiểu thuyết, thơ, truyện, song lyrics, hay phê bình cũng thế.

    Có những việc làm không thể làm một mình. Thí dụ như những phi hành gia trên phi thuyền. Nhưng sáng tác trong văn học và văn nghệ bản chất thuộc về cá nhân đơn lẻ. Khó mà tưởng tượng bức tranh gồm 2 tác giả ký tên. Bài thơ của 2 người làm (ổng dzí bả). Thỉnh thoảng thì cũng có như vậy, như quyển sách tiểu thuyết dịch thuật gồm 2,3 người. Hoặc bản nhạc gồm 1 nhóm làm chung. Tuy nhiên, cái này rất ít, và phần nhiều là sản phẩm văn nghệ hạng … C.

    Những phi hành gia trên phi thuyền, nếu không tuân thủ sự chỉ huy làm việc thì kết quả là một thảm họa. Còn, nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ mà từ chối nghe lời uốn nắn chỉ đạo của xếp thì… không sao hết. Văn nghệ mà. Tự do expression chẳng làm hại gì ai. Nó còn cần thiết cho văn minh tấn bộ của nhân loại nữa là khác.

  • Nguyễn Tà Cúc viết:

    Trước hết, tôi rất cảm kích khi được đọc nhận xét của Bùi Vĩnh Phúc về tôi: “Nguyễn Tà Cúc (một nhà phê bình văn hóa, xã hội, nghiêng nhiều về phong cách nữ quyền luận)”. Phải là một người đọc tôi đủ mới có thể, chỉ trong mấy chữ, diễn tả chính xác các lãnh vực mà tôi tham dự. Sau nữa, tôi đồng ý với Bùi Vĩnh Phúc: “[…] phê bình văn học ngoài nước đã đóng góp phần của mình để làm nên cái phong phú của văn học hải ngoại[…] Việc đọc, chia sẻ, nhận xét, hay trao đổi, đóng góp, nếu có, để cho thấy cái nội dung phong phú, đẹp đẽ của những dòng chảy đó là một điều nên làm…” Không những thế, tôi còn quan niệm “trao đổi, đóng góp” tài liệu về Văn học Miền Nam, nhất là khi nhiều nhân chứng của nền văn học này chọn sống tại ngoài Việt Nam và tiếp tục hoạt động văn nghệ có khi cho tới qua đời. Bởi thế, tôi hoan nghênh thái độ của tác gia Bùi Vĩnh Phúc khi đáp lại một tác gia khác mà mục đích chỉ nhắm tới sự “chia sẻ, đóng góp” nghiêm chỉnh. Cũng trong tinh thần ấy, tôi muốn góp kinh nghiệm của riêng tôi, một người nghiên cứu về Văn học Miền Nam về lý do, theo tôi, khiến đã có những bài viết hay quan điểm lệch lạc hoặc khiếm khuyết về Văn học Miền Nam [ không ám chỉ bài của Bùi Công Thuần].
    Tôi nhận thấy một trong những trở ngại lớn nhất và đáng lo ngại nhất là không có tài liệu và nhân chứng. Chắc chắn tôi không thể trình bày những khám phá trong nghiên cứu về Văn học Miền Nam nếu không có cơ hội đi học lại và tìm được nhiều tài liệu và tác phẩm của Miền Nam trong các đại học Hoa Kỳ. Kế đó, là sự giúp đỡ của các đồng nghiệp/kiêm sưu tầm chuyên nghiệp trong nước, nhất là về các tạp chí Miền Nam. Đó là chưa kể đến một số tác phẩm khác như tác phẩm của Nguiễn Ngu Í, do Ngèy Xanh xuất bản–cần thiết cho việc nghiên cứu các tạp chí như Bách Khoa–mà không có hoặc rất hiếm.
    Tình trạng ấy dẫn tôi liên tưởng đến đến một hậu quả khác nhưng rất tương tự như hiện nay: Sự khiếm khuyết tài liệu khi nhận xét về công trình của một tác gia khác gần giống như Bùi Vĩnh Phúc đã phát biểu: “Trong suy nghĩ của tôi, khi viết về công trình (văn học) của một tác giả, người cầm bút nên có một nỗ lực chuẩn bị, tìm kiếm những tài liệu cần thiết để giúp cho mình có một cái nhìn đầy đủ, ít nhiều mang tính toàn bộ của tác giả và đề tài mà mình dự định trình bày…” Điều đó hoàn toàn đúng, bỏ ra ngoài cuộc bàn luận nói trên.
    Đó là một tình trạng rất đáng sợ vì làm sao chúng ta có thể biết chắc rằng chúng ta có đầy đủ, hoặc ít nhất phải có đa số, tiểu luận hay/và tác phẩm của tác gia mà chúng ta muốn phê bình khi họ không ở cùng thời gian, địa lý hay phương cách phổ biến với/như chúng ta? Tôi sẽ dùng tôi làm “thí dụ điển hình”. Tất cả các tiểu luận của tôi về Văn học Miền Nam hầu như chỉ được đăng trên tạp chí Khởi Hành -Bộ Mới, một tạp chí văn học-giấy từ năm 1996 mà tôi là Thư ký Tòa soạn. Sau đó, chúng chỉ được phổ biến tại vài mạng khác, trong đó có bài xuất hiện trên tạp chí-giấy Xưa&Nay, Việt Nam.
    Nghĩa là, giản dị lắm, một người muốn phê bình các tiểu luận/nhận xét của tôi liên quan đến “văn hóa, xã hội” và Văn học Miền Nam trong hàng trăm số Khởi Hành cần phải đọc hết các bài và mọi tài liệu mà tôi đã dùng trong tất cả –hay đại đa số–các tiểu luận và tác phẩm của tôi thì mới công bằng cho tôi được. Chưa kể, vì từng đảm nhận phần vụ Trưởng Ủy ban Văn Nghệ sĩ-Bị cầm tù thay cho Trưởng Ủy ban Trần Tam Tiệp bất ngờ bệnh nặng, tôi còn được giao những tài liệu khác. Không có tài liệu bằng mà lại muốn phê bình tôi thì không cách nào tôi trả lời được!
    Thí dụ thứ hai là một bài viết rất quan trọng và rất chính xác của Dương Nghiễm Mậu về Thanh Tâm Tuyền nhưng có một chi tiết cần được xét lại về họa sĩ Duy Thanh: “Sau năm 1975 ông sống với gia đình tại Hoa Kỳ và không còn hoạt động nghệ thuât nữa…” [Dương Nghiễm Mậu, “Thanh Tâm Tuyền và những người bạn trước khi có Sáng Tạo”, http://hopluu.net/a1661/thanh-tam-tuyen-va-nhung-nguoi-ban-truoc-khi-co-tap-chi-sang-tao. Tôi chưa kịp hỏi Dương Nghiễm Mậu về chi tiết này thì ông qua đời nhưng nếu nói “hoạt động nghệ thuật” của một nhà văn là viết, của một họa sĩ là vẽ thì Duy Thanh vẫn còn và vẫn đang vẽ, không những thế, vẽ theo một lối hoàn toàn mới. Tôi biết chắc như thế chỉ vì tôi ở Hoa Kỳ, nơi Duy Thanh định cư và có dịp nhìn thấy nhiều bức họa này. Tương tự, Dương Nghiễm Mậu cũng không biết về 2 tác phẩm quan trọng Chants D’Ya-Pòemes ressuscité de la memoire d’un proscrit, 1979 và Khúc hát Gia Trung-Thơ hồi niệm của một tội đồ, 1994 và các tiểu luận sáng tác trên Khởi Hành của Nguyễn Sỹ Tế. Đó cũng chính là vì Dương Nghiễm Mậu ở tại Việt Nam nên không có dịp biết. Từ năm 1996 đến nay, Khởi Hành –qua hai người Viên Linh và tôi–đã cho đăng tải các sáng tác của Văn học Miền Nam/di sản của Miền Nam ấy, san định một số vấn đề cần thiết và có sự cộng tác của nhiều nhà văn Miền Nam. Các sáng tác cuối của Mặc Đỗ, Nguyễn Sỹ Tế, Xuân Vũ vv đã xuất hiện trên tạp chí này. Bởi thế, nếu xét về đời văn của chỉ 3 nhà văn trên mà bỏ qua các sáng tác của họ trên Khởi Hành thì chắc chắn là thiếu sót rồi.
    Thực trạng ấy giúp tôi nhận ra mấy điều: Thứ nhất, trừ khi tôi biết rõ người phê bình có ác ý, tôi có thể nhận thấy ngay sự thiếu sót về tài liệu của họ. Thứ hai, tài liệu, tài liệu và tài liệu. Riêng về phương diện này, tôi có thể nói tôi rất tin cậy và cảm ơn một thế hệ trẻ tại Việt Nam, có kiến thức mà cũng có sự rộng lượng, những người đã sẵn sàng cung hiến tài liệu vô điều kiện

  • Vũ đăng Khoa viết:

    Nhà phê bình Nguyễn tà Cúc: tôi đang đi tìm luận án cao học của bà, “Regarding Literary Friends and Foes: The Story ò Vietnamese Exiled Writers in the Untied States” trên Internet nhưng kiếm chưa ra. Có thể nhờ bà giúp hộ. Cảm ơn

  • Nguyễn Tà Cúc viết:

    Ông Vũ Đăng Khoa,

    Tôi rất cảm ơn ông đã có lòng hỏi đến. Penn State University không có thông lệ cho phổ biến một số luận án Cao Học bằng lối Internet nên trừ phi ông thuộc một đại học, sẽ không thể mượn được. Nhưng tôi đang sửa chữa, hoàn chỉnh để xuất bản thành một cuốn sách [bằng Anh ngữ] vào cuối năm nay-giữa năm tới. Luận án đó tôi viết cách đây 7 năm, rất may mắn đã được nhiều người trong giới góp ý và cung cấp thêm tài liệu để biên tập cho hoàn hảo, chính xác hơn vì chắc chắn có nhiều khiếm khuyết. Nếu ông có thể đợi được, tôi sẽ báo cho ông biết khi in xong. Hay nếu có thắc mắc ngay, ông có thể liên lạc với tôi tại địa chỉ dưới đây.

    Ngoài ra, tôi không biết là ông có cần các nghiên cứu bằng tiếng Việt không vì luận án này, nói một cách giản dị, tập trung nhiều nghiên cứu của tôi đã đăng trên tạp chí Khởi Hành (Chủ nhiệm& Chủ bút Viên Linh) từ 1996 cho tới khi tôi trở lại PSU vào năm 2007. Tôi cũng đã xuất bản cuốn “Văn học Miền Nam: Nhóm*Tạp chí văn học* Tác giả” (2014) [và mới đây cuốn “Ủy ban Văn nghệ sĩ -Bị Cầm tù 1979-1997: Cánh chim phượng hoàng tái sinh từ Trung tâm Văn bút Việt Nam lưu vong” (tháng 7.2017)] gồm nhiều tài liệu đã dùng trong luận án đó. Tôi vẫn còn giữ một số Khởi Hành cũ có đăng những bài này. Tôi không dám hỏi ông có cần gì thêm không, nhưng ông có thể biên thư cho tôi về địa chỉ:
    Nguyễn Tà Cúc
    c/o Khởi Hành
    PO Box 670
    Midway City CA 92655

    Xin ông đừng ngại. Tôi đã được nhiều bạn, quen hay không quen, trong hay ngoài giới, giúp đỡ tài liệu và ý kiến, ngay cả khi tôi không đồng ý với họ. Rồi tới hàng trăm, có thể nói hàng ngàn, tài liệu trong cuốn “Ủy ban Văn nghệ sĩ -Bị Cầm tù 1979-1997: Cánh chim phượng hoàng tái sinh từ Trung tâm Văn bút Việt Nam lưu vong” này cũng được thu thập từ nhiều nguồn, đa số chưa hề được công bố trước đây, vì liên quan đến chi tiết của hồ sơ mật thuộc Ủy ban Văn nghệ sĩ -Bị Cầm tù 1979-1997–là trọng tâm của cuốn sách– hay liên quan đến Trung Tâm Văn bút Việt Nam 1957-1975. Tôi nói thế không phải để …quảng cáo, nhưng để ông biết rõ tôi chuyên về lãnh vực nào và nếu cần thì liên lạc mà khỏi mất thì giờ quý báu. Tôi quan niệm tài liệu phải được phổ biến để mỗi người có thể định đoạt theo ý mình mà, quan trọng hơn, cho lịch sử được sáng tỏ. Tôi có thể sai (ai mà không có thể sai!), người khác cũng có thể sai nhưng nếu được nhiều người viết với sự thành tâm và tài liệu thì phần trăm sai ấy sẽ giảm đi nhiều lắm. Cảm ơn ông một lần nữa.-

  • Nguyễn Tà Cúc viết:

    Tôi xin được bổ sung câu sau đây cho rõ ràng hơn nữa:

    ( Rồi tới hàng trăm, có thể nói hàng ngàn, tài liệu trong cuốn “Ủy ban Văn nghệ sĩ -Bị Cầm tù 1979-1997: Cánh chim phượng hoàng tái sinh từ Trung tâm Văn bút Việt Nam lưu vong”…)

    Rồi tới hàng trăm, có thể nói hàng ngàn tài liệu hay tin tức được sử dụng trong khi nghiên cứu để so sánh nhắm kiểm chứng và lượng định các văn bản trích dẫn trong cuốn “Ủy ban Văn nghệ sĩ -Bị Cầm tù 1979-1997: Cánh chim phượng hoàng tái sinh từ Trung tâm Văn bút Việt Nam lưu vong” …

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch