Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu Email bài này

HỢP TÁC VỚI QUÂN MINH: NGƯỜI KINH LỘ (kỳ 3/3)

4 bình luận ♦ 10.05.2017

 

Toàn Thư: “京路多從賊以叛 Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản”

(Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản.)

Triều đình nhà Lê sau 100 năm đã bị đồng bằng hóa, quyền lực rơi vào tay gia tộc Mạc vùng duyên hải có nguồn gốc Quảng Đông (1527). Họ Mạc từng hợp tác khăng khít với các dòng vua Mân như Lý, Trần hay với chính người Hán nhưng không thiện cảm với các thủ lĩnh vùng Trại như Hồ, Lê. Tuy nhiên, phân biệt kinh-trại nặng tính văn hóa đã biến mất, thay vào đó là sự khác biệt mang tính chính trị. Họ Mạc với thanh thế mạnh chỉ ở biển-đồng nhanh chóng đánh mất vùng từ Thanh Hóa trở vào nam. Lằn ranh chia cách hai tập đoàn Mạc-Lê trung hưng cũng trùng với lằn ranh kinh-trại cũ nhưng bây giờ hai chính thể được sử gia phân biệt theo quan niệm Nho giáo : Lê chính thống và Mạc nhuận triều.[1]

Máu của dân Lê và dân Mạc đang tuôn phí thì một gia tộc đất trại chạy vào Thuận Hóa để sinh tồn : họ Nguyễn Gia Miêu. Dòng họ này thay vì tự hào cội nguồn xứ Thanh lại hãnh diện vì phát tích từ Ô châu. Ô châu-Thuận Hóa đóng vai trò mấu chốt trong sự hình thành nước Việt Nam hiện đại. Định mệnh chọn quân Thuận Hóa trong việc bắt sống vua Chiêm Trà Toàn, mở đường cho cuộc di dân Việt sâu xuống phía Nam. Cũng từ Thuận Hóa, các chúa Nguyễn với trí tuệ rực sáng đã kiến tạo một nước Việt khác, dần tích lũy diện tích, tài nguyên và tầm nhìn văn hóa đến mức áp đảo vùng Đại Việt cổ xưa. Tiếc thay, khi máu Nam-Bắc ngừng rơi,[2] máu Trong-Ngoài[3] nhanh chóng thay thế và chảy liên tục thêm gần 50 năm nữa.

Những tưởng ranh giới nam-bắc tan nhòa trong lòng vương quốc đàng Ngoài; nhưng không, nhiều thế kỷ sau, Nguyễn Huệ lại đối diện với tình trạng Đặng Tất và Lê Lợi từng gặp phải ngày xưa khi quân Thanh nam hạ. Danh sĩ Bắc hà Ngô Thì Nhậm cho rằng thái độ dân đồng bằng thời Minh thuộc vẫn tốt hơn thái độ cựu dân nhà Lê trung hưng thời Lê-Trịnh sụp đổ. Hoàng Lê nhất thống chí qua lời Thì Nhậm ghi nhận như sau : Ngày nay, những người bề tôi trốn tránh của nhà Lê, đâu đâu cũng có, họ đều nghển cổ mà trông. Sĩ dân cả nước dành nhau mà đón chúng. Quân ta mai phục ở đâu, địa thế hiểm hay không, số quân nhiều hay ít, quân giặc chưa biết thì họ đã báo trước với chúng… (4)

Để Ngô Văn Sở chấp nhận việc tạm rút lui, Thì Nhậm còn giải thích cặn kẽ hơn : Nay quân Thanh sang đây, tiếng tăm rất lớn. Những kẻ trong nước làm nội ứng cho chúng, phần nhiều là phao tin đồn nhảm, làm cho thanh thế của chúng to thêm, để cho lòng người sợ hãi lay động. Quân ta có ai được sai phái đi đâu, vừa ra khỏi thành là đã bị bắt giết. Số người Bắc Hà thuộc vào sổ quân của ta, hễ gặp dịp sơ hở là bỏ trốn liền. Đem đội quân ấy mà đánh, không khác gì xua bầy dê đi chọi cọp dữ, không thua sao được? Đến như việc đóng cửa thành mà cố thủ, thì lòng người đã không vững, ắt thế nào cũng sinh ra mối lo ở bên trong. Dẫu cho Tôn, Ngô sống lại, cũng phải bó tay, không làm được gì…(5)

Quân Tây Sơn phải lui về Tam Điệp, Ninh Bình, là vùng đệm giữa Kinh và Trại cũ. Đây cũng là nơi Giản Định từng tạm dừng quân, nhận thêm nhân sự mới, phân phong quan tước để chuẩn bị trận Bô Cô. Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân an tâm ở vị trí đó, ngoài lý do địa hình phòng thủ thuận lợi hơn, hẳn cũng vì số lượng người địa phương sẵn lòng chỉ điểm cho quân Thanh ít hơn ở trung châu nhiều.

Hoàng Lê nhất thống chí chỉ là tiểu thuyết, các chi tiết lịch sử có thể bị thêm thắt, ví dụ như việc nhà Nho Ngô Thì Nhậm chỉ bảo việc quân cho đại tướng Tây Sơn. Nhưng không khí và tâm lý thời chiến tại vương quốc đàng Ngoài được miêu tả xác thực. Ngô Thì Du (1772 – 1840), tác giả hai đoạn văn trích dẫn bên trên là người Tả Thanh Oai (nay thuộc Hà Nội), từng xiêu bạt khắp đàng Ngoài khi Tây Sơn tiến ra bắc. Về tình hình chính trị – xã hội đương thời, Thì Du là người phát ngôn đủ thẩm quyền.

Tài liệu Công giáo nói về thái độ dân trung châu cũng giống như thông tin do Ngô Thì Du cung cấp. Các vị tu sĩ đã chứng kiến cảnh dân làng vùng châu thổ đánh trống vui mừng khi binh lính Nam Hà tháo lui trước đà tiến của quân Thanh, sau đó họ tụ tập kéo nhau đi đánh phá đồn trại Tây Sơn chưa rút kịp. (6)

Sử gia Việt Nam không chú tâm nên cũng chưa phân tích tận cùng thái độ dễ dao động, nghiêng về phương bắc để kháng cự các cộng đồng Việt khác của một bộ phận cư dân đồng bằng sông Hồng thời tiền hiện đại. Nhìn thấu suốt việc này có vẻ dễ dàng hơn đối với sử gia phương Tây. K. W. Taylor ghi lại nhận xét lạnh lùng trong tác phẩm “A History of the Vietnamese”, Một quyển sử về người Việt Nam, như sau:

Cư dân đồng bằng sông Hồng có xu hướng ủng hộ chính quyền nhà Minh. Người vùng thấp ở các phủ Thanh Hóa, Nghệ An phía nam nói chung cũng hưởng ứng chính quyền này. Tuy nhiên, đặc tính dân cư vùng chân núi và cao nguyên các phủ miền nam là đề kháng sự cai trị bởi Minh triều. Nói cách khác, theo sự phân biệt đầu tiên được tường trình dưới thời Trần, nhiều người Kinh cảm thấy có giá trị khi họ là một phần của vương quốc phương bắc, riêng người Trại thì không. Vì thế, vào thập niên 1420, sau khi Chu Đệ băng hà, hoạt động kháng Minh tích cực trong nhóm người Trại tại các phủ phía nam phát triển nhanh chóng nhất, đặc biệt nơi các thung lũng thấp thuộc vùng ven núi nam sông Hồng và vùng phía tây bình nguyên duyên hải. Thời Trần, thuật ngữ Kinh – Trại biểu trưng hai xu hướng khác nhau trong lĩnh vực thực hành văn hóa và ngôn ngữ, điểm khác nhau mà thời hiện đại cảm nhận như sự khác biệt giữa người Việt và các nhóm người mệnh danh Mường. (7)

Theo Toàn Thư, sự phân biệt khu vực “trại” với các xứ khác đầu tiên xuất hiện vào năm 1010, ngay sau khi Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long. Nguyên văn Toàn Thư : “改十道為二十四路愛州驩州為寨 cải thập đạo vi nhị thập tứ lộ ái châu hoan châu vi trại”, Đổi 10 đạo thành 24 lộ, hai châu Hoan Ái thành trại. Như vậy, Hoan-Ái được xem như khu vực quân sự ngoài biên. Dân Hoan Ái không phải Man Lão, cũng không phải người sống ở “kinh” hay ở các “lộ” đồng bằng. Các thủ lĩnh theo truyền thống Lạc như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn chưa bao giờ có quan điểm tương tự. Qua “Chiếu dời đô”, người “kinh” đầu tiên Lý Công Uẩn, vốn quê Phúc Kiến, xác định giá trị của Ngài cũng là của triều đại mới, ở việc thừa kế truyền thống cai trị Hoa Hạ. Ngài mạnh dạn biến triều đình Mân-Việt của mình thành trung tâm đồng thời ngoại vi hóa thế lực giàu tính bản địa. (8)

Việc hủy bỏ tên gọi “đạo” thực tế xuất hiện từ triều đại trước. Năm 1002, Lê Hoàn đã có lệnh đổi mười đạo làm lộ, phủ, châu. Vua Lê dù dùng nhiều người Hán hay gốc Hán trong bộ máy đồng thời chú tâm khai thác trung châu nhưng không có khái niệm kinh-trại. Dường như công việc cải tổ hệ thống hành chánh bị dang dở nên Lý Thái tổ phải tái thực hiện, tiện thể hạ thấp vai trò tiền triều bằng cách xếp loại quê quán và cộng đồng người của vua cũ vào diện “trại”.

Như vậy, những người sinh sống ở kinh thành mới và khu vực quanh đó có căn cước như thế nào?

Năm 866, sau khi đánh bại Nam Chiếu và chiếm lại Đại La, Cao Biền xây thành mới đồng thời làm 40 vạn căn nhà. (9) Dễ suy đoán số nhà cửa lớn lao được xây dựng dành cho người Hán hay trung thành với Hán đã bị xiêu tán trong 10 năm chiến tranh với Nam Chiếu. Cao Biền chủ ý lập khu dân cư quanh phủ thành như một hàng rào bảo vệ từ xa. Vành đai dân cư ủng hộ chính quyền phương Bắc phát huy tác dụng khi Dương Đình Nghệ, thủ lĩnh quê Ái châu, chủ quan đóng quân trong thành sau khi đuổi Thứ sử Lý Tiến về xứ. Ông dễ dàng bị Kiều Công Tiễn, người ngưỡng mộ Nam Hán, tiếp cận và sát hại trước sự bất lực của bộ thuộc (937). Đó là chưa kể đến Khúc Thừa Mỹ, bị Nam Hán đánh bắt năm 930 mà sử ký không ghi nhận dân sở tại có phản ứng gì.

Ai đã đến cư trú trong các căn nhà do Cao Biền dựng lên? Trong trận quyết chiến giữa Đường và Nam Chiếu tại phủ Đô hộ vào năm 863, các tướng Đường như Sái Tập, Nguyên Duy Đức chống trả kịch liệt đến mức toàn thể gia đình, bộ thuộc đều chết. Nam Chiếu lần thứ hai chiếm phủ thành. Qua hai lần thành công, họ vừa bắt vừa giết gần 150.000 người. Với số lượng nạn nhân như vậy, dễ hiểu là không còn đủ nông dân để canh tác. Năm 865, Cao Biền tiến quân sang An Nam bắt gặp 50.000 người Man đang thu hoạch lúa trên vùng nay thuộc Bắc Ninh. Rõ ràng, Nam Chiếu có kế hoạch định cư lâu dài tại An Nam nên tiến hành tàn sát quy mô lớn để thay đổi thành phần dân cư. (10) Ruộng đất cung cấp lương thực cho phủ Đô hộ đã có chủ mới. Họ Cao đánh giết những người gặt lúa, phá tan viện binh rồi tiến chiếm châu trị. Riêng trận phá thành, Biền tiêu diệt 30.000 quân Man, sau đó bắt 17.000 thổ dân ủng hộ Nam Chiếu. Qua mười năm chiến loạn, tổn thất sinh mạng quân dân cả hai bên đều lớn. Như thế, có thể đoán rằng Cao Biền phải mời gọi không chỉ dân phủ Đô hộ cũ vốn đã bị tiêu hao nặng nề, mà còn gồm cả người Đường mới đến cư trú quanh châu thành. Quan hệ giữa nhóm “tân dân” với các triều đình phương Bắc đương nhiên bền chặt hơn quan hệ của nhóm “cựu dân” đã An Nam hóa ít nhiều.

Năm 939, Ngô Quyền rút kinh nghiệm Đình Nghệ, lập triều đình bên ngoài vùng đất thù địch Đại La. Việc định đô tại Cổ Loa cho thấy quê Đường Lâm của họ Ngô không thuộc Giao châu. Ông là vị đầu lĩnh gốc Phúc Lộc châu thống trị một vùng đang nghiêng ngửa giữa thế lực bản địa Hoan Ái và thế lực mang bóng dáng chủ cũ từ Hưng Vương Phủ. Vương quốc mới ra đời có vẻ là tập hợp nhiều lãnh thổ tự trị nhỏ hơn là một thể chế có hệ thống hành chánh đến từng địa phương. Sử cũ không thể hiện hành động phân bổ quan lại nào của Ngài. Có thể Ngô vương dựa vào đạo quân mạnh của mình để áp đặt phú thuế, sưu dịch lên các lãnh chúa tự quản sau này trở thành các sứ quân. Khi Dương Tam Kha vận hành chính quyền trung ương, ông muốn bắt Xương Ngập tại lãnh địa Trà Hương (nay thuộc Hải Dương) của Phạm Lệnh công nhưng ba lần đều thất bại. Sự việc cho thấy quyền lực Cổ Loa vô cùng giới hạn, đặc biệt đối với vùng duyên hải là vùng mà Xương Ngập cảm thấy an toàn khi ẩn nấp.

Theo thần phả thần tích còn lưu hành đến nay, hơn phân nửa số thổ hào khu vực trung du và đồng bằng sông Hồng là người gốc Hán vào thời 12 sứ quân. Các vị hào trưởng đó gồm: Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu, Đỗ Cảnh Thạc và Trần Lãm. (11) (không kể thủ lĩnh chiếm cứ miền núi Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí, Kiều Thuận). Họ chính là nhóm người kiểm soát nguồn hàng hóa từ đầu nguồn theo sông Hồng, sông Thái Bình xuống cửa biển phục vụ hệ thống hải thương nhộn nhịp đương thời. Dưới quyền sứ quân đa số là thổ dân ở nhiều mức độ phát triển khác nhau, vẫn còn các cộng đồng hoang dã khiến Toàn thư nhắc đến họ bằng danh xưng “bộ lạc” khi Đinh Bộ Lĩnh bình định Đỗ Động giang (năm 967). Thời điểm đó, dân cư phía đông nam và nam sông Hồng hẳn rất thưa thớt vì người Lạc cổ chủ yếu sống dựa theo đồi gò ven chân núi và việc canh tác đất thấp trũng chưa thuận lợi do hệ thống đê chưa hình thành.

Đinh Bộ Lĩnh dẹp 12 sứ quân, vẫn tránh định đô tại Đại La hay tại một địa điểm thuộc đồng bằng sông Hồng. Có thể nơi này dân cư vẫn chưa hồi phục đông đúc như trước, cũng có thể vua Đinh cảm thấy đó chẳng phải là không gian thân thiện.

Uy vũ của Tiên Hoàng tuy áp đảo các lãnh chúa nhưng khi Ngài băng, chưa chắc người con nào đó đương nhiên kế vị. Xét kỹ lá thư do Lê Hoàn giả danh Đinh Toàn gửi hoàng đế Tống, chúng ta thấy rõ điều kiện cần và đủ để được làm vua Đại Cồ Việt.

“Nhà thần sắp sụp đổ, chưa bỏ áo tang thì quân dân tuớng lại trong hạt, nguời già lão ở núi rừng cùng đến chỗ nằm rơm gối đất của thần, bảo thần tạm giữ việc quân lữ. Thần cố từ ba bốn lần, nhưng bọn họ thỉnh cầu nài ép càng khẩn thiết. Thần muốn đợi tâu bày, nhưng lại lo chậm trễ; nguời núi rừng hung ác, dân khe động tráo trở, nếu không chiều ý họ, sợ có khi tai biến xảy ra.” (Toàn Thư I, 223-224)[4]

Có hai nhân tố chính tác động đến việc lên ngôi của vua mới, một là “quản nội quân dân tướng lại 管内軍民將吏”, quân dân tướng lại trong hạt, hai là “phiên duệ kỳ điệt 番裔耆耊”, người già lão nơi biên viễn. Đứng đầu Hoa Lư thì chỉ cần sự ủng hộ của quân dân tướng lại, tức những người trực thuộc hệ thống hành chánh của tiểu vương quốc trung tâm, nhưng muốn làm vua Đại Cồ Việt thì phải thêm điều kiện đủ là sự đồng thuận của các thủ lĩnh bên ngoài khu vực đô thành. Tiếng nói của những tù trưởng nơi núi non 山, đồng ruộng 野, hang động 洞 và ao ngòi 壑 đủ mạnh để chủ động Hoa Lư phải cân nhắc hết sức nếu muốn làm điều gì trái ý họ. Đặc tính “hung ác”, “tráo trở”, sẵn sàng ép uổng cả nhà vua cho thấy họ là những chúa đất có tiềm lực quân sự. Điểm này khiến ta liên tưởng đến nhận xét của Tomé Pires vào đầu thế kỷ 16 về hòn đảo nay thuộc Philippines, Pires thấy Lữ Tống được quản lý bởi một nhóm trưởng lão chứ không có quốc vương. Tổ chức chính trị Đại Cồ Việt, dưới ảnh hưởng trung nguyên, chỉ vừa vượt qua giai đoạn thô sơ này và còn quãng đường rất xa mới đạt đến kiểu cấu trúc phong kiến tập quyền. Cách trình bày với vua Tống của Lê Hoàn cũng thật khéo, bằng cách nhấn mạnh ảnh hưởng của cừ súy địa phương trong việc suy tôn vua mới, Ngài đã hạn chế tác động từ hoàng đế Trung Hoa lên qui trình truyền ngôi tại nước Nam. Thời Đinh, có vẻ cộng đồng người tại trung lưu sông Hồng chưa đóng vai trò chính trị đáng kể nên không được đề cập riêng.

Người Quảng hay Mân đến Giao châu sinh sống là điều rất bình thường vào thế kỷ X. Vị vua thừa kế nhà Đinh là Lê Hoàn từng nói với sứ Tống Lý Nhược Chuyết rằng (996): “Việc cướp trấn Như Hồng là do bọn giặc biển ở ngoài, Hoàng đế có biết đó không phải là quân của Giao Châu không? Nếu Giao Châu có làm phản thì đầu tiên đánh vào Phiên Ngung, thứ đến đánh Mân Việt, há chỉ dừng ở trấn Như Hồng mà thôi? ” (Toàn Thư II, 234).[5] Câu nói ít nhiều phản ánh sự luân chuyển con người, ý tưởng và hàng hóa giữa ba xứ tham gia buôn bán trên biển Đông, đồng thời cho thấy vua Lê có kiến thức nhất định về hoạt động phồn thịnh này.

Từ năm 991 đến năm 995, Toàn Thư ghi nhận Lê Đại Hành phân phong 8 trong số 9 hoàng tử về địa bàn châu thổ sông Hồng, đặc biệt ở vùng nay là Hưng yên, Hải phòng. Hành động đó cho thấy khu vực đồng bằng có sự phục hồi về dân số và kinh tế nên vấn đề an ninh hay thu thuế trở nên quan trọng hơn trước. Quan tâm tột độ của Lê Hoàn đối với trung nguyên hé lộ sự tái hình thành có thể vượt tầm kiểm soát của một cực chính trị khác đủ khả năng đương đầu với Hoa Lư.

Lý Thái tổ dời đô về Đại La, trong bản chất, là sự quay về không gian văn hóa của chính mình, (12) tránh xa phản ứng bất trắc của tập hợp bản xứ rất mạnh từ Hoan Ái. Cộng đồng “kinh” xuất hiện sớm nhất trong lịch sử Việt chính là gia tộc Lý và nhóm công khanh người Mân, có thể cả Quảng, cùng gia đình họ. Vây quanh là lớp thổ hào quen thuộc với lối sống và cách cai trị kiểu Trung Hoa, họ có mối quan hệ thương mại cả bằng đường bộ lẫn đường biển với phía Bắc từ trước. Thổ hào không chỉ là người địa phương mà còn có thể là người Hoa bản địa hóa hay người lai. Nền tảng của cộng đồng “kinh” là thần dân cũ của đế quốc Đường tập trung ở trung lưu sông Hồng, họ từng sống bên trong hệ thống hành chánh phủ Đô hộ hàng trăm năm.

Số lượng ít ỏi của tầng lớp ưu tú thuần gốc Bắc có thể được phát hiện qua ghi nhận thú vị sau đây trong Toàn Thư vào năm 1042:

Tháng 9, nhuận, xuống chiếu kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm vợ cả, vợ lẽ người ta, người chủ đánh chết, ngay lúc bấy giờ thì không bị tội (Toàn Thư I, 277)[6]

Thông tin này tiết lộ nhiều điểm lạ so với quan niệm ngày nay:

– Đương thời, việc đàn ông con trai ban đêm lẻn vào nhà người khác để quan hệ tình dục với vợ gia chủ rất phổ biến, đến nỗi nhà vua phải ban chiếu chấn chỉnh.

– Hai kẻ vụng trộm dan díu nhau ngay trong nhà chủ nhân. Nghĩa là người phụ nữ tán đồng việc này đồng thời không cho đó là tội lỗi.

– Sự việc rất bình thường với đa số dân chúng vì hai kẻ có thể mệnh danh “gian phu dâm phụ” dưới mắt Nho giáo không bị kết án bởi dư luận. Triều đình cũng thoái thác phân xử, nhường quyền quyết định cho ông chồng bất hạnh.

– Gia chủ có quyền đánh chết kẻ trộm tình nhưng chỉ ngay tại chỗ. Nếu đương sự thoát ra khỏi nhà, phép vua khắc nghiệt sẽ mất hiệu lực.

Chiếu chỉ rõ ràng bênh vực nhà quyền quý hay giàu có người gốc Hán. Họ đủ điều kiện lấy nhiều vợ nhưng do khó mang theo phụ nữ trên hải trình nguy hiểm nên phải kết hôn với người địa phương. Các bà vợ vẫn duy trì hành vi nay chúng ta còn thấy ở vài dân tộc ít người vùng cao, ví dụ như tập quán “coong trình” của tộc Dao đỏ (13). Với dân lưu vong mới đến Giao Chỉ một hai đời, hoạt động kiểu “coong trình” thật khó chấp nhận.

Mặt khác, chiếu chỉ khéo léo tránh va chạm phong tục địa phương vì triều đình chẳng tỏ ý bắt tội ai, cũng chẳng phán xét gì, chỉ cho ông chồng khoảng thời gian và không gian rất hẹp để tự xử lý. Đối tượng xử lý lại không phải là người đàn bà. Dường như thời điểm đó, phụ nữ có quyền làm như thế vì theo quan niệm bản thổ, người chồng chưa có vai trò độc tôn. Cũng có thể những phu nhân “phóng đãng” xuất thân từ các gia tộc hào sĩ địa phương mà sự thuận thảo của họ rất quan trọng đối với chính quyền Thăng Long.

Luật pháp mềm dẻo không triệt tiêu tập tục bản địa vốn được tôn trọng bởi khối người áp đảo, ngược lại, sau nhiều thế hệ định cư, người gốc Bắc lại có hành vi như thổ dân. Nạn nhân nổi tiếng của chiếu chỉ là Thái Úy Quan nội hầu Tô Trung Từ đời Lý Huệ tông. Tô Trung Từ thuộc nhóm liên minh với họ Trần ở Hải ấp, ông là cậu của Trần Tự Khánh, chú vua Trần Thái tông. Năm 1211, do vào nhà công chúa Thiên Cực lúc đêm tối để tư thông, họ Tô bị chồng công chúa đánh chết. (14)

Nhóm dân “sống ở kinh đô” đầu thời Lý là một sắc tộc mới đang tượng hình, khác biệt với các cộng đồng chung quanh, chiếm thiểu số so với tổng dân số trên vùng lãnh thổ nay là bắc bộ và bắc trung bộ. Họ bắt đầu sử dụng ngôn ngữ khác, dần hoàn chỉnh trong triều đình Lý vốn chủ đạo bởi vua quan nói tiếng Mân hoặc một thứ tiếng Hoa miền biển. Tiếng nói mới hẳn chịu tác động mạnh mẽ bởi tiếng nói của lớp lãnh đạo tại chỗ vốn bắt đầu ngừng sử dụng tiếng Hoa sau khi Ngô Quyền từ chối các Tiết độ sứ phương Bắc. Sự lan tỏa của ngôn ngữ này kèm theo văn hóa hỗn tạp nhưng tiên tiến đã chuyển hóa nhóm người bản địa hợp tác với ngoại tộc thành người “kinh”, đồng thời biến dân số bất khuất còn lại thành “dị tính”, “trại” hay tệ hơn, thành “mường mán”.

Sự khác biệt giữa dân ở “kinh” với dân “trại” có thể được phát hiện qua lịch sử chinh chiến của hai đời vua đầu triều Lý.

– Năm 1011: đem sáu quân đánh man Cử Long ở Ái châu (thuộc Thanh Hóa nay).

– Năm 1012: vua thân đi đánh Diễn châu (thuộc Nghệ An nay) vì người ở đấy không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân…Cuối năm này, bắt người Man và hơn 10.000 con ngựa tại châu Vị Long (thuộc Tuyên Quang nay)

– Năm 1013: vua thân đi đánh châu Vị Long do dân châu hùa theo người Man làm phản. Thủ lĩnh Hà Án Tuấn cùng bộ thuộc trốn vào rừng núi.

– Năm 1014: Dực Thánh vương chống người Man xâm nhập ở châu Bình Lâm (thuộc Tuyên Quang nay), chém hàng vạn người.

– Năm 1015: Vũ Đức vương và Dực Thánh vương đánh người Man ở Vị Long, Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên (thuộc Tuyên Quang nay); bắt được Hà Án Tuấn, chém bêu đầu ở chợ.

– Năm 1020: Khai Thiên vương và Đào Thạc Phụ đánh Chiêm ở trại Bố Chính, chém tướng giặc Bố Linh tại núi Long Tỵ (nay thuộc Quảng Bình).

– Năm 1022: Dực Thánh vương đánh Đại Nguyên Lịch, thâm nhập trấn Như Hồng thuộc Tống.

– Năm 1024: Khai Thiên vương đánh Phong Châu, Khai Quốc vương đánh châu Đô Kim.

– Năm 1025: lập trại Định Phiên ở phía nam Hoan Châu (khoảng Hà Tĩnh nay)

– Năm 1026: Khai Thiên vương đánh giặc ở Diễn Châu.

– Năm 1027: Khai Thiên vương đánh châu Thất Nguyên, Đông Chinh vương đánh châu Văn (nay thuộc Lạng Sơn).

– Năm 1028: vua mới Thái tông đánh phủ Trường Yên (Ninh Bình nay) do Khai Quốc Vương trấn trị làm phản.

– Năm 1029: đánh giáp Đãn Nãi ở châu Ái.

– Năm 1031: vua thân đi đánh châu Hoan.

– Năm 1033: vua thân đi đánh châu Định Nguyên, sau đó là châu Trệ Nguyên.

– Năm 1035: vua thân đi đánh châu Ái.

– Năm 1036: đặt hành dinh ở châu Hoan, đổi tên thành châu Nghệ An.

– Năm 1037: vua đánh đạo Lâm Tây, Khai Hoàng vương đánh Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên. Dựng hơn 50 kho tàng thuộc Nghệ An.

– Năm 1039: vua đi đánh Nùng Tồn Phúc.

– Năm 1041: cho Uy Minh hầu Nhật Quang làm Tri châu Nghệ An. Đánh bắt được Nùng Trí Cao.

– Năm 1042: Khai Hoàng vương đánh châu Văn.

– Năm 1043: Khai Hoàng vương đánh châu Ái, Phụng Càn vương đánh châu Văn. Đào Xử Trung dẹp giặc biển Chiêm Thành.

– Năm 1044: vua thân chinh Chiêm Thành, chém vua Chiêm Sạ Đẩu tại trận. Trên đường về, Vua ban tiết việt và gia tước vương cho Trấn thủ Nghệ An Nhật Quang.

– Năm 1048: Phùng Trí Năng đánh Ai Lao, Quách Thịnh Dật đánh động Vật Ác của Nùng Trí Cao.

– Năm 1050: dẹp loạn ở Vật Dương.

– Năm 1051: Thánh tông lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Việt.

Ngoài ba lần đối phó Chiêm Thành, đối tượng của các cuộc chinh phạt từ năm 1010 đến 1052 là các bộ tộc nói tiếng Tai-Kadai phía Bắc và người trại phía Nam. Riêng vùng đồng bằng rất yên ả. Bản chất chiến tranh phía Bắc và phía Nam khác nhau. Nhà Lý buộc phải ngăn chặn sự xâm nhập của “người lạ” từ phương Bắc. Đối với phương Nam, nhiều khả năng chiến tranh mang tính chất trừng phạt việc từ chối nộp cống thuế. Dưới triều trước, thủ lĩnh Hoan Ái còn định thần phục vua Chiêm thay vì vua tiền Lê. Đến triều Trần, khi Thăng Long suy yếu, Toàn Thư ghi chép rõ dân Tân Bình Thuận Hóa ủng hộ quân Chiêm, dân Nghệ An thì ăn ở hai lòng. Dường như dân trại chọn ngả theo vị vua thu thuế nhẹ hơn và gần gũi hơn về mặt văn hóa.

Triều đình Lý cũng không hoàn toàn yên tâm với các xứ đang an bình. Năm 1043, khi Lý Thái Tông hỏi ý các quan về cách đối xử với Chiêm Thành vì xứ này đã 16 năm không tiến cống thì được tâu trình như sau: “Bọn thần cho rằng đó là vì đức của bệ hạ tuy có đến nhưng uy thì chưa rộng. Sao thế? Vì từ khi bệ hạ lên ngôi đến giờ, họ trái mệnh không đến chầu, bệ hạ chỉ ban ơn đức để vỗ về, chưa từng ra oai dùng võ để đánh phạt. Bọn thần e rằng các chư hầu khác họ trong nước đều như Chiêm Thành cả, há chỉ riêng người Chiêm mà thôi đâu”. (Toàn Thư I, 279)[7]

Nghĩa là hệ thống cai trị trên toàn vương quốc của nhà Lý vẫn chưa mang tính tập quyền. Bên ngoài bộ máy trực trị vẫn tồn tại các chư hầu cùng họ và khác họ. Việc nộp phú thuế như thế nào từ các khu tự trị hoàn toàn tùy thuộc vào sức mạnh của tập đoàn trung ương. Cuộc xâm lược thành công Chiêm Thành năm 1044 dĩ nhiên đã ngăn ngừa hiệu quả manh động có thể có từ các chư hầu. Nhưng vì sao quan tướng nhà Lý đặt “hải nội dị tính chư hầu 海内異姓諸侯”, chư hầu khác họ trong nước, ngang với Chiêm Thành? Phải chăng văn hóa Đại Việt thời điểm đó do mới hình thành chỉ lan tỏa quanh Thăng Long và phủ Thiên Đức? Còn nhiều vùng ngay trong châu thổ vẫn theo truyền thống Đông Nam Á, được điều hành bởi các hào trưởng tự lập? Thời trung đại, “dị tính” có nghĩa gần như tương đương với “tộc người khác.”

Dân “kinh” thời Lý không thể đông hơn các cộng đồng mệnh danh “trại” hay “mường mán”. Họ chỉ là nhóm dân có văn hóa đặc thù, không là Hán nhưng đủ khác với cư dân xung quanh để chiến tranh bùng phát dai dẳng. Sự áp đảo về quân sự của triều đình trên các nhóm người ngoài vùng hạt nhân là sự áp đảo của một xã hội có tính tổ chức lên các cộng đồng riêng lẻ chưa có cơ cấu liên kết nhau sâu sắc. Tuy nhiên, có thể thấy chỉ đến đời thứ hai nhà Lý, triều đình đã cử Nhật Quang cai trị Nghệ An bên cạnh các thổ hào. Riêng châu Ái, nhà vua còn cử Khai Hoàng vương đánh dẹp vào năm 1043, nhưng đến năm 1105 khi Lý Thường Kiệt qua đời, đã thấy sử ghi việc Kiệt được Thánh tông phong chức Thái Bảo kèm tiết việt để thăm hỏi “lại dân” ở Thanh Hóa, Nghệ An. Như vậy, tầng lớp ưu tú nhà Lý bản địa hóa rất nhanh và các địa phương miền nam cũng mau chóng hòa hợp với trung châu. Trong vòng 100 năm, phân chia kinh-trại đã nhòa nhạt. Các trại, hay châu, Hoan và Ái đã trở các phủ Nghệ An và Thanh Hóa.

Tuy vậy, khi văn hóa miền biển lấn ngược chiều sông Cái, các nhà lãnh đạo duyên hải dù cảm thấy gần gũi với quý tộc trung lưu sông Hồng, lại thấy mình khác với người Thanh Nghệ. Điều này dễ hiểu, vì vùng duyên hải dưới quan sát của các tác giả Trung Hoa, thổ dân chỉ chiếm một nửa nhân khẩu. Năm 1256, nhân kỳ thi nho học, vua Trần chia làm Kinh Trạng nguyên và Trại Trạng nguyên, Kinh Thái học sinh và Trại Thái học sinh. Tống nho đã thâm nhập đồng bằng sớm sủa hơn khu vực phía nam nhiều. Chính nhà Trần dung nạp di thần Tống để kháng cự Mông Cổ xa lạ đến từ thảo nguyên. Liên kết chặt chẽ với Hoa tộc cả về quân sự lẫn văn hóa khoét sâu sự ngăn cách giữa tầng lớp thượng lưu Mân-Hán và đa số bình dân địa phương, khoảng cách tưởng đã phai nhạt vào cuối đời Lý. Thời bình, vấn đề giữa các tộc người có thể là thứ yếu nhưng trước đe dọa đòi hỏi huy động tổng lực của vương quốc, ủng hộ từ đa số bị trị trở thành yếu tố quyết định sự tồn vong của triều đại. Tính chất mong manh của một vương triều ngoại tộc được vua Trần hóa giải bằng hai hành động vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Đại Việt: đuổi cá sấu trên sông Lô và họp hội nghị tại thềm điện Diên Hồng.

Về việc nhà vua sai Nguyễn Thuyên đuổi cá sấu, chúng ta dễ hào hứng với thông tin gợi mở rằng Thuyên viết bài văn bằng quốc ngữ, tức chữ Nôm, nên thường hiểu sai về mục đích của thao tác này. Nhằm tìm hiểu động cơ của triều đình, phải đặt sự kiện vào trong dòng chảy căng thẳng của thế cuộc đương thời:

– Mùa đông năm 1278, Trần Thái tông băng. Nguyên đế sai Sài Xuân sang sứ dụ vua vào chầu. Vua cự tuyệt. Sứ giả Đại Việt sang Nguyên bị bắt giữ.

– Năm 1279, người Nguyên đánh trận quyết định với nhà Tống ở Nhai Sơn, quan quân Tống gồm cả hoàng gia chết đuối hơn 100.000 người.

– Năm 1280, xét duyệt sổ đinh và các sắc dịch. Trịnh Giác Mật ở Đà Giang làm phản, Trần Nhật Duật thu phục được.

– Năm 1281, nhà Nguyên phong chức tước cho vài người thuộc sứ đoàn nhà Trần, cử Sài Xuân sang Đại Việt hành xử khiêu khích.

– Năm 1282, Lạng Châu báo tin Toa Đô chuẩn bị 50 vạn quân mượn đường nước ta đi đánh Chiêm Thành. Lúc ấy, có cá sấu đến sông Lô, vua sai Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông để xua đuổi. Mùa đông, vua họp vương hầu và trăm quan tại Bình Than, cử Trần Khánh Dư làm Phó Đô tướng quân. Lấy Thái úy Trần Quang Khải làm Thượng tướng thái sư.

– Năm 1283, mùa thu, sứ giả Đại Việt thu được thông tin về đạo quân 50 vạn sắp vào cướp. Mùa đông, vua thân chỉ huy tập trận thủy bộ, cử Trần Hưng Đạo làm Quốc công Tiết Chế, bổ nhiệm nhiều tướng hiệu có năng lực.

– Năm 1284, mùa thu, Hưng Đạo vương duyệt binh lớn ở Đông Bộ Đầu, bố trí phòng thủ các điểm xung yếu. Mùa đông, vua sai Trần Phủ sang Nguyên xin hoãn binh. Trần Phủ báo tin Thoát Hoan sẽ tấn công với lý do mượn đường đánh Chiêm Thành. Thượng hoàng triệu tập bô lão ở thềm điện Diên Hồng, ban yến và hỏi ý kiến. Tất cả đều quyết chiến. Chỉ vài ngày trước Tết Nguyên đán, Mông Cổ vi phạm biên cảnh.

Trước Nguyễn Thuyên (1229 – ?), Hàn Dũ (768 – 824) từng làm việc tương tự khi bị biếm truất làm thứ sử Triều Châu, miền đất đương thời hãy còn là biên địa của đế quốc Đường. Họ Hàn vốn mộ Nho bài Phật, khổ nỗi, dân địa phương chắc chẳng “mộ” cũng chẳng “bài” cả hai. Để thu phục tập đoàn mông muội đa thần giáo, Hàn Dũ đã tạo nên sự kiện đuổi cá sấu bằng “Ngạc ngư văn”, qua đó, ông hành xử như một thầy mo bản thổ. Liam C. Kelley nhận xét rằng hành động của Hàn Dũ là thủ thuật cai trị phổ biến trong nhiều nền văn hóa khác nhau.

Toàn Thư không nói rõ Nguyễn Thuyên làm bài văn bằng thứ chữ gì, nhưng ngay sau lời kể vua ban họ Hàn cho ông, tác giả sử ký xác nhận Thuyên giỏi làm thơ phú quốc ngữ. Như vậy, có thể đoán rằng ông làm bài văn bằng chữ Nôm, đọc cho cá sấu nghe bằng loại tiếng Việt mà dân quanh vùng sông Lô nghe, hiểu được. Ở đây, vị vua gốc Phúc Kiến đã đóng vai “thầy mo” của các bộ tộc Lạc để dễ dàng huy động họ trong cuộc đại chiến sắp xảy ra. Vị phù thủy này vô cùng tế nhị vì đã không buộc cá sấu hay dân địa phương phải nghe tiếng nước ngoài. (15)

Hội nghị Diên Hồng mang dấu ấn cơ cấu Kuriltai của người Mông Cổ, chủ nhân trung nguyên lúc bấy giờ. Hội nghị trưởng lão tương tự vẫn thấy ở Afghanistan ngày nay dưới danh xưng Loya Jirga. Riêng Đại Việt, nơi hệ thống hành chánh phát triển hơn trên địa bàn chật hẹp, vua có thể trao đổi với lãnh đạo các phủ lộ để nắm tình hình địa phương nhưng vẫn triệu họp phụ lão, điều đó chứng tỏ hệ thống chính quyền không chặt chịa bao trùm toàn vương quốc. Nhiều khu vực vẫn tự chủ ở các mức độ khác nhau nên vua chỉ có thể trao đổi với thủ lĩnh địa phương thông qua cuộc họp này.

Hội nghị Bình Than dành cho tập đoàn cầm quyền bao gồm vương hầu người gốc Mân và trăm quan Hán hóa cao độ gắn kết với hoàng gia. Hành động đuổi cá sấu hay họp phụ lão là những nỗ lực tác động đến mọi ngóc ngách của khối dân bản địa. Hai thao tác chuẩn bị chiến tranh này cho thấy người Việt gốc vẫn chiếm đa số áp đảo mặc dù nhân số đồng bằng đã được bổ sung đáng kể bởi người Mân Quảng kinh dinh ven biển hoặc bởi di dân Tống.

Không còn báo cáo dân số thuở ban đầu, lúc nhà Lý phân chia kinh-trại. Li Tana tích hợp nhiều nguồn chứng minh một cách thuyết phục rằng dân cư thời Lý rất thưa thớt và chưa bao gồm dân số khu vực phía đông đồng bằng. Bà cũng đồng ý dân số tăng đột biến vào quãng thời gian 1200 – 1340. (16) Để suy đoán tương quan giữa dân số kinh và dân số các cộng đồng khác vào thời Lý, chúng ta thử xem xét tường trình Trương Phụ gửi về Kim Lăng năm 1408:

Chiêu an hơn 3.120.000 người, bắt được dân Man hơn 2.087.500 người (Minh Thực Lục I, 298)[8]

Sau khi Lý thái tổ chia Hoan Ái thành trại gần 400 năm (1010 – 1408), dân số nằm trong hệ thống hành chính trung ương, tức người chấp nhận văn hóa và sự cai trị từ Ty Bố Chính Giao Chỉ, chỉ chiếm 60% tổng dân số trên vùng đất nay là bắc bộ và bắc trung bộ (tỉ lệ khoảng 6/4). Con số “3.120.000 người” năm 1408 chắc chắn chủ yếu là dân “kinh lộ” và một ít dân “trại” vùng duyên hải Hải Tây mà người Minh trực tiếp thu thuế được. Dân số lên đến mức đó chỉ sau kỳ bùng nổ nhân khẩu tại đồng bằng xảy ra dưới thời Trần khi hệ thống đê điều toàn khu vực được xác lập và giống lúa Chiêm được phổ biến rộng rãi. Như vậy, có thể suy đoán tỉ lệ giữa dân số vùng trung lưu sông Cái với dân số các vùng Hoan Ái, vùng duyên hải, vùng đồi núi đầu thời Lý là con số rất khác tỉ lệ 6/4. Không đủ cơ sở để xác định tỉ lệ đó chừng 5/5, 4/6 hay 3/7…,(17) nhưng có thể xác định một điều : người nói các thứ tiếng Mường hay Tai-Kadai chưa trở thành dân tộc ít người vào thời điểm đó. Họ chỉ trở thành thiểu số khi nhiều thành viên trong số họ rời bỏ cộng đồng để hòa nhập vào người “kinh” hay “lộ”. Chính chiếu chỉ năm 1042 cho thấy các phụ nữ làm vợ hay thiếp của nhà quyền thế còn mang đậm tập quán của các bộ tộc sống cách biệt, bị ám ảnh bởi hôn nhân cận huyết. Dòng chảy nhân lực từ miền cao xuống còn thấy rõ vào cuối đời Trần qua bài thơ “Đề Tư Đồ Trần Nguyên Đán từ đường 題司徒陳元旦祠堂”, Đề thơ tại nhà thờ quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán, của Trần Nghệ tông. Thượng hoàng cho biết đội khiêng kiệu cho Ngài là “山僮 sơn đồng”, nô lệ người miền núi. Đối sánh số “nhân dân” 3.120.000 với số 2.087.500 “man nhân”, có thể nói rằng người man là các cộng đồng văn hóa khác biệt trên lãnh thổ An Nam, do điều kiện địa lý và trình độ phát triển, họ còn thuộc về nhiều bộ tộc khác nhau, nói ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau, nhưng chưa thật sự trở thành thiểu số trên chính quê hương mình.

Cần chú ý khái niệm kinh-trại chỉ được nhắc đến trong chính sử khi quyền lực thuộc về các gia tộc gốc Mân. Đến thời Hồ – Lê, không thấy Toàn Thư nhắc lại khái niệm này. Các vua Hồ lập đô ở Thanh Hóa, biến khu vực nay là Thanh Hóa và bắc Nghệ An thành “tứ phụ”, tức vùng lõi. Bộ phận điều hành lộ Đông Đô được đặt tên Phủ Đô hộ, một hàm ý ngoại vi hóa vùng kinh thành xưa. Từ đó, người trung châu được gọi là dân “kinh lộ”, ý chỉ người thuộc các lộ đồng bằng bao gồm cả lộ Đông Đô.

Taylor có lý của ông khi cho rằng khái niệm kinh-trại sẽ phát triển thành Việt-Mường sau này. Tuy nhiên, cũng có thể hiểu theo cách khác: Kinh gồm người Hán vùng duyên hải bản địa hóa và người địa phương Hán hóa chấp nhận sự lãnh đạo của nhóm gốc Bắc; Trại là người địa phương Hán hóa mức độ thấp, còn gần gũi với các tộc bản xứ. Thổ dân đóng vai trò tương đối thụ động trong tiến trình Hán hóa của nhóm kinh, ngược lại, người bản địa vùng trại chủ động tiến trình này. Dưới mắt kinh, dân trại phong hóa tầm thường. Dưới mắt trại, dân kinh quá ngả về Bắc không đủ tư cách làm chủ nước.

Xét riêng cộng đồng “kinh” hay “kinh lộ” thời Lý Trần, chúng ta thấy tầng lớp ưu tú chủ yếu là người Hán vùng ven biển đông nam hoặc người lai miêu duệ của họ; tầng lớp dưới là dân bản địa gốc Mường được bổ sung bởi tù binh nói tiếng Nam đảo hoặc tiếng Tai-Kadai. Dĩ nhiên có tầng lớp trung gian đến từ nhiều nguồn, họ có thể là thầy thợ người Bắc, hoặc thành viên các gia tộc lớn, hoặc người bình dân tiến thân bằng chiến công hay học vấn. Cơ cấu dân số như vậy đóng vai trò quyết định thái độ chính trị của khu vực. Nó giải thích vì sao những “người có chút ít tiếng tăm” nhanh chóng hợp tác với quân Minh, trái lại, “quân nhân đinh nam” lúc cùng đường lại sẵn lòng phục vụ vua Giản Định. Xu hướng chính trị này ảnh hưởng sâu đậm, bền bỉ và góp phần quan trọng định hình lịch sử Đại Việt – Đại Nam – Việt Nam.

Chất Hán vùng kinh lộ thẩm thấu trong giới tinh hoa đến mức độ nào? Đến các đời vua đầu Trần, ảnh hưởng Hán thấy rõ là bộ máy vương quyền được tổ chức kiểu Trung Hoa. Triết học Nho, Lão và Thiền tông ảnh hưởng mạnh chủ yếu trong tầng lớp biết chữ. Tuy vậy, những gì có nguồn gốc ngoại lai sau một thời gian hoạt động ở An Nam đã trở nên rất khác.

Năm 1293, sứ thần Nguyên Mông Trần Phu nhận xét hoàng tộc Trần như sau:

Hạ tục kiêu phù thậm,

Trung Hoa lễ nhạc vô.

Húy hiềm ngoa thị Nguyễn,

Thác chế tiếm xưng cô.

Tế tự tông phường tuyệt,

Hôn nhân tộc thuộc ô.

(Phong tục của tầng lớp dưới[9] hết sức bạc nẽo nông nổi,

Ở đây không có lễ nhạc của nước [Trung-quốc] văn minh.

Kiêng tên, nên đã mạo nhận là họ “Nguyễn”,

Mượn cớ có tang để tiếm xưng là “cô”.

Trong nơi tông miếu, việc tế tự mất hẳn,

Người cùng họ hàng lấy nhau thật xấu xa.)(18)

Vị sứ giả người Hán đại diện vua Mông Cổ không tìm thấy văn minh Trung Hoa tại triều đình Đại Việt. Ông phân biệt Hoa – Di không dựa vào đặc điểm sinh học của cộng đồng người, mà dựa vào thực hành văn hóa của giới thống trị. Dưới mắt Trần Phu, sự “khác” với thượng quốc thể hiện tính thấp kém.

Hơn 80 năm sau, Trần Nguyên Đán lại thấy sự “khác” giữa hai vương quốc ở góc cạnh “văn vận”, ông cho rằng đó là do tầm vóc văn hóa Đại Việt đã vượt qua Trung nguyên. (19) Dù tự hào đến vậy, Nguyên Đán vô tình vẫn dùng tiêu chuẩn cân đo phương bắc. Hẳn vì ngoài hệ giá trị đã am tường, ông không còn biết hệ nào khác.

Cả Trần Phu lẫn Trần Nguyên Đán đều là văn nhân đại thần. Phát biểu của họ hình thành từ cơ sở tri thức và học vấn đỉnh cao của mỗi xứ nên có thể xem như ý kiến điển hình. Chính sự “khác” cảm thấy bởi cả hai bên là nền tảng để người phương Nam tạo nên, và người phương Bắc nhìn nhận, thực thể Đại Việt. Thực thể này theo cách hiểu của Trần Hưng Đạo trong “Dụ chư tỳ tướng hịch văn” là tài sản thuộc họ Trần; công chúa Thiên Ninh cũng hiểu thiên hạ là “của tổ tông mình” nên không nhường họ khác. Tuy nhiên, sau mười năm giao chiến với quân Minh, Lê Lợi qua “Bình Ngô đại cáo” lại cho rằng thực thể đó thuộc về người Đại Việt dù nó bị cai trị bởi bất kỳ dòng tộc nào. Do vậy, Bình Định vương không chấp nhận quyền chọn chủ phương Bắc của nhóm ưu tú sinh sống bên trong cương vực nước Nam. Sau khi điểm lại tình hình lòng dân oán phản bởi chính sách triều Hồ, Ngài định danh nhóm hợp tác đồng thời định nghĩa việc họ làm nhân buổi rối ren một cách minh bạch:

“Ác đảng hoài gian cánh dĩ mại ngã quốc 惡黨懷奸竟以賣我國”, Bọn bất lương mưu cấu kết với giặc để bán nước ta.

Trong bối cảnh cái gọi là “dân tộc” theo định nghĩa phương Tây chưa hình thành, nhận xét của Lê Thái tổ cho thấy Ngài vươn trước thời đại mình rất xa.

Nguyên nhân gì khiến Lê Lợi tư duy mới mẻ như thế? Chúng ta sẽ có dịp quay lại với suy nghĩ của Ngài khi nghiên cứu các văn bản hành chính chấp bút bởi Thừa chỉ Nguyễn Trãi.

 

 

Tài liệu tham khảo, chú thích:

A. Các chi tiết lịch sử đều trích từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả : Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long. Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Toàn Thư – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.

B. Các ghi chép của người Minh đều trích từ bộ Minh Thực Lục, quan hệ Trung quốc – Việt Nam thế kỷ XIV – XVII (bản dịch Hồ Bạch Thảo), Nhà xuất bản Hà Nội (2010). Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Minh Thực lục – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.

(1) Viện Văn học, Thơ văn Lý-Trần tập III, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1978), trang 669-670.

(2) Trần Quốc Vượng không đồng ý phả hệ này. Dựa vào Việt Kiệu Thư của Lý Văn Phượng, cụ Trần cho rằng họ Mạc vốn gốc người Đản Quảng Đông. Tuy nhiên, cụ không giải thích vì sao nếu là người Đản thì không phải hậu duệ Mạc Đĩnh Chi.

(3) Geoff Wade dịch sang tiếng Anh rất thuyết phục và rõ ràng các chức danh thuộc Ty Bố chính. Bố chính sứ, Tả Hữu Bố chính sứ, Tả Hữu Tham chính Ty Bố chính, Tả Hữu Tham nghị Ty Bố chính được dịch lần lượt là Administration Commisioner, Administration Comissioner of the Left/Right, Vice Administration Comissioner of the Left/Right, Assistant Administration Comissioner of the Left/Right. Tham khảo: Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu : an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Shingapore E-press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/entry/1104, accessed July 02, 2016.

(4) Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch Nguyễn Đức Vân – Kiều Thu Hoạch, Nxb Trẻ (tái bản 2015), trang 429-430.

(5) Ngô gia văn phái, sđd, trang 430.

(6) Xem Đặng Phương Nghi, Vài tài liệu mới lạ về những cuộc Bắc tiến của Nguyễn Huệ, Quang Trung Nguyễn Huệ, Tạp chí Xưa&Nay – Nhà xuất bản Văn Hóa (in lại các bài đăng trong tập san Sử Địa do Nguyễn Nhã chủ biên và chủ bút – 2008), trang 59.

(7) Keith W. Taylor, A History of the Vietnamese, Cambridge University Press (2013), trang 177. Nguyên văn: People in the Red River plain tended to support Ming government. People in the lowlands of the southern provinces of Thanh Hoa and Nghe An were generally responsive to the Ming government as well. But in the foothills and uplands of these southern provinces was an endemic resistance to Ming rule. In other words, following a distinction first reported during Tran times, many Kinh people perceived value in being part of the northern empire, but the Trai people did not. Thus, in the 1420s, after the death of Zhu Di, it was among the Trai population of the southern provinces that active resistance to Ming developed most rapidly, particularly in the lower valleys of the foothills south of Red River and west of coastal plains. The Tran terms Kinh and Trai represented different tendencies on a spectrum of cultural and linguistic practice that in modern time have been perceived as a difference between Vietnamese and various peoples collectively called Muong.

Lát cắt quá rạch ròi của Taylor về sự phân rẽ mang tính vùng miền trong lịch sử Việt Nam thu hút chỉ trích cay đắng từ nhiều người Việt. Tuy nhiên, cần bình tĩnh hơn để xem xét quan niệm đó. Thực tế suốt quãng thời gian cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, vào những thời điểm Đại Việt có chính quyền đủ mạnh, họ chống cả Hán lẫn Chiêm. Nhưng những lúc trung ương suy sụp, Từ Nghệ An vào nam ngả về Chiêm trong khi đồng bằng Bắc bộ có xu hướng quy phục Hán. Các cộng đồng Đại Việt không chỉ ngả về bên này hay bên kia, họ còn dựa vào sức mạnh bên ngoài để cướp và giết nhau không nương tay. Đó là sự thực vào đời Trần mạt, Hồ và Minh thuộc.

(8) Trái ngược với ý kiến của đa số học giả Việt Nam, nhà nghiên cứu Nhật Bản Minoru Katakura hoài nghi về tính tập quyền dựa trên luật pháp của thiết chế chính trị triều Lý. Sakurai Yumio thậm chí cho rằng việc phân chia Đại Cồ Việt thành 24 lộ là sáng tạo của sử gia đời Lê. Năm 2013, Momoki Shiro đề xuất lập luận rằng chính quyền Lý ban đầu mang tính địa phương, sau đó mới dần phát triển sang các khu vực khác. Shiro chứng minh “lộ” là một đơn vị giám sát mang tính chất quân sự, tư pháp và tài chính bao trùm các đơn vị hành chính như phủ, châu; theo ông, việc phát triển quá mức quyền lực ra khỏi vùng trung tâm là một trong những nguyên nhân khiến chính quyền Lý suy yếu và sụp đổ.

(9) Con số này rất đáng ngờ. Đại Việt sử lược chép là 5 ngàn. Xem: Khuyết danh, Đại Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường 1972, Nxb TPHCM (1993), bản điện tử của nhóm Công Đệ – Lê Bắc, trang 20.

(10) Nam Chiếu đánh An Nam với sự ủng hộ của các thủ lĩnh bản địa như gia tộc họ Đỗ ở châu Ái, Lý Do Độc ở châu Phong. Đặc biệt có tù trưởng thân thiết với tướng Nam Chiếu Đoàn Tù Thiên tên Chu Cổ Đạo. Ông này cùng chết với Tù Thiên khi Cao Biền tái chiếm châu thành. Như vậy, đối tượng tàn sát của Nam Chiếu không thể là khối dân còn theo văn

hóa Lạc rất gần gũi với các tộc nói tiếng Kra-Dai. Cuộc “thanh lọc sắc tộc” của họ chủ yếu nhắm vào binh lính, quan chức và các chủ đất ở hai châu Phong và Giao. Nếu quan lại, quân chính quy đa số là người Đường thì tập hợp chủ đất lớn nhỏ quanh phủ trị lại là các gia đình Hán-Việt. Nam Chiếu quét sạch 150.000 người thuộc Phong và Giao châu mở đường cho tộc Thái trồng trọt trên các mảnh đất vừa chiếm được như chúng ta đã thấy. Cuộc phản công kèm theo giết chóc quyết liệt không phân biệt quân dân của Cao Biền một lần nữa tạo nên khoảng trống nhân lực tại trung châu. Biền cất nhà và khai thông thủy lộ hẳn đều hướng đến việc khuyến khích cư dân phía Bắc đến định cư tại Giao Chỉ. Sức mạnh sa sút của phủ Đô hộ cũ phơi bày khi họ Khúc ở Hồng châu (nay thuộc Hải Dương), Lý Tiến từ Nam Hán (Quảng Đông nay), Dương Diên Nghệ từ châu Ái thay phiên nhau tiến chiếm phủ thành dễ dàng. Nhiều khả năng, một số binh lính và dân thường theo chân 3 nhà lãnh đạo trên đã ở lại sinh sống tại trung tâm đồng bằng đã trở thành thưa vắng khi đó. Ngoài nguồn nhân lực tự nhiên tràn xuống từ miền cao điền khuyết không gian trống trải, nguồn bổ sung nhân lực tinh hoa đáng kể có thể là người Mân khi vương quốc Mân sụp đổ vào năm 945 và người Quảng khi vương quốc Nam Hán bị sáp nhập vào đế quốc Tống năm 971. Tập họp các thành phần dân cư nêu trên là cơ sở để hình thành người “kinh” khi Lý Thái tổ dời đô ra Thăng Long.

(11) Xem Nguyễn Danh Phiệt, Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Nxb Khoa học Xã hội (1990), trang 32-37.

(12) Xem Tạ Chí Đại Trường (2010), Có một nguyên nhân dời đô khác?, http://www.talawas.org/?p=23999.

(13) Theo tục “coong trình” của người Dao đỏ, phụ nữ có quyền ăn nằm với đàn ông nào họ thích. Hành động đó không bị xem là vi phạm đạo đức vì tộc Dao đỏ tin rằng sau khi qua đời phụ nữ cần có nhiều đàn ông đỡ đần để họ trải qua kiếp ma. Cũng có thể đó chỉ là phản ứng bản năng để cải tạo nòi giống của những người sống trong cộng đồng cách biệt, chịu nhiều hậu quả từ hôn nhân cận huyết.

(14) Khuyết danh, Đại Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường 1972, Nxb TPHCM (1993), bản điện tử của nhóm Công Đệ – Lê Bắc, trang 95.

(15) Nghiên cứu của Nguyễn Tài Cẩn về cách đọc Hán Việt cho phép suy luận sự hình thành chữ Nôm như một hệ thống văn tự xảy ra sớm nhất là vào đầu thế kỷ XI. Thời điểm này gần như trùng hợp với khởi điểm hình thành thứ tiếng tiền thân tiếng Việt hiện đại giả thiết bởi John Duong Phan. Phan cho rằng ngôn ngữ mới ra đời là do cộng đồng người nói loại tiếng Hán địa phương (Annamese Middle Chinese) chuyển sang nói tiếng Tiền Việt Mường. Tác động của quá trình chuyển đổi khiến tiếng Tiền Việt Mường biến thành tiếng Tiền Việt Mường lai, có nhiều phương ngữ. Một trong số phương ngữ đó sẽ biến chuyển qua nhiều thế hệ để trở thành ngôn ngữ mới đặc sắc là tiếng Việt. Như vậy, theo lập luận của Phan, có thể nói rằng chủ thể ban đầu tạo ra tiếng Việt, kiêm tác giả chữ Nôm, là những người Hán bản địa hóa chứ không phải người Việt Hán hóa. Toàn bộ đoán định trên phù hợp với diễn tiến lịch sử khi Lý Công Uẩn cùng nhóm công khanh người Mân chiếm quyền cai trị Đại Cồ Việt (năm 1009). Trước đó, các “kỳ nhân” bản địa như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn hẳn không có ý định tự thay đổi tiếng nói của mình. Điều này có thể dẫn đến trở ngại là chính quyền trung ương, ngoài văn ngôn Hán, còn dùng một thứ ngôn ngữ giàu tính địa phương mà không phải bất kỳ cộng đồng nào trong khu vực Đại Cồ Việt đều hiểu. Nếu dưới thời đô hộ, tiếng và chữ Hán là bắt buộc thì thời đầu tự chủ, Đại Cồ Việt thiếu ngôn ngữ bản địa chính thức mang lại sự nhất thống. Phải khẳng định rằng tập đoàn họ Lý có ý thức mạnh mẽ về một vương quốc phương Nam tách biệt khỏi Trung Hoa, tương tự vương quốc Mân của tổ tiên họ. Lý Thái tổ che dấu gốc Phúc Kiến và dĩ nhiên không thể sử dụng bất kỳ loại tiếng Hán nào trong triều đình. Có thể nhu cầu dùng chuyển ngữ phi Hán đã khiến nhóm cầm quyền ngả sang tiếng Tiền Việt Mường. Thứ tiếng này phát triển chậm chạp dưới thời Lý để rồi có bước nhảy vọt khi họ Trần mang vùng ven biển Bắc bộ hòa nhập mạnh vào văn minh Đại Việt. Những tác giả Nôm đầu tiên được lịch sử ghi nhận đều là trí thức duyên hải. Tuy nhiên, ngôn ngữ mới chỉ thực sự mang tính phổ quát khi Hồ Quý Ly/Lê Lợi nối kết vùng trại vào không gian Thăng Long đồng thời gia tăng chất bản địa trong lòng văn hóa Đại Việt cũ.

(16) Xem Li Tana (2014), Towards an environmental history of the eastern Red River Delta, Vietnam, c. 900-1400, Journal of Southeast Asian Studies, 45, trang 315-337 doi : 10.1017/S0022463414000319

(17) Theo thống kê dân số tháng 4 năm 2009, tỉ lệ người kinh và người các tộc khác trong toàn vùng từ đèo Hải Vân trở ra là 81.56/18.44.

Tỉ lệ này chỉ để tham khảo vì khái niệm “kinh” hiện đại không trùng khớp khái niệm “kinh” thời Lý Trần hay thời Lê sơ, địa bàn từ Thừa Thiên – Huế đến biên giới Trung quốc hiện nay cũng không trùng khít với khu vực từ Thuận Hóa đến biên giới Tống Nguyên Minh thời đó.

(18) Trần Nghĩa, Một bức “ký họa” về xã hội nước ta thời Trần : Bài thơ “An Nam tức sự” của Trần Phu, Tạp chí Văn học 1 (1972), trang 112-113.

(19) Xem Trần Nguyên Đán, Đề Quan lỗ bạ thi tập hậu, Thơ văn Lý-Trần tập III, Nxb Khoa học Xã hội (Hà Nội 1978), trang 196.

____


[1] Có thể giải thích điều này theo hai cách :

– Theo thời gian, có sự hỗn dung ngôn ngữ và văn hóa giữa hai khu vực nên cách biệt phai nhạt dần.

– Đoạn sử phân biệt kinh-trại dựa theo quan điểm của các dòng vua vùng kinh, đoạn sử phân biệt chính-nhuận (hoặc đông-tây theo người đương thời, hoặc nam-bắc theo sử gia hiện đại) dựa theo quan điểm của các dòng vua vùng trại.

[2] Thời Nam Bắc triều: 1533 – 1592

[3] Chiến tranh Trịnh Nguyễn: 1627 – 1672

[4] Nguyên văn : 臣堂构將壞哀裳未除管内軍民將吏番裔耆耊等共詣笘之束得權軍統之亊臣懇辞數四請偪俞堅傳奏陳又慮楥山野獷惡之俗洞壑狡猾之民倘不徇其情恐或生異 (Toàn Thư IV, 96)

[5] Nguyên văn : 刧如洪鎮乃外境海賊也皇帝知此非交州兵否若使交州叛命當首擊蕃禺次擊閩越豈止如洪鎮而(Toàn Thư IV, 101)

[6] Nguyên văn : 閏月詔諸夜入人家奸人妻妾主人登時格殺者勿論 (Toàn Thư IV, 123)

[7]Nguyên văn: 臣等以為陛下之德雖加而威未廣故也何者陛下即位以來彼逆命不庭惟布德施惠以懷之未嘗信威耀武以征之非所以威遠人也臣恐海内異姓諸侯皆如占城奚啻占人哉 (Toàn Thư IV, 124)

[8] Nguyên văn : 安撫人民三百一十二萬有奇獲蠻人二百八萬七千百五百有奇 (Minh Thực Lục I, 753)

[9] Nhận xét : Trần Nghĩa dịch “hạ tục” là “phong tục của tầng lớp dưới”; chúng tôi nghĩ rằng “hạ tục” ở đây chỉ thói tục của họ Trần, biểu trưng cho phong tục Đại Việt.

bài đã đăng của Lê Tư


4 bình luận »

  • Chiêm Nam viết:

    Đây là lần đầu tiên tôi đọc sử Việt, không phải là đọc về những chiến công, về những anh hùng, về sự nghiệp dựng nước và giữ nước của cha ông ta mà về những kẻ phản bội. Tiếc là Da Màu cho đi đến 3 tuần mới hết bài. Cứ phải đợi, nên đọc đi đọc lại. Thế mà cũng hay, vì có dịp đọc kỹ.

    Tác giả liệt kê hành trạng của 7 người bán nước thời nhà Minh đô hộ. Tác giả cho biết họ là người Kinh Lộ. “Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản”, khiến “cả nước hầu như trống rỗng.”

    Hai chữ “kinh lộ” khiến tôi tò mò. Vừa đọc chuyện xưa lại vừa ngẫm nghĩ đến chuyện nay mà giật mình. Thì ra “kinh lộ” là vùng Thăng Long và đồng bằng sông Hồng, tức là người trung châu. Đúng là địa lý chính trị. Khi Lê Lợi khởi nghĩa, quân dân kinh lộ không nổi dậy qui mô lớn để ủng hộ. Và nếu có ai theo cũng “không dốc lòng” với Lê lợi dẫu “rất nhiều trong số đó thuộc dòng dõi quân tướng lừng danh. Đã thế, “những người có chút tiếng tăm” ở đồng bằng nô nức hợp tác với người Minh.

    Những người có chút tiếng tăm là ai nhỉ? Chắc là quan gia và trí thức Thăng Long. Còn nô nức hùa theo giặc? Không biết hai chữ “nô nức” ở đây, tác giả có nói quá chăng!

    Còn có văn hóa nữa. Tác giả cho biết là “Văn hóa thâm nhập từ trung nguyên khiến một bộ phận cư dân vùng đất nay là bắc bộ và duyên hải bắc trung bộ càng thêm thấm nhuần văn minh Hán, đặc biệt về giáo huấn Tống Nho. Họ là tác nhân của tiến bộ xã hội nhưng tâm thức dễ dao động giữa thế giới người nói tiếng Việt và thế giới người viết chữ Hán.” Theo lời Mạc Thúy, đại biểu xuất sắc của nhóm bán nước này, thì “những người đó đang vui mừng vì nhờ quân Minh mà thoát tục man di, được chiêm ngưỡng áo khăn thịnh trị. Họ hân hạnh không kể xiết vì các đầu mục Thanh Hóa quê mùa khó bì được với vị hoàng đế hào hoa ở Kim Lăng.”

    Trong lúc đó, “quân nhân đinh nam”, những người từ Ninh Bình trở vào và các miền núi xa xôi, lúc cùng đường lại sẵn lòng phục vụ lực lượng kháng chiến.

    Tác giả cho rằng xu hướng chính trị của hai thành phần dân chúng này ảnh hưởng sâu đậm, bền bỉ và góp phần quan trọng định hình lịch sử Đại Việt – Đại Nam – Việt Nam. Hai thành phần dân chúng, “Kinh” và “Trại”, phải chăng là “đàng trong” và “đàng ngoài”? hay là miền Nam và miền Bắc?

    Nhận xét sau đây của tác giả thật đáng suy nghĩ, nhất là khi soi xét kỹ mọi khía cạnh của thời cuộc và nhất cử nhất động của nhà cầm quyền VN hiện nay:

    “Ác đảng hoài gian cánh dĩ mại ngã quốc” (Bọn bất lương mưu cấu kết với giặc để bán nước ta). Trong bối cảnh cái gọi là “dân tộc” theo định nghĩa phương Tây chưa hình thành, nhận xét của Lê Thái tổ cho thấy Ngài vươn trước thời đại mình rất xa.”

    Tác giả đã “luận cổ” phải chi thêm một chút “suy kim” thì thật hay.

    Một tài liệu sử quý hiếm, rất đáng đọc. Cám ơn tác giả.

  • black raccoon viết:

    文獻 Văn Hiến

    獻 hiến (20n)
    1 : Dâng biếu.
    2 : Người hiền. Như văn hiến 文獻 sách vở văn chương của một đời nào hay của một người hiền nào còn lại để cho người xem mà biết được chuyện cũ.
    獼 mi, di (20n)
    (Hán Việt Tự Điển – Thiều Chửu)

    Cố GS Lương Kim Định thì định nghĩa: “Văn Hiến là những người hi hiến đời mình cho văn”. Chử văn 文 vừa tượng hình vừa hội ý. Là con người. Người điều hợp được 2 nét song trùng âm dương, đất trời, tình lý. Nói chung, văn hiến là tài sản tinh thần thuộc văn chương, văn học, văn hóa do từng người “hiền” đóng góp, chế tác và lưu lại. GS Kim Định đề ra thuyết Việt Nho và An Vi là nhằm tạo một đầu mối cho vấn đề vốn rất bùng nhùng là văn hóa Hoa – Việt.

    Cũng theo GS Kim Định, Việt Tộc có vài (không hẳn phải nhiêu) thứ vượt trội và biểu trưng như: cây đàn bầu, đôi đũa, vấn tóc vấn khăn theo hình loa kế 螺髻(xoắn ốc). Mà người Tàu, nếu có (bắt chước) cũng không thể xuất sắc hơn.

    Trong tiến trình văn hóa giao tiếp, đan xen với nhau, nếu anh không có một chủ ý, thì hoặc là anh sẽ copy người khác, hoặc là anh sẽ đánh mất phần của mình dễ dàng. Cây đàn guitar của người Spain, người Việt chơi vọng cổ đã khoét cái phím lõm xuống, lên giây lại theo ngũ cung hò xự xang xê cống. Và nó thành cây lục huyền cầm đờn 6 câu. Ngay người Tây Ban Nha sẽ rất ngạc nhiên mà không dễ truy tầm nguyên do. Đó cũng có thể là văn hiến.

    Có dịp tôi sẽ đóng góp ý kiến về “mắc mướu” vì sao Kinh Tộc – Dân Tộc Kinh hiển hiện trong thẻ CMND của mỗi người Việt Nam hiện nay.

  • Lê Xã Thiệp/ Giao Lịch viết:

    Bài nghiên cứu sử học này có vẽ hơi khác với bình thường về đối tượng nghiên cứu, cách hành văn cũng như gợi lên nhiều câu hỏi.
    Về đối tượng nghiên cứu:
    1. Tác giả nói về những người “tùng tặc dĩ phản” cho thấy sử không chỉ để tự hào mà còn để rút ra những bài học chính trị.
    2. Sự khác biệt văn hóa giữa người kinh và trại: Không chỉ trong sử học, các nhà nghiên cứu thường tránh nhắc đến sự phân biệt văn hóa vùng miền, hoặc có đề cập đến cũng là để hô hào cho sự đồng nhất, nhiều lúc khá khiên cưỡng theo cách áp đặt. Trẻ con ở nhà kêu cái muỗng nhưng vô lớp phải gọi là cái thìa! Điều này vừa vô lý vừa vô tác dụng. Trước mặt cô giáo, đứa bé sẽ gọi cái thìa, nhưng về nhà nó vẫn kêu là cái muỗng và tại sao không buột đứa bé thường gọi thìa phải kêu là cái muỗng? Tác giả mạnh dạn mổ xẻ dưới góc nhìn sử học khiến chúng ta hiểu sự phân hóa đó đã bắt đầu từ những nguồn gốc sâu xa, để chúng ta phát huy thêm sự khác biệt cũng như tìm biện pháp cho những sự khác biệt đó gắn kết với nhau và cùng phát triển mà nước Mỹ là một minh chứng hùng hồn.
    3. Công tác chuẩn bị chiến tranh của nhà Trần: Tác giả khẳng định việc đuổi cá sấu của Nguyễn Thuyên là hành động “lấy lòng” dân bản địa để họ chấp nhận theo Vua đánh giặc. Tác giả cũng nhắc đến hội nghị Diên Hồng nhưng không phải với ý nghĩa dân chủ như nhiều nhà sử học gán ghép mà động thái đó chỉ chứng tỏ quyền lực vua Trần thuở ấy chưa bao trùm toàn bộ vương quốc.
    Bài viết khá hấp dẫn, lôi cuốn người đọc có lẽ một phần do cách hành văn. Đa phần các người viết sử dùng cách hành văn rất trang trọng, nghiêm túc đến mức khô khan, hoặc ra “dáng” nghiêm túc, khô khan, nhưng trong bài viết này dường như ẩn sau những lời phân tích của tác giả là những nụ cười. Ví dụ:
    1. Trong đoạn Nguyễn Thuyên đuổi cá sấu, tác giả cho rằng đó là hành động của “thầy mo” và “Vị phù thủy này vô cùng tế nhị vì đã không buộc cá sấu hay dân địa phương phải nghe tiếng nước ngoài.” Nụ cười ở đây thiệt là… khoái chí!
    2. Khi nói về tập tục “coong trình” mà dưới mắt những người chịu ảnh hưởng văn hóa Hán là “gian phu dâm phụ”, tác giả phán: “Triều đình cũng thoái thác phân xử, nhường quyền quyết định cho ông chồng bất hạnh.” Nụ cười ở đây không biết nên gọi là nụ cười gì?
    3. “Theo lời Mạc Thúy, đại biểu xuất sắc của nhóm này, thì những người đó đang vui mừng vì nhờ quân Minh mà thoát tục man di, được chiêm ngưỡng áo khăn thịnh trị. Họ hân hạnh không kể xiết vì các đầu mục Thanh Hóa quê mùa khó bì được với vị hoàng đế hòa hoa ở Kim Lăng.” Đánh giá Mạc Thúy là đại biểu “xuất sắc”, là “hân hạnh”… người đọc có cảm giác tác giả cũng đang cười, nhưng cười kiểu này thì thà khóc còn hơn.
    Qua bài viết, đã gợi lên những câu hỏi
    1. Những người kinh lộ như Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi về sau bị giết có phải vì những nguyên nhân xâu xa từ sự khác biệt về văn hóa với nhóm người trại Lê Sát, Lê Vấn…?
    2. Lịch sử đã lặp lại vào cuối đời Lê Trung Hưng đã khiến vua Quang Trung tỏ ra lo lắng về nhân sĩ Bắc Hà, cụ thể là đối với nhân vật Nguyễn Hữu Chỉnh?
    3. Phải chăng sử Việt đa phần do người kinh lộ viết nên các nhân vật trung châu được mô tả khá rõ, trong khi những người xuất thân từ những nơi khác thì mờ nhạt. Ví dụ, các danh tướng của Tây sơn như Đô đốc Long, Đô đốc Tuyết chỉ có tên chứ không có họ?
    4. Có lẽ sau này, người Việt chỉ biết đến các tướng lãnh như Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh… chứ liệu ai còn nhắc đến Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam… dù chỉ để kèm với lời phê phán “tùng tặc dĩ phản”?
    Trong sử Việt, có bao nhiêu sự kiện mà các “sử gia” hết thế hệ này sang thế hệ khác đã cố công xóa mờ trong ký ức của dân tộc?
    Nói chung bài nghiên cứu sử học này khiến chúng ta có nhiều suy ngẫm không riêng gì những bài học chính trị mà còn về văn hóa, về cách viết sử và cách nhìn lịch sử của người Việt.

  • Lê Chất viết:

    Cộng đồng ” kinh lộ ” đa số là người gốc Mân, Hán , thần dân cũ của đế quốc Đường . Họ nắm giữ quyền lực qua các triều đại Lý Trần. Vì vậy, nước Đại Việt chỉ độc lập về mặt chính trị nhưng sự lệ thuộc văn hóa phương Bắc vẫn đậm nét cho đến hết thế kỷ 19.

    Lê Lợi và nhóm người “Lam Sơn khởi nghĩa” gốc người trại nhưng từ đời Lê Thái Tông về sau con cháu họ đã thành người kinh lộ.

    Cám ơn tác giả đã nghiên cứu nghiêm túc và nhận định khách quan.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch