Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu Email bài này

HỢP TÁC VỚI QUÂN MINH: NGƯỜI KINH LỘ- kỳ 2/3

0 bình luận ♦ 5.05.2017

Toàn Thư: “京路多從賊以叛 Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản”

(Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản)

3. Lương Nhữ Hốt :

Người Trạo Vịnh, Hoằng Hóa (Cổ Đằng), Thanh Hóa.

Vào năm 1411, sứ giả Minh đế đến Giao Chỉ ban thưởng Nhữ Hốt cùng nhiều quan viên khác. Đợt khen thưởng này, Nhữ Hốt được bốn tấm lụa hoa hai mặt, một bộ triều phục kim tuyến và 1.000 quan tiền giấy.

Ngày 29 tháng 9 năm Vĩnh Lạc XV (7/11/1417) : Tại Giao Chỉ, thăng Tri phủ Thanh Hóa Lương Nhữ Hốt chức Tả Tham chính ty Bố chính Giao Chỉ, vẫn tiếp tục trông coi phủ tại Thanh Hóa. Nhữ Hốt người đất Giao Chỉ, được biểu dương vì có công trong việc chiêu phủ tại Giao Chỉ. (Minh Thực Lục II, 46-47)[1]

Lương Nhữ Hốt là hàng thần mau mắn, chính ông tố cáo Lê Lợi có ý định nổi dậy với người Minh khiến vị thủ lĩnh kháng chiến phải gấp rút dựng cờ khởi nghĩa vào năm Vĩnh Lạc XVI (1418).

Ngày 3 tháng 5 năm Vĩnh Lạc XVII (27/5/1419) : Ngày Đinh Mùi, Thổ quan ty Bố Chính Giao Chỉ, bọn Tả Tham chính Lương Nhữ Hốt đốc suất các Thổ quan quận, huyện dưới quyền, cống đồ dùng vàng, bạc cùng sản vật địa phương. Ban cho tiền giấy cùng y phục lụa sa dệt kim có sai biệt. (Minh Thực Lục II, 65)[2]

Khoảng tháng 9 năm 1424, nghĩa quân Lê Lợi đánh đồn Đa Căng, Lương Nhữ Hốt giữ đồn không nổi phải bỏ chạy về Tây Đô.

Ngày 17 tháng 12 năm Hồng Hy I (25/1/1426): Thổ quan Tả Tham chính Ty Bố chính Giao Chỉ Lương Nhữ Hốt đến triều đình tiến cống đồ dùng vàng bạc, cùng sản phẩm địa phương. Thiên tử bảo Thượng thư Lữ Chấn rằng:

“Nhữ Hốt tuy là Thổ quan nhưng rất trung thành, lo chiêu dụ dân, ra sức đánh giặc; đã lập được nhiều công. Nay đến triều đình, đáng ban thưởng để tưởng lệ, phàm đồ tiến cống thì theo giá trị mà cho lại”. Vì thế ban cho Nhữ Hốt 200 đĩnh tiền giấy, bốn tấm gấm vóc, đám tùy tùng ban cho tiền giấy có sai biệt. Số đồ tiến cống được đổi trả 7.480 đĩnh bạc. (Minh Thực Lục II, 130)[3]

Vua Minh đặc biệt ân cần có lẽ vì tình hình Giao Chỉ chuyển biến xấu. Với hành động tôn vinh hết mức dưới đây, Thành tổ đã mua đứt lòng trung thành của họ Lương.

Ngày 26 tháng 1 năm Tuyên Đức I (5/3/1426) : Ban sắc mệnh cho viên Thổ quan Tham chính Lương Nhữ Hốt thuộc ty Bố chính Giao Chỉ, phong tặng ông bà, cùng cha mẹ vợ. Nhữ Hốt người đất Thanh Hóa, kính cẩn phụng sự triều đình, có công giết giặc, chiêu phủ; mấy lần được thăng đến chức Tham chính; nay đến triều đình, đặc cách ban cho để khen thưởng. (Minh Thực Lục II, 131)[4]

Năm 1427, sau khi thua trận Ninh Kiều – Tụy Động, Vương Thông muốn giải hòa để kéo quân về nước. Lương Nhữ Hốt đem chuyện tù binh Ô Mã Nhi chết đuối do bị quân Trần đục thuyền trên đường trao trả để thuyết phục Vương Thông tiếp tục chiến đấu. Hốt đã khiến binh đao kéo dài dù không thay đổi được hồi kết cục. Họ Lương chỉ xếp giáo qui hàng khi Vương Thông kéo quân về bắc. Ông bị Lê Lợi giết ngày 24 tháng 11 ta năm Thuận Thiên I (1428) cùng với Trần Phong và Trần An Vinh do vẫn ngấm ngầm giao thiệp với người Minh để khởi loạn.

2. Trần Phong (? – 1428):

Theo Minh Thực Lục, Trần Phong người châu Nam Sách (Hải Dương nay); theo Đại Việt Thông Sử, ông người xã Ma Lộng, huyện Chí Linh (Hải Dương nay). Như vậy, châu Nam Sách xưa bao gồm cả Ma Lộng.

Trần Phong đầu hàng quân Minh ngay từ đầu cuộc chiến. Tới tháng 2 năm 1407 đã thấy ông dẫn quân bản bộ phối hợp với Vương Hữu và Liễu Tông đánh phá đạo quân vùng Đông Bắc dưới quyền Hồ Đỗ. Sau khi đối đầu quân Minh thất lợi, bị thiệt hại nặng, Hồ Đỗ gom góp tàn quân trụ lại tại Bình Than. Trương Phụ ra lệnh Phong tấn công khiến Đỗ phải bỏ chạy về cửa Muộn.

Ghi chép ngày 19 tháng 11, Vĩnh Lạc V (18/12/1407): Ngày Kỷ Tỵ, viên quan Chỉ huy Đồng tri Hữu Vệ Giao Châu người địa phương tên là Trần Phong, cùng bọn Thiên hộ Nguyễn Chính, Bách hộ Tống Như Lộ tất cả 20 người đến kinh sư cống phương vật. Bèn ban 80 đĩnh tiền giấy, một bộ tơ gai; cùng ban cho bọn tùy tòng tiền, có sai biệt. (Minh Thực Lục I, 289)[5]

Tháng 4 năm 1411, vua Minh đã cử sứ sang Giao Chỉ thưởng tiền, lụa và triều phục cho người có công, tên Trần Phong được liệt kê trong danh sách võ tướng.

Ngày 20 tháng 2 năm Vĩnh Lạc XIII (31/3/1415), Minh Thực lục ghi nhận việc ban thưởng của vua Minh cho những quan tướng có công trong việc trấn áp Trần Quý Khoáng. Trần Phong cũng có tên trong danh sách lĩnh thưởng với chức danh là Chỉ huy Đồng tri Giao châu Hữu vệ.

Ngày 27 tháng 11 năm Vĩnh Lạc XX (10/12/1422), Minh Thực lục ghi nhận việc Trần Phong, với chức vụ Đô Chỉ Huy, dẫn đầu một đoàn gồm tám mươi ba người đến kinh đô dâng cống đồ vàng bạc cùng nhiều thứ khác. Vua Minh ban tặng quần áo lụa thêu kim tuyến, lụa, gấm, tiền giấy.

Ngày 1 tháng 7 năm Tuyên Đức I (11/8/1426), Minh Thực lục ghi nhận thất bại của Phương Chính, Lý An cùng các thuộc tướng, trong đó có Trần Phong tại Giao Chỉ. Tất cả được tha tội nhưng bị chuyển làm quân tiên phong để lập công. Theo Đại Việt thông sử, đây là trận đánh do thủy quân từ Đông Quan đến giải vây thành Nghệ An xảy ra vào ngày 15 tháng 4 ta năm Hồng Hy thứ I (1425). Phía quân nổi dậy là tướng Lê Ninh, Lê Thiệt dưới trướng Bình Định vương Lê Lợi.

Khi bị vây trong thành Đông Quan, Trần Phong cùng Lương Nhữ Hốt đã tác động Vương Thông bãi bỏ giảng hòa lần đầu tiên với Lê Lợi khiến cuộc kháng chiến kéo dài thêm một năm. Khi viện binh của Liễu Thăng và Mộc Thạnh bị đánh bại, Vương Thông về nước, Phong mới chịu đầu hàng.

Trần Phong bị Lê Lợi giết ngày 24 tháng 11 ta năm Thuận Thiên I (1428), cùng với Lương Nhữ Hốt và Trần An Vinh do âm mưu thông đồng với người Minh để làm loạn. Tuy nhiên, gia đình và bộ thuộc của Phong được miễn xá.

3. Nguyễn Huân :

Người Biến Khả (Chí Linh, Hải Dương). Ông đầu hàng quân Minh cùng lúc với Mạc Thúy dưới danh nghĩa là người họ Mạc.

Trong ghi chép việc ban thưởng của vua Minh ngày 27/9/1408 tại Kim Lăng, Minh Thực lục thể hiện Nguyễn Huân họ Mạc, được thăng từ Tri châu Lạng Giang lên chức Hữu Tham nghị.

Trong ghi chép ngày 28/10/1408 nói về đại yến ban cho sứ đoàn các nước, Minh Thực lục ghi rõ chức vụ Mạc Huân là Hữu Tham nghị Ty Bố chính Giao Chỉ, tức dưới Mạc Thúy một cấp.

Tháng 4 năm 1411, vua Minh sai sứ sang Giao Chỉ thưởng tiền, lụa và triều phục cho người có công, trong đó Huân đứng hàng thứ hai, sau Mạc Thúy. Huân xả thân phục vụ nhà Minh không ngại thủ đoạn. Nguyễn Liễu, người Lý Nhân (nay thuộc Hà Nam), nổi dậy chống Minh ở Lục Na (nay thuộc Bắc Giang), Vũ Lễ (nay thuộc Lạng Sơn). Nguyễn Huân vờ kết thông gia rồi gài bẫy giết Liễu vào năm Trùng Quang IV (1412).

Năm 1416, Nguyễn Huân lại sang Kim Lăng triều yết. Minh Thực lục ghi nhận sự kiện nguyên văn như sau:

Ngày 10 tháng 6 năm Vĩnh Lạc XIV (4/7/1416): Ngày Canh Ngọ, Hữu Tham nghị Mạc Huân thuộc ty Bố chính Giao Chỉ đưa các thổ quan tại các phủ Tam Giang, Phụng Hóa gồm 139 người đến triều cống ngựa cùng đồ dùng vàng bạc.

Hoàng thượng khen Huân có lòng thành ra qui thuận trước tiên, rồi chịu gian lao tham gia tòng chinh; đặc cách ban yến ủy lạo, thăng Huân chức ty Bố chính sứ; thăng Thổ quan Tri phủ Đỗ Kế Trung chức Hữu Tham chính, lại ban cho tỷ thư để tỏ sự ân sủng khác thường. Các quan còn lại được thăng chức một cấp, ban cho tơ lụa, tiền có phân biệt. (Minh Thực Lục II, 33)[6]

Minh Thành Tổ xây dựng kinh đô Bắc Kinh. Huân tỏ lễ bầy tôi bằng cách gửi 500 người sang Trung Hoa để phụ giúp. Vua Minh ban thưởng rồi cho về, không nhận người. Minh Thực Lục ghi lại như sau:

Ngày 13 tháng 7 năm Vĩnh Lạc XVI (14/8/1418): Ngày Tân Dậu, Hữu Tham chính sứ Giao Chỉ Mạc Huân, cùng Tri phủ Giao Châu Đỗ Hy Vọng tâu rằng:

“Giao Chỉ ở nơi hoang tịch, nhiều năm ngưỡng mộ sự giáo hóa của thánh nhân; được Hoàng thượng đối xử cùng chung một lòng nhân, cho đặt lại quận, huyện, để được giống như đất nội thuộc; phàm kẻ có một chút hay, đều được thu dùng. Tấm lòng biết ơn muốn được báo đáp, canh cánh ngày đêm. Nay được tin xây dựng thành Bắc Kinh; con dân bốn biển đều đến giúp sức, nhưng tấm lòng của kẻ hèn khuyển mã này cũng muốn mà không đến được để báo đáp. Nay kính cẩn đưa người làm trong nhà là bọn Đỗ Phiêu 500 người, sai Huyện thừa Lê Hiến dẫn đến, nguyện đến kinh khuyết góp một chút công nhỏ.”

Thiên tử đọc tờ tâu, gọi bọn Hiến đến ủy lạo, và phán rằng :

“Bọn người từ xa đến đây lo việc, bày tỏ đầy đủ lòng thành, nhưng việc xây dựng đã hoàn tất, không muốn làm mệt nhọc các ngươi thêm nữa.”

Mỗi người được thưởng 20 đĩnh tiền giấy rồi cho về. (Minh Thực Lục II, 55-56)[7]

Năm 1426, khi sang nước mẹ sát hạch định kỳ, ta thấy Huân đã lấy lại họ Nguyễn.

Ngày 16 tháng 10 năm Tuyên Đức I (15/11/1426): “Ngày Bính Tý, bọn Hữu Tham chính ty Bố chính Giao Chỉ Nguyễn Huân, Đồng tri phủ Bắc Giang Nguyễn Khả Lộng, Đồng tri phủ Giao Châu Lê Nguyên Khởi đến kinh đô để khảo mãn cùng cống đồ dùng vàng, bạc, sản vật địa phương. (Minh Thực Lục II, 150-151)[8]

Ngày 21 tháng 10 năm Tuyên Đức I (20/11/1426): Thăng Hữu Bố chính sứ Giao Chỉ Nguyễn Huân làm Tả Bố chính sứ vì tại chức được chín năm và có công bắt giặc, cai trị dân chúng. (Minh Thực Lục II, 151)[9]

Với chức vụ này, Nguyễn Huân là thổ nhân đạt địa vị cao nhất trong hệ thống hành chính của nhà Minh tại Giao Chỉ.

Kèm theo chức vụ cao là quà tặng quý giá của thiên tử.

Ngày 23 tháng 10 năm Tuyên Đức I (22/11/1426): Ban cho bọn… Tả Bố chính sứ ty Bố chính Giao Chỉ Nguyễn Huân, Đồng tri phủ Bắc Giang Nguyễn Khả Lộng, Đồng tri phủ Giao Châu Lê Nguyên Khởi tiền giấy, gấm lụa hoa văn có phân biệt. (Minh Thực Lục II, 152)[10]

Hoàng đế Đại Minh ban ân sủng đặc biệt khi miễn nghĩa vụ sưu dịch cho toàn bộ gia tộc Nguyễn Huân.

Ngày 27 tháng 11 năm Tuyên Đức I (25/12/1426) : Thổ quan Giao Chỉ Tả Bố chính sứ Nguyễn Huân tâu rằng bọn người nhà là Phan Khuyển gồm 175 hộ thuộc phủ, châu, huyện tại Lạng Giang xin được miễn sưu dịch để lo phụng dưỡng.

Mệnh bộ Hộ gửi văn thư cho miễn. (Minh Thực Lục II, 153)[11]

Đó là phần dành cho người sống, Hoàng đế còn quan tâm đến cả tổ tiên và phu nhân của quan Tả Bố Chính sứ.

Ngày 1 tháng 12 năm Tuyên Đức I (29/12/1426) : Ban cho Tả Bố chính sứ Giao Chỉ Nguyễn Huân cáo mệnh cùng sắc phong cho ông bà nội, cha mẹ, cùng vợ; lại có sắc dụ Huân như sau:

“Trước kia Hoàng tổ Thái Tôn Văn Hoàng đế lên ngôi, nghĩ rằng đất Giao Chỉ bị giặc họ Lê [Hồ] gây họa, giết vua, bạo ngược với dân, bèn mang quân điếu phạt. Khi đến nơi, kẻ trí cúi mình theo sự giáo hóa, người ngu thì vẫn còn nghi ngờ hai lòng. Ngươi, Nguyễn Huân, một lòng ngay thực, suy lự thuần lương, đạt thời cơ biết đạo trời; lòng thành hăng hái qui hướng triều đình, dốc tâm cần lao đảm nhiệm chức vụ, vỗ về người thuận theo, diệt trừ kẻ nghịch, giúp ích rất nhiều, trải qua năm tháng tấm lòng trung không suy hao.

Hoàng tổ ta xét công lao của người, mấy lần thăng chức; Trẫm nối dõi cơ đồ lớn, chỉ mong kế tục được sự nghiệp. Nay ngươi đến triều đình để được xét thành tích, nghĩ đến công lao của ngươi, đặc biệt ban ân sủng đến đời ông cũng được vinh hiển. Phàm đạo quân thần cốt ở sự thủy chung; Trẫm thể lòng Hoàng tổ để đãi ngươi, Ngươi hãy lấy tấm lòng thờ Hoàng tổ để thờ Trẫm, cung kính mãi mãi không biến tiết, hưởng vinh suốt đời. Nay ban đặc dụ khen thưởng.

Khâm tai !” (Minh Thực Lục II, 154)[12]

Ân sủng khác thường cho thấy tình hình Giao Chỉ rất căng thẳng. Những người như Huân vô cùng cần thiết cho nhà Minh trong thời điểm quyết định.

Thời gian Huân sang chầu, Lê Lợi đã hoàn toàn phong tỏa các đường tiến quân từ Vân Nam và Lưỡng Quảng sang Giao Chỉ (khoảng tháng 7 năm 1426). Nguyễn Huân không còn cơ hội mang vinh dự vua ban về quê nhà.

Chiếu chỉ vua Tuyên Đức ban cho Hoàng Phúc và Nguyễn Huân dưới đây cho thấy Huân bị kẹt lại đất Trung Hoa, không vào An Nam được. Vua Minh ghép Huân vào đạo viện binh dưới quyền Liễu Thăng. Phúc và Huân còn có nhiệm vụ trông chừng An Viễn hầu, được quyền mật tấu trực tiếp về việc quân.

Ngày 26 tháng 10 năm Tuyên Đức II (14/11/1427): Ngày Canh Thìn, sắc cho Thượng thư bộ Công Hoàng Phúc, Bố chính sứ Giao Chỉ Nguyễn Huân rằng:

“Phúc, người là bề tôi thanh liêm, trung thành, chính trực, có lòng thương dân; Huân, trung kính thuần lương, kiên cường một tiết thờ vua, đều là bậc lão thành của tiền triều. Nay Giao Chỉ chưa yên, mang binh chinh tiễu, đặc mệnh hai ngươi tham tán Tổng binh quân cơ, đồng tâm hiệp lực vận trù quyết sách, hòa mục tướng soái, tưởng lệ quân sĩ, để việc bình định sớm thành, yên dân một phương. Việc đáng trần tấu, gửi mật thư cho ta. Hãy cố gắng đáp ứng sự ủy nhiệm.

Khâm thử !” (Minh Thực Lục II, 176)[13]

Toàn Thư có chép thổ quan Hữu Bố Chính sứ Nguyễn Đắc Huân theo đạo quân của Liễu Thăng đánh vào cửa Pha Lũy vào tháng 9 ta năm 1427 và sau đó tiến xuống Chi Lăng. Sau nhiều trận kịch chiến, đạo quân này bị Lê Lợi tiêu diệt hoàn toàn tại cánh đồng phía bắc thành Xương Giang. Hoàng Phúc bị bắt. Sau đó, không thấy tài liệu nào ghi lại hành trạng của Nguyễn Huân nữa.

Như vậy, vua Minh ban chiếu cho Hoàng Phúc và Nguyễn Huân sau khi đạo viện binh vượt qua biên giới.

4. Nguyễn Đại :

Toàn Thư ghi nhận vào ngày 5 tháng 5 năm Hưng Khánh I (1407): Quân Minh đánh vào cửa biển Kỳ La, châu Nhật Nam. Nguyễn Đại (Nguyễn Đại trước thờ họ Hồ, sau phản lại họ Hồ, đầu hàng quân Minh, đến đây dẫn người Minh sang xâm lược) bắt được Hữu Tướng quốc Quý Tỳ và con ông là Phán trung đô Nguyễn Cữu. (Toàn Thư II, 233)[14]

Toàn Thư ghi nhận vào tháng 7 năm Hưng Khánh I (1407): Trương Phụ cho là Nguyễn Đại có công trong việc bắt hai cha con họ Hồ, trao cho chức Giao Chỉ đô chỉ huy sứ. Đại kiêu căng ra mặt, làm nhiều việc trái phép, say mê tửu sắc, lại ngầm có chí làm phản. Phụ bèn giết đi. (Toàn Thư II, 236)[15]

Đây là nạn nhân tương tự Bùi Bá Kỳ. Hẳn Đại tin tưởng rằng người Minh sẽ lập con cháu họ Trần. Khi Thành tổ lộ rõ ý định đặt quận huyện tại Giao Chỉ thì Đại trở thành nguy cơ tiềm ẩn. Dĩ nhiên, ông phải bị đưa ra khỏi cuộc chơi với lý do thật chính đáng.

5. Đỗ Duy Trung (? – 1426):

Đỗ Duy Trung người xã Nhuệ Chiết, huyện Ma Khê, phủ Tam Giang (nay thuộc tỉnh Phú Thọ). Ông làm quan cho nhà Trần, Hồ và nhà Minh.

Theo ghi nhận của Minh Thực Lục, lộ Tam Giang đầu hàng vào tháng 1 năm 1407. Nhiều khả năng, Duy Trung đã hàng Minh trong thời điểm này hoặc trước đó không lâu, khi quân chủ lực Hồ chưa bị tiêu diệt. Trong chiếu cho phép con trai Đỗ Bá Nghi tập ấm chức vụ của cha, vua Minh khẳng định Duy Trung là một trong những người đầu tiên đến xin hàng.

Đỗ Duy Trung đóng vai trò quyết định trong việc cản trở hai vua Giản Định và Trùng Quang chiếm lĩnh trung châu năm 1409. Ông từ chối chiêu dụ của các vua hậu Trần, giữ vững Tam Giang, bảo đảm đường tiến của viện quân chỉ huy bởi Trương Phụ. Nhờ đó, Phụ vào An Nam an toàn, đuổi bắt được Giản Định, đẩy Trùng Quang lui về Nghệ An.

Ngày 16/4/1411, vua Minh sai trung sứ sang Giao Chỉ ban thưởng cho các thổ quan có công. Đỗ Duy Trung đứng hàng thứ ba sau Mạc Thúy và Mạc (Nguyễn) Huân. Ông được bốn súc lụa hoa, một bộ triều phục kim tuyến và 1.000 quan tiền giấy.

Ngày 6 tháng 5 năm Vĩnh Lạc XI (12/6/1413) : Ngày Ất Dậu, Giao Chỉ Thổ quan Tri phủ Tam Giang Đỗ Duy Trung sai cháu là Tất Liệt, Thổ quan Tri phủ Giao Châu Đỗ Hy Vọng sai con là Cừ dâng biểu cống ngựa, cùng sản vật địa phương; được ban ơn ủy lạo. (Minh Thực Lục I, 360)[16]

Ngày 10 tháng 6 năm Vĩnh Lạc XIV (4/7/1416), khi đến Nam Kinh triều cận, Đỗ Duy Trung được thăng chức Hữu Tham chính ty Bố chính Giao Chỉ, được Minh Thành Tổ ban bằng sắc.

Ngày 18 tháng 8 năm Vĩnh Lạc XX (3/9/1422) : Các Thổ quan Giao Chỉ Hữu Tham chính Đỗ Duy Trung coi giữ phủ Tam Giang, Tri phủ Phụng Hóa Trần Thùy, con cố Tri phủ Giao Châu Đỗ Hy Vọng tên Cự, Tri huyện Đương Đạo Lương Quốc Phụ thuộc phủ Tuyên Hóa; tất cả gồm 27 người đến triều cống đồ dùng vàng, bạc cùng sản vật địa phương.

Hoàng Thái tử mệnh bộ Lễ ban yến ủy lạo (Minh Thực Lục II, 92)[17]

Ngày 3 tháng 12 năm Tuyên Đức I (31/12/1426): Ngày Nhâm Tuất, sắc mệnh phong Đỗ Bá Nghi, con cố Tham chính Đỗ Duy Trung tại ty Bố chính Giao Chỉ, chức Tri phủ phủ Tam Giang.Sắc phong như sau:

“Trước kia lúc quốc gia mới bình định Giao Chỉ, cha ngươi là người đầu tiên qui thuận, ra sức đánh dẹp và khuất phục bọn phản loạn, lập thành tích nên được ông nội ta, Thái tông Hoàng đế, trao chức lớn; mệnh cai trị phủ Tam Giang, thanh danh hiển hách, tuy đã mất nhưng dân vẫn không quên. Nay đặc cách mệnh ngươi giữ phủ Tam Giang, khi sắc tới ngươi lập tức đến nhiệm sở coi sóc dân chúng, ra sức dẹp giặc. Để xứng đáng kế thừa, ngươi phải hết sức cần lao cẩn thận cố gắng làm tròn được trung hiếu.” (Minh Thực Lục II, 155)[18]

Toàn Thư cho rằng vua Lê giết bọn phản nghịch trong đó có người tên Trung vào ngày 24 tháng 11 ta năm Thuận Thiên I (1428). Như vậy tên Trung này không phải là Đỗ Duy Trung.

Qua Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn cho rằng Đỗ Duy Trung bị Lê Lợi giết cùng với Trần Phong và Lương Nhữ Hốt do âm mưu khởi loạn sau khi quân Minh về nước. Khá rõ là cụ Đôn đã căn cứ vào chi tiết do Toàn Thư cung cấp để viết truyện Đỗ Duy Trung.

Ở điểm này, Toàn Thư và Đại Việt Thông Sử không thể chính xác bằng Minh Thực Lục.

Trong 7 nhân vật kể trên có 5 người giữ văn chức, 2 người võ chức.

Theo tổ chức của nhà Minh, ban lãnh đạo các ty Bố chính bao gồm Bố chính sứ, Tả Hữu Bố chính sứ, Tả Hữu Tham chính ty Bố chính, Tả Hữu Tham nghị ty Bố chính.

Nguyễn Huân đạt chức cao nhất là Tả Bố chính sứ, quyền lực thứ 2 trong Ty Bố chính. Lương Nhữ Hốt đạt chức Tả Tham chính ty Bố chính Giao Chỉ, hàng thứ 4. Kế đến là Mạc Thúy và Đỗ Duy Trung với chức Hữu Tham chính ty Bố chính Giao Chỉ, hàng thứ 5. Bùi Bá Kỳ chức Hữu Tham nghị ty Bố chính Giao Chỉ, hàng thứ 7. (3)

Trần Phong ban đầu giữ chức Đô Chỉ huy Đồng tri Giao châu Hữu vệ, tức “phó tư lệnh” đạo quân bảo vệ cánh phải của thành Giao châu. Vào năm 1422, Minh Thực Lục ghi nhận ông đương chức Đô Chỉ huy tức chỉ huy cao nhất của Giao Châu Hữu vệ. Mỗi vệ có khoảng 5.000 quân.

Nguyễn Đại giữ chức Giao Chỉ đô chỉ huy sứ. Ngôi vị cao nhưng có thể chỉ là tham mưu trong bộ chỉ huy quân viễn chinh.

Nguyễn Huân, Mạc Thúy, Bùi Bá Kỳ, Trần Phong đều là người vùng ven biển đồng bằng sông Hồng, cụ thể là vùng đất thuộc tỉnh Hải Dương ngày nay.

Lương Nhữ Hốt là dân duyên hải đồng bằng sông Mã.

Đỗ Duy Trung xuất thân vùng rìa phía bắc trung châu.

Nguyễn Đại không được tài liệu nào ghi lại gốc tích.

Dễ nhận thấy các nhân vật xuất thân ven biển chiếm đa số quan chức cấp cao.

Các “tuấn kiệt” trên đây ủng hộ cuộc hành quân của nhà Minh, nhưng chia hẳn thành hai nhóm. Nhóm dựa vào Minh để tái lập nhà Trần như Bùi Bá Kỳ và có thể là Nguyễn Đại. Khi vua Minh thành lập ty Bố chính, dĩ nhiên hai vị phải được nhanh chóng loại khỏi sân khấu chính trị bằng mọi cách. Nhóm muốn Giao Chỉ sáp nhập vào đế quốc Minh như Mạc Thúy, Nguyễn Huân, Trần Phong, Đỗ Duy Trung và Lương Nhữ Hốt. Nhóm này sống chết với niềm tin của mình; ân sủng từ Thiên tử Đại Minh cũng xứng đáng với hi sinh của họ.

Có thể nói ý thức về vương quốc Đại Việt tách biệt khỏi các triều đại phương Bắc vào thế kỷ XV không mạnh mẽ lắm tại châu thổ Nhĩ hà. Cảm nhận về giới hạn Nam-Bắc xuất hiện trong thơ Nguyễn Trung Ngạn hay Phạm Sư Mạnh đã phai mờ theo quyền lực Thăng Long. Điều này cho thấy ảnh hưởng của di dân Tống chạy trốn nhà Nguyên tác động tiêu cực như thế nào. Văn hóa thâm nhập từ trung nguyên khiến một bộ phận cư dân vùng đất nay là bắc bộ và duyên hải bắc trung bộ càng thêm thấm nhuần văn minh Hán, đặc biệt về giáo huấn Tống Nho. Họ là tác nhân của tiến bộ xã hội nhưng tâm thức dễ dao động giữa thế giới người nói tiếng Việt và thế giới người viết chữ Hán.

Phải nói rõ ngộ nhận về công dụng của nho học chỉ có ở tầng lớp thư lại quan liêu. Các vua cuối Trần cũng như các vua Lê hiểu thấu đáo Nho giáo và chỉ dùng đạo nho-nho sĩ như công cụ cai trị. Tuy nhiên, nhà Nho cuồng chữ sẽ trở thành kẻ nguy hiểm cho định chế. Khi nho gia trường phái Văn Trinh đi quá gần Hoa Hán, Trần Nghệ Tông nói ngay họ không hiểu ý tứ sâu xa của việc lập pháp. Khi Ngô Sĩ Liên không tán đồng vua Đại Việt tế giao vì nước ta chỉ là phiên bang, Lê Thánh Tông xếp ngay họ Ngô vào hạng “mang lòng không vua”. Các đế phương Nam lịch sự nhún nhường chứ chưa bao giờ nghĩ mình thua kém hay phải lệ thuộc đế phương Bắc. Xu hướng tạo nên bởi Chu Văn An hay quan điểm cứng nhắc đến lầm lạc của Ngô Sĩ Liên có thể hiểu được nếu ta biết thầy Chu là người gốc Mân và Sĩ Liên có quê quán tại trung châu.

Hải Tây chỉ là rẻo đất chật hẹp ven biển bên cạnh vùng núi rộng lớn phía Tây nên ảnh hưởng Hoa Hạ nhòa nhạt hơn trên cộng đồng cư dân vùng đất chạy dài từ Thanh Hóa đến Thuận Hóa, đặc biệt từ trung du ngược đến miền cao. Hải Đông gắn liền với trung châu sông Hồng nên văn hóa mới du nhập dễ dàng lan tỏa xuyên qua địa hình thuận lợi trên cơ sở dân cư từng quen thuộc với văn minh Hán cả ngàn năm.

Thái độ nghiêng về Bắc của tầng lớp ưu tú tại đồng bằng sông Hồng đưa đến hậu quả nào? Thực sự, hậu quả rất nghiêm trọng và lâu dài.

Dưới đây, chúng ta xem xét hậu quả đầu tiên sau sự kiện nhà Hồ sụp đổ và “những người có chút tiếng tăm” ở đồng bằng nô nức hợp tác với người Minh. Chúng ta nói đến trận Bô Cô lừng lẫy của hoàng đế Hậu Trần Giản Định.

Toàn Thư ghi rằng (năm 1408): Mùa đông, tháng 10, quốc công Đặng Tất điều quân các lộ Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa tiến đánh Đông Đô. Khi quân đi qua các xứ Trường Yên, Phúc Thành, các quan thuộc cũ và các hào kiệt không ai không hưởng ứng đi theo. Tất chọn những người có tài đều trao cho quan chức.

Tháng 12, ngày 14, quốc công Đặng Tất cả phá quân Minh ở Bô Cô hãn. (Toàn Thư II, 239)[19]

Mới vào tháng giêng ngày 30 cùng năm, Trương Phụ và Mạc Thúy đánh Diễn Châu khiến vua và Đặng Tất phải chạy vào Hóa Châu. Chỉ 10 tháng sau, quân Hậu Trần đã đủ sức đánh tan rã đạo viện binh đông đến 10 vạn của Mộc Thạnh, tiêu diệt bộ chỉ huy quân Minh tại Giao Chỉ. Quốc công dễ dàng huy động người và của suốt khu vực từ Thanh Hóa về nam đồng thời tạo ảnh hưởng mạnh mẽ lên khu vực trái độn Trường Yên. Nhưng chỉ đến thế thôi. Thái độ bàng quan của khu vực từ Bô Cô trở ra bắc đã tạo nên bi kịch lịch sử đau lòng. Mâu thuẫn ý kiến về thời gian và phương pháp bắc tiến giữa vua và tướng khiến bộ đầu não kháng chiến chia rẽ rồi tan vỡ : Giản Định giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân.

Sử gia Phan Phu Tiên chê trách Tất như sau: Đặng Tất chỉ biết hành quân là gấp mà không biết cứu Đông Đô còn gấp hơn. Đông Đô có tầm hình thế cả nước. Chiếm được Đông Đô thì các lộ không đâu không hưởng ứng, hơn nữa hào kiệt trung châu đều ở cả đó. Bỏ nơi ấy mà không lo đánh chiếm, lại chia quân phân tán đi các xứ, vì thế hiệu lệnh không thống nhất, rốt cuộc đi đến sụp đổ là đáng lắm ! (Toàn Thư II, 240)[20]

Đặng Tất có hiểu tầm hình thế cả nước của Đông Đô không? Chắc chắn Quốc công hiểu rõ điều đó hơn thư sinh Phan Phu Tiên nhiều.

Ngô Sĩ Liên sâu sắc hơn, bình luận như sau: Vua tính kế quyết thắng nhưng Tất không theo, cố nhiên là đáng tiếc. Song có lẽ Tất liệu vua mình không phải là bậc anh hùng như [Đường] Thái Tông, mà quân thì từ xa đến, lương thực có thể không tiếp tế được, còn quân ở kinh lộ thì chưa tập hợp được, chẳng thà theo phép hơn địch 10 lần thì bao vây, hơn địch gấp 5 lần thì đánh là hơn. Nếu không thế thì thành Cổ Lộng chỉ cách Bô Cô không quá nửa ngày đường sao không thể thừa thế chẻ tre mà đánh, huống chi thành Đông Quan. Kế ấy cũng chưa lấy gì làm hỏng lắm, chỉ vì vua tin lời gièm mà vội giết Tất thôi. (Toàn Thư II, 240)[21]

Chúng ta phân tích từng ý kiến của Sĩ Liên về lý do khiến Đặng Tất chần chừ dưới đây:

– Giản Định không phải bậc anh hùng như Lý Thế Dân: Trần Ngỗi là con Thượng hoàng Nghệ tông. Ông mới được thổ hào Thiên Trường Trần Triệu Cơ tôn lên làm vua vào tháng 10 ta năm trước (1407). Kinh nghiệm làm vua, tức kiêm tổng chỉ huy quân đội chưa được bao lăm. Tướng quân lão luyện Đặng Tất dĩ nhiên phải rất cân nhắc trước quyết định quân sự của nhà vua. Đường Thái tông trưởng thành trong chiến trận, với nhóm tỳ tướng lừng danh phục vụ dưới trướng, vốn là người cầm quân lỗi lạc nhất trong thời ông. Ngược lại, khả năng của Giản Định thực tế không thể so sánh được với khả năng của các nhà quân sự chuyên nghiệp Đại Minh.

– Quân từ xa đến, tiếp tế lương thực có thể gián đoạn: quân Hậu Trần vốn được tuyển từ vùng Thanh Hóa trở vào, sử ghi rất rõ là từ Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa. Họ dễ dàng tìm được sự ủng hộ về lương thực, trang bị từ đất nhà. Trái lại, giữa địa bàn đồng bằng xa lạ, quân Minh cố thủ trong hệ thống thành lũy kiên cố, đạo quân thiếu kinh nghiệm và vũ khí công thành chưa chắc hạ được cứ điểm nào trong thời gian ngắn. Nếu thất lợi, quân sẽ không dễ dàng phân tán dựa vào địa hình để bảo toàn sinh lực như khi chiến đấu ở các lộ phía nam. Lê Lợi về sau cũng hết sức tránh né việc đổ xương máu để công thành. Mặt khác, giáng đòn hủy diệt xuống đạo quân Mộc Thạnh đông đến 10 vạn người, tổn thất quân Hậu Trần hẳn không nhỏ, cũng không dễ khôi phục trong một sớm một chiều.

– Quân kinh lộ chưa tập hợp được : nhận xét này vô cùng quan trọng và theo thiển ý, là nguyên nhân chính khiến Đặng Tất quyết định không bao vây Mộc Thạnh tại Cổ Lộng. Nguyên văn của Sĩ Liên là “京路之兵未集 kinh lộ chi binh vị tập”. Toàn Thư hay dùng từ “kinh lộ” trong giai đoạn Hồ, Minh thuộc, sơ Lê. Nhiều trường hợp, có thể hiểu chung chung “kinh lộ” chỉ vùng Thăng long cũ và các lộ, tức các đơn vị hành chánh quan trọng chủ yếu nằm ở vùng đồng bằng hay duyên hải. Ở đây, quân các địa phương Thuận Hóa, Tân Bình, Nghệ An, Diễn Châu, Thanh Hóa đang chiến đấu dưới cờ Giản Định, “kinh lộ” chỉ có một cách hiểu là vùng Thăng Long và đồng bằng sông Hồng, không bao gồm chuỗi trấn miền núi. Khác với khu vực từ Ninh Bình trở vào, quân dân kinh lộ không nổi dậy qui mô lớn để ủng hộ kháng chiến. Chỉ có những cá nhân căm giận vì mất mát và áp bức đến tòng quân. Thời điểm quyết định đó, không thấy những “thủ lĩnh” mang cả một đạo quân hay một đơn vị hành chính đến quy thuận Hậu Trần như Đặng Nguyên Nguyên, Trần Phong, Nguyễn Nhật Kiên, Mạc Thúy từng quy thuận Đại Minh. Mùa thu năm sau (1409), Giản Định tiến đến Hạ Hồng, Trùng Quang chiếm Bình Than. Hào kiệt trung châu bấy giờ mới bắt đầu tỏ thái độ tích cực. Tiếc rằng, Trương Phụ đã kéo quân cứu viện sang, thế cờ không thay đổi được nữa. Giản Định bị bắt, Trùng Quang lui về Nghệ An. Hoàng Phúc tổ chức lại bộ máy cai trị từ Thanh Hóa trở ra.

Về sau, có các vị Lê Nhị, Lê Khang nổi dậy chiếm giữ Từ Liêm, Thanh Đàm (1410) nhưng nhanh chóng thất bại. Ngoài những đợt kháng cự mạnh mẽ của Giản Định và Quý Khoáng dùng binh lực lấy từ Thanh Hóa trở vào Nam và các cuộc khởi nghĩa tiến hành bởi phụ đạo miền núi, thủ lĩnh vùng trại; tại đồng bằng chúng ta có thể kể đến các vị Nguyễn Liễu ở Lý Nhân (1412), Trịnh Công Chứng và Lê Hanh ở Hạ Hồng, Phạm Thiện ở Tân Minh, Nguyễn Đặc ở Khoái Châu, Nguyễn Đa Cấu và Trần Nhuế ở Hoàng Giang (1419), Phạm Ngọc ở Đồ Sơn (1420), Nguyễn Thuật ở Hoàng Giang (1420).

Minh Thực Lục cung cấp một danh mục khởi nghĩa nhỏ khác như Nguyễn Trinh ở Lục Na (1417), Trần Đại Quả ở châu Vũ Ninh (1419), Nguyễn Đặc ở Khoái Châu (1419), Ngô Cự Lai ở Thiện Thệ (1419), Trịnh Công Chứng ở Hạ Hồng (1419), Lê Điệt ở Kiến Xương, Đình Hà (1419), Đào Cường và Lê Hành ở Gia Lâm, Lạng Giang (1419, 1420), Đinh Tông Lão ở Kiến Bình (1419), Dương Cung (tên khác của Lê Ngã) ở Giáp Sơn (1421), Đinh Sĩ Nghiêm ở Lục Na (1424).

Chuỗi bạo động vùng trung châu bùng nổ vào khoảng năm 1419 và 1420 là thời điểm quân tinh nhuệ tại cơ quan đầu não đã bị điều vào Thanh Hóa, Nghệ An để đối phó với lực lượng của Phan Liêu, giặc áo đỏ và Lê Lợi.

Các cuộc vùng vẫy nêu trên đều không tạo ảnh hưởng rộng, bị khống chế hay trấn áp chỉ bởi những đơn vị đồn trú vốn được tổ chức bởi đa số binh lính tuyển mộ tại chỗ. Nguyên nhân thất bại rõ ràng do hoạt động đề kháng rời rạc, thiếu tổ chức, cũng do bản thân người thủ xướng không thuộc tầng lớp đủ năng lực xây dựng sách lược dài hạn và hợp lý để hấp dẫn số lượng lớn quần chúng. Bình dân đương thời có lẽ chỉ biết đến chủ trực tiếp của mình, kẻ ban phát nguồn sống cho gia đình họ. Nhiệt tình hợp tác với nhà Minh của giới ưu tú càng gây nhiễu tâm thức chống cự có thể phát sinh từ dân thường. Trừ phi bị bạc đãi hay lâm vào cảnh khổ sở đói rét, dân đen mới nảy ý định tìm lối thoát khác. Ở Giao châu, Trương Phụ từng tổ chức lực lượng thân tín gồm toàn thổ nhân gan dạ và lực lưỡng khiến Minh đế e ngại tới mức phải điều Phong Thành hầu Lý Bân sang thay chức. Như vậy, thiên tử đánh giá cao lòng trung thành với chủ Bắc của người bản xứ. Trong hoàn cảnh đó, thu hút nhân lực tham gia kháng chiến tại đồng bằng không phải dễ dàng.

Khu vực sông Hồng luôn là vấn đề đối với các lãnh tụ khởi nghĩa xuất thân từ Thanh Nghệ. Năm 1427, Lê Lợi sau khi càn quét trung du và châu thổ, dồn người Minh vào thành Đông Quan, đã ban dụ cho quân tướng Thanh Hóa, Nghệ An như sau:

Nhìn chung, các quân kinh lộ của ta, ngay cả quân Dực Thánh, tả hữu Thiên Trường, Thiên Võng ngày trước; hoặc các chỉ huy Nam ban Bắc ban; hay người thân tín của hoàng thất; dường như chưa thấy ai dốc lòng hết sức để lập công huân.[22]

Lê Lợi phàn nàn người kinh lộ dù đã theo, nhưng không dốc lòng với Ngài dẫu rất nhiều trong số đó thuộc dòng dõi quân tướng lừng danh. Lê Lợi rất tinh tế trong thuật dùng binh, Ngài đã mộ nhân lực từ các địa phương từng cung cấp trai tráng tinh nhuệ để tái lập chuỗi đơn vị tên tuổi ngày xưa, bao gồm cả chỉ huy xuất thân từ những gia đình chuyên binh nghiệp. Đáng tiếc, Lê Lợi được người, nhưng không được tinh thần xả thân của họ.

Quân kinh lộ đứng vị trí nào trong công cuộc kháng Minh? Bình Định vương nói rõ trong thư gửi Vương Thông như sau:

Ngày trước, binh không quá vài trăm. Nay, binh phụ tử Thanh Hóa không dưới hai vạn; quân gọi là mạnh mẽ dũng cảm ở Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hóa không dưới vài vạn; cùng với quân đồng tâm đồng sức ở các lộ Giao Châu không dưới mười vạn.[23]

Quân các lộ Giao Châu đứng cuối bảng với phẩm chất không hàm ý đe dọa quân Minh như binh phụ tử Thanh Hóa, binh tinh nhuệ dũng cảm Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hóa; nhưng Lê Lợi đã khéo nhắc Vương Thông đừng trông chờ gì ở họ như Trương Phụ ngày xưa vì khối nhân lực đông đảo đó đã ủng hộ Ngài.

Tình trạng tinh thần sĩ quan và binh lính kinh lộ vào thời điểm nghĩa quân đã chiếm ưu thế trên chiến trường không khiến Bình Định vương mất lòng tin, nhưng rõ rệt là không xứng với kỳ vọng của Ngài.

Còn bọn có tiếng tăm, “有名稱者 hữu danh xưng giả”, thì thế nào? Đó là những người Lê Lợi luôn dành chỗ bên trái trên cỗ xe riêng, Ngài cần ý kiến và nguồn lực của họ.

Họ ở đâu xa thẳm khiến khi mong ngóng Lê Lợi phải than thở “茫若望洋”mang nhược vọng dương”, mịt mờ như trông ra biển? Theo lời Mạc Thúy, đại biểu xuất sắc của nhóm này, thì những người đó đang vui mừng vì nhờ quân Minh mà thoát tục man di, được chiêm ngưỡng áo khăn thịnh trị. Họ hân hạnh không kể xiết vì các đầu mục Thanh Hóa quê mùa khó bì được với vị hoàng đế hào hoa ở Kim Lăng.

Tâm phúc của Lê Lợi vẫn là phiên thần xứ “trại”.


[1]Nguyên văn : 址交址清化府知府梁汝笏為交址布政司左參政仍掌清化府事汝笏交址人旌其有招撫功也 (Minh Thực Lục II, 351)

[2] Nguyên văn : 丁未 交址布政司土官左參政梁汝笏率所屬郡縣土官貢金銀器方物賜鈔幣及金織紗衣有差 (Minh Thực Lục II, 401)

[3] Nguyên văn : 交址布政司土官左參政梁汝笏等來朝進金銀器方物上謂尚書呂震曰汝笏雖土人頗忠實招民殄寇累累有功今來朝當厚賚以獎勵之凡所進物皆酬其直於是賜汝笏鈔二百錠錦綺四表裏賜其從人鈔有差償所進物凡給鈔七千四百八十錠 (Minh Thực Lục II, 591-592)

[4] Nguyên văn : 賜交址布政司土官參政梁汝笏誥命並封贈其祖父母父母妻汝笏交址清化府人敬事朝廷以殺賊及招撫功累陞至參政至是來朝特賜以旌之 (Minh Thực Lục II, 596-597)

[5] Nguyên văn: 己巳交州右衛土官指揮同知陳封千戶阮正百戶宋如路等二十員來朝貢方物人賜鈔八十錠紵絲衣一襲賜其從者鈔有差 (Minh Thực Lục I, 727)

[6] Nguyên văn: 庚午 交址布政司右參議莫勛率其屬三江奉化等府土官百三十九人來朝貢及金銀器等物 上嘉勛等先有歸款之誠繼有從征之勞特賜宴勞陞勛為本司布政使三江府土官知府杜忠為右參政複賜璽書寵異之餘官屬各陞一級賜綵幣有差 (Minh Thực Lục II, 308-309). Nhận xét : bản dịch ghi “thăng Huân chức ty Bố chính sứ” e nhầm, phải là “thăng Huân chức Hữu Bố chính sứ”. Riêng bản chữ Hán phần này ghi Tri phủ Tam Giang là Đỗ Kế Trung thay vì Đỗ Duy Trung.

[7] Nguyên văn: 辛酉交址右政使莫勛及交州府知府杜希望等言交州僻處南荒仰慕聖化積有歲年伏蒙 皇上軫一視同仁之念建設郡縣俾同內屬凡有寸長悉蒙收錄補報之私切於夙夜今聞營建北京四海之內庶民子來而犬馬之心有不能已謹以家丁杜等五百人差縣丞黎獻率請詣闕下少效微勞 上覽奏召獻等勞之曰爾等遠來趨事備見誠意但營建就緒不欲重勞爾也人賞鈔二十錠遣歸 (Minh Thực Lục II, 376-377)

Nhận xét :

  1. Bản chữ Hán ghi chức vụ của Huân là Hữu Bố chính sứ, không phải Hữu Tham chính sứ.
  2. Cụ Hồ Bạch Thảo phiên âm là Phiêu thay vì Biều

[8]Nguyên văn: 丙子交址布政司右政使阮勛北江府同知阮可弄交州府同知黎原起等以考滿至京貢金銀器皿及方物 (Minh Thực Lục II, 656). Nhận xét : bản chữ Hán ghi chức vụ Nguyễn Huân là Hữu Bố chính sứ, không phải Hữu Tham chính. Không rõ nhầm lẫn các chức vụ xưa do dịch giả hay nhà in.

[9] Nguyên văn: 交址右布政使阮勛為左布政使以其在職九年擒賊撫民有功故也 (Minh Thực Lục II, 659)

[10]Nguyên văn: 落交址布政司左布政使阮勛北江府同知阮可弄交州府同知黎原起等鈔文錦幣表裏有差 (Minh Thực Lục II, 660-661)

[11]Nguyên văn: 交址土官左布政使阮勛奏家人潘犬等一百七十五戶編籍諒江等府州縣為民願免徭役以足養贍命行在戶部移文免(Minh Thực Lục II, 666)

[12]Nguyên văn: 賜交址左布政使阮勛誥命並封其祖父母父母妻仍敕諭勛曰昔我 皇祖太宗文皇帝臨御俯念交址為黎寇造禍弒君虐民是以興師吊伐師初臨境智者傾誠歸化愚者猶懷疑貳爾阮勛存心端實操慮純良達事之機識天之道奮攄誠悃歸向朝廷殫心竭勞以效任使撫順剪逆助益良多歷年滋深秉心不懈我 皇祖重乃勛績屢進爾官朕祇紹鴻圖懋惟繼述今爾考績來朝嘉念乃勛特隆恩命逮及祖考咸錫褒榮夫君臣相與當務始終朕體 皇祖之心以待爾爾推事 皇祖之心以事朕恪恭乃乃職永篤渝用崇令譽延慶永世特茲獎諭汝惟欽哉 (Minh Thực Lục II, 667)

[13]Nguyên văn: 庚辰敕工部尚書黃福交址布政使阮勛曰爾福清忠正直秉愛民之誠勛忠敬純良堅事君之節皆先朝老成今交址未靖發兵征討特命卿二人參贊總兵機務其同心協力運謀建策和輯將帥獎勵軍士早成平定之功用安一方之眾事有當陳奏者密封以聞往攄乃誠用副隆委欽哉 (Minh Thực Lục II, 724)

[14]Nguyên văn: 明人犯日南州奇羅海口阮大阮大先事胡氏後叛胡降于明至是引明人來侵獲右相國季貔及其子判中都元 (Toàn Thư IV, 276)Nhận xét bản dịch : tên Phán trung đô trong bản vi ảnh là , Nguyên Cữu.

[15]Nguyên văn: 張輔以阮大擒一胡有功劄付交趾都指揮使大驕矜有德色多為不法荒色縱酒潜依叛志輔殺之(Toàn Thư IV, 277)Nhận xét : bản chữ Hán không nói “bắt hai cha con họ Hồ”, chỉ ghi nhận “bắt một người họ Hồ”.

[16]Nguyên văn: 乙酉交址三江府土官知府杜維忠遣侄必列交州府知府杜希望遣子璩奉表貢馬及方物謝賜勞恩 (Minh Thực Lục I, 922)

[17]Nguyên văn: 交址土官右參政掌三江府事杜維忠奉化府知府陳誰交州府故知府杜希望之子璩宣化府當道縣知縣梁國輔等二十七人來朝貢金銀器及方物 皇太子令禮部悉宴勞之 (Minh Thực Lục II, 477)Nhận xét : theo bản dịch, cụ Thảo phiên âm là Cự. Cũng có thể do in nhầm.

[18]Nguyên văn: 壬戌命故交址布政司右參政杜維忠子伯儀為三江府知府勅曰國家平定交址之初爾父先歸順克效勤誠綏降剪叛與有勞績昔我 皇祖太宗皇帝授以顯官命署三江府事政聲尤著雖已沒世民猶不忘今特命爾為三江府知府勅至爾即赴任撫綏人民奮力討賊以圖繼述必勤必慎勉敦忠孝 (Minh Thực Lục II, 670)

[19]Nguyên văn: 冬十月國公鄧悉調順化新平乂安演州清化等路軍進討東都師經長安福成等舊官属及諸豪傑無不應從悉擇其才各置以官 十二月十四日國公鄧悉大破明師於逋姑桿 (Toàn Thư IV, 279)

[20]Nguyên văn: 鄧悉但知行軍之爲急而不知救鶇都之尤急東都國之形勢據東都則諸路無不應而中州豪傑皆在焉舍此不圖分軍散處所以號令不一卒至傾宜哉 (Toàn Thư IV, 280)

[21]Nguyên văn: 唐太宗之用兵多乘破竹之勢以取勝盖有英姿而将卒素所練習也帝討决勝而悉不從固爲可惜然悉盖料帝非太宗之而兵自遠來粮或不繼京路之兵未集寧守什圍伍攻之法也不然古弄城距逋姑不過半日而不能乘破竹以進况東乎討未為甚失矣在帝信讒而逮殺之耳 (Toàn Thư IV, 280)

[22]Nguyên văn: 凡我京路諸軍並前日翊聖左右天長天網等軍或列於南斑北斑之首或聯於天潢肺腑之親然亦未見其有輸忠効力樹立功勲者 (vi ảnh đính kèm Nguyễn Trãi toàn tập, Hoàng Khôi biên dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, tái bản 2001, trang E40a)

Bản dịch khác: Ta xem các quân ở Kinh lộ cùng là các quân Dực-Thánh tả hữu Thiên-trường, Thiên-cương ngày trước, hoặc là đứng đầu Nam ban Bắc ban, hoặc là tình thân hoàng tộc ngoại thích, song vẫn chưa thấy mấy người hết lòng gắng sức, dựng được công to. (Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, 143)

[23]Nguyên văn: 昔者兵不過数百今清化父子之兵不下二萬演州新平順化素號精壯勇敢之士不下数萬與交洲等路同心同力之士不下十萬 (vi ảnh đính kèm Nguyễn Trãi toàn tập, Hoàng Khôi biên dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, tái bản 2001, trang E36a)

Tài liệu tham khảo, chú thích:

A. Các chi tiết lịch sử đều trích từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả : Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long. Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Toàn Thư – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.

B. Các ghi chép của người Minh đều trích từ bộ Minh Thực Lục, quan hệ Trung quốc – Việt Nam thế kỷ XIV – XVII (bản dịch Hồ Bạch Thảo), Nhà xuất bản Hà Nội (2010). Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Minh Thực lục – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.

(1) Viện Văn học, Thơ văn Lý-Trần tập III, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1978), trang 669-670.

(2) Trần Quốc Vượng không đồng ý phả hệ này. Dựa vào Việt Kiệu Thư của Lý Văn Phượng, cụ Trần cho rằng họ Mạc vốn gốc người Đản Quảng Đông. Tuy nhiên, cụ không giải thích vì sao nếu là người Đản thì không phải hậu duệ Mạc Đĩnh Chi.

(3) Geoff Wade dịch sang tiếng Anh rất thuyết phục và rõ ràng các chức danh thuộc Ty Bố chính. Bố chính sứ, Tả Hữu Bố chính sứ, Tả Hữu Tham chính Ty Bố chính, Tả Hữu Tham nghị Ty Bố chính được dịch lần lượt là Administration Commisioner, Administration Comissioner of the Left/Right, Vice Administration Comissioner of the Left/Right, Assistant Administration Comissioner of the Left/Right. Tham khảo: Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu : an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Shingapore E-press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/entry/1104, accessed July 02, 2016.

(4) Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch Nguyễn Đức Vân – Kiều Thu Hoạch, Nxb Trẻ (tái bản 2015), trang 429-430.

(5) Ngô gia văn phái, sđd, trang 430.

(6) Xem Đặng Phương Nghi, Vài tài liệu mới lạ về những cuộc Bắc tiến của Nguyễn Huệ, Quang Trung Nguyễn Huệ, Tạp chí Xưa&Nay – Nhà xuất bản Văn Hóa (in lại các bài đăng trong tập san Sử Địa do Nguyễn Nhã chủ biên và chủ bút – 2008), trang 59.

(7) Keith W. Taylor, A History of the Vietnamese, Cambridge University Press (2013), trang 177. Nguyên văn: People in the Red River plain tended to support Ming government. People in the lowlands of the southern provinces of Thanh Hoa and Nghe An were generally responsive to the Ming government as well. But in the foothills and uplands of these southern provinces was an endemic resistance to Ming rule. In other words, following a distinction first reported during Tran times, many Kinh people perceived value in being part of the northern empire, but the Trai people did not. Thus, in the 1420s, after the death of Zhu Di, it was among the Trai population of the southern provinces that active resistance to Ming developed most rapidly, particularly in the lower valleys of the foothills south of Red River and west of coastal plains. The Tran terms Kinh and Trai represented different tendencies on a spectrum of cultural and linguistic practice that in modern time have been perceived as a difference between Vietnamese and various peoples collectively called Muong.

Lát cắt quá rạch ròi của Taylor về sự phân rẽ mang tính vùng miền trong lịch sử Việt Nam thu hút chỉ trích cay đắng từ nhiều người Việt. Tuy nhiên, cần bình tĩnh hơn để xem xét quan niệm đó. Thực tế suốt quãng thời gian cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, vào những thời điểm Đại Việt có chính quyền đủ mạnh, họ chống cả Hán lẫn Chiêm. Nhưng những lúc trung ương suy sụp, Từ Nghệ An vào nam ngả về Chiêm trong khi đồng bằng Bắc bộ có xu hướng quy phục Hán. Các cộng đồng Đại Việt không chỉ ngả về bên này hay bên kia, họ còn dựa vào sức mạnh bên ngoài để cướp và giết nhau không nương tay. Đó là sự thực vào đời Trần mạt, Hồ và Minh thuộc.

(8) Trái ngược với ý kiến của đa số học giả Việt Nam, nhà nghiên cứu Nhật Bản Minoru Katakura hoài nghi về tính tập quyền dựa trên luật pháp của thiết chế chính trị triều Lý. Sakurai Yumio thậm chí cho rằng việc phân chia Đại Cồ Việt thành 24 lộ là sáng tạo của sử gia đời Lê. Năm 2013, Momoki Shiro đề xuất lập luận rằng chính quyền Lý ban đầu mang tính địa phương, sau đó mới dần phát triển sang các khu vực khác. Shiro chứng minh “lộ” là một đơn vị giám sát mang tính chất quân sự, tư pháp và tài chính bao trùm các đơn vị hành chính như phủ, châu; theo ông, việc phát triển quá mức quyền lực ra khỏi vùng trung tâm là một trong những nguyên nhân khiến chính quyền Lý suy yếu và sụp đổ.

(9) Con số này rất đáng ngờ. Đại Việt sử lược chép là 5 ngàn. Xem: Khuyết danh, Đại Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường 1972, Nxb TPHCM (1993), bản điện tử của nhóm Công Đệ – Lê Bắc, trang 20.

(10) Nam Chiếu đánh An Nam với sự ủng hộ của các thủ lĩnh bản địa như gia tộc họ Đỗ ở châu Ái, Lý Do Độc ở châu Phong. Đặc biệt có tù trưởng thân thiết với tướng Nam Chiếu Đoàn Tù Thiên tên Chu Cổ Đạo. Ông này cùng chết với Tù Thiên khi Cao Biền tái chiếm châu thành. Như vậy, đối tượng tàn sát của Nam Chiếu không thể là khối dân còn theo văn

hóa Lạc rất gần gũi với các tộc nói tiếng Kra-Dai. Cuộc “thanh lọc sắc tộc” của họ chủ yếu nhắm vào binh lính, quan chức và các chủ đất ở hai châu Phong và Giao. Nếu quan lại, quân chính quy đa số là người Đường thì tập hợp chủ đất lớn nhỏ quanh phủ trị lại là các gia đình Hán-Việt. Nam Chiếu quét sạch 150.000 người thuộc Phong và Giao châu mở đường cho tộc Thái trồng trọt trên các mảnh đất vừa chiếm được như chúng ta đã thấy. Cuộc phản công kèm theo giết chóc quyết liệt không phân biệt quân dân của Cao Biền một lần nữa tạo nên khoảng trống nhân lực tại trung châu. Biền cất nhà và khai thông thủy lộ hẳn đều hướng đến việc khuyến khích cư dân phía Bắc đến định cư tại Giao Chỉ. Sức mạnh sa sút của phủ Đô hộ cũ phơi bày khi họ Khúc ở Hồng châu (nay thuộc Hải Dương), Lý Tiến từ Nam Hán (Quảng Đông nay), Dương Diên Nghệ từ châu Ái thay phiên nhau tiến chiếm phủ thành dễ dàng. Nhiều khả năng, một số binh lính và dân thường theo chân 3 nhà lãnh đạo trên đã ở lại sinh sống tại trung tâm đồng bằng đã trở thành thưa vắng khi đó. Ngoài nguồn nhân lực tự nhiên tràn xuống từ miền cao điền khuyết không gian trống trải, nguồn bổ sung nhân lực tinh hoa đáng kể có thể là người Mân khi vương quốc Mân sụp đổ vào năm 945 và người Quảng khi vương quốc Nam Hán bị sáp nhập vào đế quốc Tống năm 971. Tập họp các thành phần dân cư nêu trên là cơ sở để hình thành người “kinh” khi Lý Thái tổ dời đô ra Thăng Long.

(11) Xem Nguyễn Danh Phiệt, Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Nxb Khoa học Xã hội (1990), trang 32-37.

(12) Xem Tạ Chí Đại Trường (2010), Có một nguyên nhân dời đô khác?, http://www.talawas.org/?p=23999.

(13) Theo tục “coong trình” của người Dao đỏ, phụ nữ có quyền ăn nằm với đàn ông nào họ thích. Hành động đó không bị xem là vi phạm đạo đức vì tộc Dao đỏ tin rằng sau khi qua đời phụ nữ cần có nhiều đàn ông đỡ đần để họ trải qua kiếp ma. Cũng có thể đó chỉ là phản ứng bản năng để cải tạo nòi giống của những người sống trong cộng đồng cách biệt, chịu nhiều hậu quả từ hôn nhân cận huyết.

(14) Khuyết danh, Đại Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường 1972, Nxb TPHCM (1993), bản điện tử của nhóm Công Đệ – Lê Bắc, trang 95.

(15) Nghiên cứu của Nguyễn Tài Cẩn về cách đọc Hán Việt cho phép suy luận sự hình thành chữ Nôm như một hệ thống văn tự xảy ra sớm nhất là vào đầu thế kỷ XI. Thời điểm này gần như trùng hợp với khởi điểm hình thành thứ tiếng tiền thân tiếng Việt hiện đại giả thiết bởi John Duong Phan. Phan cho rằng ngôn ngữ mới ra đời là do cộng đồng người nói loại tiếng Hán địa phương (Annamese Middle Chinese) chuyển sang nói tiếng Tiền Việt Mường. Tác động của quá trình chuyển đổi khiến tiếng Tiền Việt Mường biến thành tiếng Tiền Việt Mường lai, có nhiều phương ngữ. Một trong số phương ngữ đó sẽ biến chuyển qua nhiều thế hệ để trở thành ngôn ngữ mới đặc sắc là tiếng Việt. Như vậy, theo lập luận của Phan, có thể nói rằng chủ thể ban đầu tạo ra tiếng Việt, kiêm tác giả chữ Nôm, là những người Hán bản địa hóa chứ không phải người Việt Hán hóa. Toàn bộ đoán định trên phù hợp với diễn tiến lịch sử khi Lý Công Uẩn cùng nhóm công khanh người Mân chiếm quyền cai trị Đại Cồ Việt (năm 1009). Trước đó, các “kỳ nhân” bản địa như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn hẳn không có ý định tự thay đổi tiếng nói của mình. Điều này có thể dẫn đến trở ngại là chính quyền trung ương, ngoài văn ngôn Hán, còn dùng một thứ ngôn ngữ giàu tính địa phương mà không phải bất kỳ cộng đồng nào trong khu vực Đại Cồ Việt đều hiểu. Nếu dưới thời đô hộ, tiếng và chữ Hán là bắt buộc thì thời đầu tự chủ, Đại Cồ Việt thiếu ngôn ngữ bản địa chính thức mang lại sự nhất thống. Phải khẳng định rằng tập đoàn họ Lý có ý thức mạnh mẽ về một vương quốc phương Nam tách biệt khỏi Trung Hoa, tương tự vương quốc Mân của tổ tiên họ. Lý Thái tổ che dấu gốc Phúc Kiến và dĩ nhiên không thể sử dụng bất kỳ loại tiếng Hán nào trong triều đình. Có thể nhu cầu dùng chuyển ngữ phi Hán đã khiến nhóm cầm quyền ngả sang tiếng Tiền Việt Mường. Thứ tiếng này phát triển chậm chạp dưới thời Lý để rồi có bước nhảy vọt khi họ Trần mang vùng ven biển Bắc bộ hòa nhập mạnh vào văn minh Đại Việt. Những tác giả Nôm đầu tiên được lịch sử ghi nhận đều là trí thức duyên hải. Tuy nhiên, ngôn ngữ mới chỉ thực sự mang tính phổ quát khi Hồ Quý Ly/Lê Lợi nối kết vùng trại vào không gian Thăng Long đồng thời gia tăng chất bản địa trong lòng văn hóa Đại Việt cũ.

(16) Xem Li Tana (2014), Towards an environmental history of the eastern Red River Delta, Vietnam, c. 900-1400, Journal of Southeast Asian Studies, 45, trang 315-337 doi : 10.1017/S0022463414000319

(17) Theo thống kê dân số tháng 4 năm 2009, tỉ lệ người kinh và người các tộc khác trong toàn vùng từ đèo Hải Vân trở ra là 81.56/18.44.

Tỉ lệ này chỉ để tham khảo vì khái niệm “kinh” hiện đại không trùng khớp khái niệm “kinh” thời Lý Trần hay thời Lê sơ, địa bàn từ Thừa Thiên – Huế đến biên giới Trung quốc hiện nay cũng không trùng khít với khu vực từ Thuận Hóa đến biên giới Tống Nguyên Minh thời đó.

(18) Trần Nghĩa, Một bức “ký họa” về xã hội nước ta thời Trần : Bài thơ “An Nam tức sự” của Trần Phu, Tạp chí Văn học 1 (1972), trang 112-113.

(19) Xem Trần Nguyên Đán, Đề Quan lỗ bạ thi tập hậu, Thơ văn Lý-Trần tập III, Nxb Khoa học Xã hội (Hà Nội 1978), trang 196.

____

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch