Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu Email bài này

hợp tác với quân Minh: người kinh lộ (kỳ 1/3)

0 bình luận ♦ 21.04.2017

Toàn Thư: “京路多從賊以叛 Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản”

(Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản.)

Người hợp tác với quân Minh rất nhiều, đặc biệt ở đồng bằng sông Hồng, đến nỗi Toàn Thư phải than thở số người sang Minh trình diện khiến cả nước hầu như trống rỗng. Dưới đây chỉ xem xét chi tiết vài nhân vật quan trọng có tác động mạnh mẽ đến quá trình xâm lăng, chiếm đóng và triệt thoái của quân đội Minh triều.

1. Bùi Bá Kỳ :

Bùi Bá Kỳ (? – ?) người làng Phù Nội, châu Hạ Hồng (nay thuộc huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương).

Theo “Cáo nạn biểu” do chính Bá Kỳ viết dâng lên vua Minh, cha ông Bá Kỳ đều làm quan hàng đại phu, mẹ là bà con gần với hoàng tộc Trần nên từ nhỏ đã được đưa vào cung phục dịch hoàng gia, chức quan đến ngũ phẩm. Sau đó ông được đưa ra làm tì tướng của Võ Tiết hầu Trần Khát Chân. Khi họ Hồ soán đoạt, giết hại nhiều người trung thành với vua cũ, trong đó có gia tộc Bùi Bá Kỳ. Bản thân ông bị truy sát gắt gao.

Toàn Thư ghi nhận vụ tàn sát vào năm Kiến Tân II (1399). Nguyên nhân do Trần Khát Chân cùng nhóm đồng mưu định giết Quý Ly trong dịp hội thề Đốn Sơn. Vì Khát Chân chần chừ, thích khách Phạm Ngưu Tất không thực hiện được ý đồ. Việc vỡ lỡ, Quý Ly giết các người liên quan cùng gia đình, tổng cộng hơn 370 nhân mạng.

“Cáo nạn biểu” lưu lại trong “Thơ văn Lý-Trần” rất ngắn gọn. Bài biểu ghi nhận bởi Minh Thực Lục chi tiết rõ ràng hơn. Có lẽ văn bản đến tay vua Minh đã được trau chuốt lại bởi các quan ở Kim Lăng. Bài biểu như sau:

Ngày 6 tháng 8 năm Vĩnh Lạc II (10/9/1404) : Bồi thần An Nam là Bùi Bá Kỳ đến cáo cấp, lời tâu rằng:

“Gia đình thần đời đời thờ họ Trần nước An Nam, cha ông thần là quan Đại phu, chết vì việc nước. Mẹ thần thuộc dòng thân cận tôn thất họ Trần; vì vậy lúc nhỏ thần được hầu hạ Quốc vương, tước ngũ phẩm; rồi được làm Tỳ tướng cho Vũ Tiết hầu Trần Khát Chân. Năm Hồng Vũ thứ 32 thay Khát Chân ra biển Đông Hải chống cự với giặc Nụy. Lúc này gian thần cha con Lê Quí Ly giết chúa soán ngôi, hãm hại trung thần diệt cả dòng họ có đến trăm mười người. Anh em vợ con thần đều bị giết hại; lại sai người đi bắt thần để xẻ thịt. Thần nghe việc biến bèn bỏ quân ngũ, chạy trốn vào rừng, sống nơi cùng tịch cùng Mường Mán, vượn khỉ. Lòng trung thành sáng chói, nhưng uất ức không có chỗ tố cáo. Mới đây nghe tin Hoàng thượng lên ngôi báu, mở mang sự cai trị ra muôn nơi, nên muốn được phơi bày gan ruột, cầu xin diệt nạn này. Trải qua nhiều gian nan nguy hiểm, đến được biên giới. Giả mạo cùng với lái buôn khiêng vác hàng hóa, tháng 4 năm nay đến phủ Tư Minh, Quảng Tây. Được quan ty đưa đón và may mắn được chiêm bái Hoàng thượng. Thần trình rằng gian thần Lê Quí Ly là con của cố Kinh lược Lê Quốc Kỳ. Y đã hưởng ân sủng dưới triều nhà Trần, con là Thương cũng được ban chức cao. Đắc chí với tham vọng, giết vua, đổi tên họ là Hồ Nhất Nguyên; con là Hồ Đê tiếm hiệu soán ngôi, không tôn trọng mệnh lệnh Thiên triều, ngược đãi con dân trăm họ, dân chúng hàm oan kêu trời khấn đất, trung thần nghĩa sĩ nhức óc đau lòng. Thần trong lòng khích động vì điều nghĩa, mạo muội tâu lên Thiên tử xin ban rộng lòng nhân, thương dân chúng vô tội, mang quân cứu dân phạt tội, nối dòng chính thống bị đứt, thần tình nguyện cầm cung nỏ đi dẫn đường biểu dương uy trời, những người trung nghĩa hưởng ứng họp lại diệt bọn giặc, quét sạch hung đồ, lập lại con cháu nhà Trần. [Được như vậy] ắt nơi phiên di xa xôi này rất đội ơn thánh đức, cung kính triều cống, vĩnh viễn làm phiên dậu bên ngoài. Thần bất tài, trộm bắt chước Thân Bao Tư chịu tội đáng chết để thỉnh cầu, kính xin bệ hạ thương xót”.

Thiên tử thương tình, mệnh quan ty cấp cho y phục và thực phẩm. (Minh Thực Lục I, 206-207)[1]

Bùi Bá Kỳ kêu cầu quân Minh sang phù Trần diệt Hồ để trả thù nước, thù chủ cũ lẫn thù nhà.

Sau đó chưa đến một tháng, gia nô cũ của Trần Tông, một hào trưởng vùng biên giới Chiêm Thành, xưng tên Trần Thiêm Bình (Minh Thực Lục : Trần Thiên Bình), mạo danh là cháu nội Trần Nghệ Tông đến Kim Lăng qua ngõ Lão Qua-Vân Nam cũng để xin binh phạt Hồ.

Khi sứ giả nhà Hồ đến Kim Lăng chúc mừng năm mới, vua Minh đã bố trí để Trần Thiêm Bình, Bùi Bá Kỳ đối chất với sứ đoàn. Theo Minh Thực Lục, cuộc gặp gỡ đầy kịch tính khiến Chu Đệ quyết định chinh thảo An Nam:

Ngày 25 tháng 12 năm Vĩnh Lạc II (25/1/1405): Sứ giả An Nam đến mừng Nguyên Đán. Thiên tử ra lệnh bộ Lễ đưa Trần Thiên Bình ra cho gặp. Sứ giả nhận ra cháu Vương cũ, nên kinh ngạc sụp xuống vái và khóc. Bùi Bá Kỳ lên tiếng trách vì đại nghĩa, sứ giả kinh hoảng không đáp được. Thiên tử nghe tin bèn bảo các quan hầu cận rằng:

“Hồ Đê nước An Nam trước kia tấu rằng họ Trần đã tuyệt tự, y là cháu ngoại quyền quản lý việc nước, xin được phong Vương. Trẫm vốn nghi, nên cho người hỏi Bồi thần và kỳ lão đều bảo rằng đúng như vậy. Trẫm nghĩ rằng họ Trần trước kia làm rể mà được nước, nay Đê là cháu ngoại kế nghiệp cũng hợp lý, bèn xuống chiếu phong chức. Ai ngờ chính y giết chúa soán ngôi, tiếm xưng danh hiệu, thay đổi triều đại, bạo ngược với người trong nước, đánh chiếm đất đai lân quốc, việc làm quỉ thần cũng không dung, thần dân đều bị lừa phỉnh. Đây là tội nhân của một nước, làm sao mà dung thứ được !” (Minh Thực Lục I, 210)[2]

Thiêm Bình cho rằng chỉ 5.000 quân Minh hộ tống là đủ để họ Hồ qui phục vì dân chúng sẽ tự động nổi lên. Khi vua Minh hỏi, Bá Kỳ trả lời không biết Thiêm Bình là ai và không cho rằng lời đó là phải. Vua Minh bỏ rơi Bá Kỳ. Dĩ nhiên, vị hoàng đế nào cũng thích dùng người hoàng tộc, dù là giả, làm chiêu bài, như vậy có lợi hơn.

Khi đội quân áp tải Thiêm Bình về làm vua Giao Chỉ bị thất bại (năm 1406), hoàng đế Minh mới dùng lại Bá Kỳ, cho theo quân đội viễn chinh về Nam, ban cấp đai mão.

Ngày 18 tháng 5 năm Vĩnh Lạc IV (4/6/1406) : Ban mũ và dây đai cho người An Nam đã quy phụ là Bùi Bá Kỳ. Mệnh theo đại quân Nam chinh (Minh Thực Lục I, 222).[3]

Qua thơ văn còn giữ được, ta thấy Bá Kỳ thành tâm trong việc mà ông nghĩ là vì đại nghĩa này.

上明帝詩

其一

孤臣忠孝效胥為,
跋涉山川上帝畿。
碎首王墀滂血淚,
仰祈聖主向無疵。

Thướng Minh đế thi (1)

Kỳ 1

Cô thần trung hiếu hiệu Tư vi,
Bạt thiệp sơn xuyên thượng đế kỳ.
Toái thủ vương trì bàng huyết lệ,
Ngưỡng kỳ thánh chúa hướng vô tỳ.

Thơ dâng Hoàng đế nhà Minh

Kỳ 1

Cô thần bắt chước lòng trung hiếu của Thân Bao Tư,

Trèo non lội suối đến chốn kinh đô nhà vua.

Dập nát đầu trước thềm, đầm đìa máu và nước mắt,

Ngước trông thánh chúa không bắt lỗi lầm.

­­­(Bản dịch của Thơ văn Lý Trần tập III)

上明帝詩

其二

陳事陵夷未可期,
含冤抱恨有天知。
南方臣子懷忠義,
誓國捐驅伐季犛。

Thướng Minh đế thi

Kỳ 2

Trần sự lăng di vị khả kỳ,
Hàm oan bão hận hữu thiên tri.
Nam phương thần tử hoài trung nghĩa,
Thệ quốc quyên khu phạt Quý Ly.

Thơ dâng Hoàng đế nhà Minh

Kỳ 2

Việc nhà Trần suy sụp biết ngày nào mới khôi phục được,

Ngậm oan ôm hận chỉ có trời biết.

Phận tôi con nước Nam mang lòng trung nghĩa,

Thề vì nước bỏ mình để đánh Quý Ly.

(Bản dịch của Thơ văn Lý Trần tập III)

Theo Toàn Thư, sau khi bắt được cha con Hồ Quý Ly, người Minh ngờ Hữu Tham nghị Bùi Bá Kỳ có bụng khác nên đưa ông về Kim Lăng quản thúc.

Hữu Tham nghị là chức vụ đứng hàng thứ 7 trong Bố Chính ty.

Thực chất, nhà Minh có kế hoạch tái lập quận huyện tại Giao Chỉ, con cờ Bá Kỳ đã đi hết nước.

2. Mạc Thúy (? – 1412 ?):

Về những người đầu hàng, tích cực nhất là nhóm họ Mạc, đứng đầu là Mạc Thúy người làng Long Động, châu Nam Sách, phủ Lạng Giang (nay thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương).

Lê Quý Đôn, có lẽ đã nghiên cứu gia phả Mạc tộc, ghi rõ trong Đại Việt Thông Sử vai vế cháu nội của Mạc Thúy đối với Mạc Đĩnh Chi. Lê tiên sinh cũng xác nhận Mạc Thúy là cao tổ của Mạc Đăng Dung, người sáng lập triều Mạc năm 1527. (2)

Mạc Thúy là người An Nam khiến Minh Thực Lục tốn nhiều bút mực do có đóng góp quan trọng vào sự nghiệp chinh phục Giao Chỉ của thiên triều.

Trước tiên, hãy nhìn về Thúy từ phía Đại Ngu. Sau khi tường thuật việc quân Minh bày trận ở bờ bắc sông Cái (thượng nguồn sông Hồng), Toàn Thư ghi nhận sự kiện Mạc Thúy hàng Minh như sau:

Bọn Mạc Địch, Mạc Thúy, Mạc Viễn và Nguyễn Huân mạo nhận là họ Mạc đều là những kẻ bất đắc chí, đón hàng quân Minh, người Minh đều trao cho quan chức. Sau Thúy làm đến tham chính; Địch làm đến chỉ huy sứ; Viễn làm đến diêm vận sứ; Huân làm đến bố chính; (Thúy, Địch, Viễn là cháu Mạc Đĩnh Chi). (Toàn Thư II, 229).[4]

Minh thực lục trong mục ngày 24 tháng 11 năm 1406 ghi nhận việc Mạc Thúy đầu hàng và hành trạng tiếp theo chi tiết hơn nhiều:

…các ngụy quan như Thiêm phán Đặng Nguyên ; người châu Nam Sách, phủ Lạng Giang là Mạc Thúy, Mạc Viễn đến yết kiến. Bọn họ nói rằng:

“Giặc dựa vào Đông Đô, Tây Đô; cùng sự hiểm trở của các sông Tuyên, sông Thao, sông Đà, sông Phú lương. Đường huyết mạch từ phủ Tam Giang, qua bờ phía nam sông Đà, núi Tản Viên, đến phía nam sông Phú Lương, qua sông Ninh đi sang phía đông. Lại từ bờ bắc sông Phú Lương theo sông Hải Triều [sông Luộc], sông Hy, sông Ma Lao đến Bàn Than, núi Khốn Mai, dọc sông xây đồn. Ải Đa Bang cho xây thêm thành đất, đồn trại nối tiếp liên hoàn dài hơn 900 dặm; bắt hết dân các châu tại Giang Bắc trên 200 vạn, gồm nam phụ lão ấu vào, để trợ thanh thế. Phía nam sông Phú Lương đều đóng cọc gỗ; tập trung các thuyền bè trong vũng nước đằng sau cọc, các cửa sông cũng đóng cọc gỗ để đề phòng công kích. Giặc phòng bị nghiêm nhặt tại Đông Đô, thường bày voi trận, lính tráng dọc thành; rêu rao đông đến 700 vạn.” (Minh Thực Lục I, 241)[5]

Như vậy, Đặng Nguyên Nguyên và Mạc Thúy đã báo cáo cho người Minh kế hoạch phòng thủ của quân Hồ.[6] Riêng số lượng nhân lực phía Đại Ngu rõ ràng bị thổi phồng quá đáng.

Theo Minh Thực Lục, Quân Minh từ huyện Tân Phúc di chuyển đến bến sông thị trấn Cá Thiều (chợ Kẻ Chiêu), châu Tam Đái để đóng thuyền chuẩn bị cho chiến dịch công kích. Tướng Hồ Trần Đĩnh đánh quấy rối thu vài thắng lợi nhỏ khiến quân Minh phải ngừng lại để củng cố. Sau đó, cuộc tổng tấn công khai màn; giặc đánh thủng phòng tuyến quân Hồ nơi chỉ huy quân Tả Thần Dực Nguyễn Công Khôi trấn giữ, tạo điều kiện làm cầu phao vượt sông Cái. Kỳ lạ là quân Minh mới đến còn dò dẫm địa hình lại thực hiện được trận đánh hiệu quả vào vị trí quân Tả Thần Dực. Người Minh tiêu diệt toán quân này triệt để và chóng vánh đến mức các đạo quân Hồ bên trên và phía dưới dòng sông đều không nghe thấy tiếng động của chiến trận. Hẳn bàn tay Mạc Thúy có nhúng vào sự việc vì nếu không có thông tin trinh sát đầy đủ, chiến công như thế thật bất khả thi.

Giữa tháng 1 năm 1407, Trương Phụ và Mộc Thạnh tấn công thành Đa Bang. Có lẽ nhờ vào thông tin của Mạc Thúy mà kỵ binh Minh dưới quyền Du kích Tướng quân Chu Quảng đã có những tấm vải vẽ hình cọp để dọa voi Đại Ngu. Hỏa tiễn của Thần cơ Tướng quân La Văn cũng sẵn sàng với số lượng lớn. Quân kỵ, súng thần cơ và tên lửa khiến tượng binh Hồ dưới quyền tướng quân đạo Thiên Trường Nguyễn Tông Đỗ rối loạn tháo lùi. Quân Minh tràn vào Đa Bang, trấn thủ Lương Dân Hiến và Thái Bá Nhạc tử trận.

Người Minh tiến chiếm Đông đô.

Hạ tuần tháng 1 năm 1407, Hồ Nguyên Trừng phản công trên sông Lỗ nhưng không thành công phải lui về giữ cửa Muộn. Người các châu thuộc lộ Tam Giang như Tuyên Giang, Thao Giang cùng nhiều phủ huyện quanh đó đến gặp tướng Minh để xin hàng.

Nói về trận phản công này, ghi chép ngày 26 tháng 1 năm 1407 của Minh Thực Lục như sau: Tả Tham chính Chinh thảo An Nam Phong Thành hầu Lý Bân, Hữu Tham tướng Vân Dương bá Trần Húc mang quân đánh giặc họ Lê tại Tây Đô.

Giặc nghe tin thành Đa Bang bị chiếm, bèn đốt phá cung thất kho tàng tại đây, rồi chạy ra biển. Bọn giặc dựa vào vùng đất tại núi Thiên Kiện, đưa quân từ sông Sinh Quyết, Đàm Xá đánh vào quân ta. Quan Tổng binh Tân Thành hầu Trương Phụ sai Đô đốc Hoàng Trung mấy lần đánh bại giặc. Do vậy các huyện của hai châu Tuyên Giang, Thao Giang thuộc lộ Tam Giang lần lượt đến cửa quân xin hàng. (Minh Thực Lục I, 247)[7]

Toàn Thư ghi nhận giờ phút đen tối nhất của nhà Hồ vào tháng 2 năm Hưng Khánh I (1407): “Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản.”[8]

Phối hợp với chính sách tái lập nhà Trần của vua Minh, chính Mạc Thúy đã kích động phong trào quay lưng lại với họ Hồ tại trung châu. Khi đồng bằng sông Hồng trù phú, giàu nhân lực ngảnh mặt, thậm chí chống lại, vận mệnh triều Hồ xem như đã được định đoạt.

Riêng cánh quân phía đông bắc của Hồ Đỗ, Hồ Xạ cũng phải rút lui sau trận quyết chiến với Vương Hữu và Liễu Tông. Toàn Thư chỉ ghi việc Đỗ, Xạ rút bỏ Bình Than về hợp binh với Trừng ở cửa Muộn. Thực Lục lại miêu tả trận đánh tại vùng này như trận chiến có thành quả lớn nhất chiến dịch chinh Nam.

Ghi chép ngày 8 tháng 2 năm 1407: Ngày hôm nay, quan Tổng binh Chinh thảo An Nam Chinh Di Tướng quân Tân Thành hầu Trương Phụ điều động Thanh Viễn bá Vương Hữu, Tả Phó Tướng quân Tây Bình hầu Mộc Thạnh điều bọn Đô Chỉ huy Liễu Tông hợp binh dẹp giặc. Quan quân vượt sông Chú Giang tập kích quân giặc tại sách Trù Giang, lại làm khốn giặc tại Mai Sơn, sông Vạn Kiếp và núi Phả Lại; chém 37.390 thủ cấp, bắt Đoàn phó là Đinh Bộ Khúc giết đi, dư đảng giặc tan rã. Lúc này tướng giặc Hồ Đỗ tụ thuyền tại sông Bàn [Bình] Than; Trương Phụ nhân dịp người bản xứ châu Nam Sách là Đội chính Trần Phong đến xin hàng, bèn sai đi đánh Hồ Đỗ. Đỗ thua chạy đến sông cửa Muộn, tịch thu hết thuyền bè. Lại sai Trần Phong chiêu dụ dân chúng các xứ Lạng Giang và Đông Triều, nhân dân được yên nghiệp, do đó quận ấp châu Phong tiếp tục đầu hàng, sĩ phu dâng thư kết tội giặc họ Lê độc ác trăm cách. (Minh Thực Lục I, 247-248)[9]

Cánh quân được chỉ huy bởi hai phó tướng, tức không phải mũi nhọn chính nhưng hiệu quả giết chóc rất lớn. Thực Lục cho thấy quân Hồ phòng ngự chông chênh ở vùng đông bắc, đội lính địa phương dưới quyền Trần Phong ngả về người Minh khiến quân chính quy nhà Hồ bị bật gốc kéo theo sự sụp đổ của hệ thống cai trị.

Tuy vậy, quân Hồ vẫn còn sinh khí. Hạ tuần tháng 2 năm 1407, tướng chỉ huy quân Thần Đinh là Ngô Thành nương thủy triều đột kích đến Giao Thủy. Phụ, Thạnh chặn đánh từ hai bờ sông. Thành tử trận, được truy phong Kiêu vệ tướng quân.

Minh Thực Lục miêu tả trận này khá quyết liệt, cũng cho biết chiến công của người Minh có sự cộng tác đắc lực của Mạc Thúy. Đặc biệt tin tình báo về hoạt động quân Hồ nhiều khả năng do họ Mạc cung cấp. Người Minh ghi lại tên các tướng Hồ hi sinh mà sử Việt bỏ qua.

Ghi chép ngày 21 tháng 2 năm 1407: Ngày hôm nay, quan Tổng binh Chinh thảo An Nam Tân Thành hầu Trương Phụ, Tả Phó tướng Tây Bình hầu Mộc Thạnh đánh bại giặc họ Lê tại sông Mộc Hoàn.

Khởi đầu Phụ nhận được tin điệp báo cho biết thuyền giặc qua lại tại vùng sông Phú Lương, hạ lưu đất Giao Châu khoảng 20 dặm. Lại có tin Quí Ly và con là Trừng tụ tập thuyền bè tại sông Hoàng Giang, rồi đem quân đóng tại sông Mộc Hoàn. Thạnh cùng Tham tướng Phong Thành hầu Lý Bân suất quân bộ, kỵ, chiến thuyền từ sông Phú Lương đến đóng tại sông Lỗ. Giặc họ Lê dùng khoảng hơn 500 chiến thuyền đánh vào quân ta. Quân của Phụ thủy lục cùng tiến; bọn Đô đốc Liễu Thăng hăng hái đánh thuyền giặc tại Giao Thiển, khiến giặc đại bại. Tịch thu hơn 10 thuyền giặc, giết tướng giặc là Nguyễn Nhân Tử, Nguyễn Lỗi, Nguyễn Liệt, chém hơn một vạn đầu, bắt sống tướng giặc Hoàng Thế Cương, Đồng Văn Kiệt, Phùng Tông Thực, Mạc Thiết, Phạm Hài, Nguyễn Lợi hơn trăm tên, tất cả đều bị chém; riêng bọn giặc chết trôi không kể xiết. Lúc này người châu Nam Sách tên là Mạc Thúy, vốn giận giặc họ Lê, bèn mang lính địa phương vạn người đến theo, nhiều lần gắng sức lập công. (Minh Thực Lục I, 248-249)[10]

Ngày 10 tháng 3 năm 1407, Trương Phụ thông qua Mạc Thúy và bộ thuộc để công bố đức chính Thiên tử nhà Minh đến quan lại, binh lính, dân chúng Đại Ngu ở khắp các quận huyện. Người Minh yêu cầu quan lại trở về nhiệm sở, binh lính quay lại doanh trại và dân chúng ở yên với chức nghiệp của mình. Mạc Thúy còn có nhiệm vụ tìm kiếm người đức hạnh thuộc dòng dõi họ Trần để gửi về Kim Lăng nhận phong vương.

Ngày 17 tháng 4 năm 1407, Mạc Thúy, Doãn Bái và nhóm bô lão 1.120 người từ Bắc Giang và các phủ khác, từ An Việt và các huyện khác đến gặp chỉ huy quân Minh. Nguyên văn phát biểu của Mạc Thúy ghi nhận bởi Minh Thực Lục như sau:

“Được ơn cấp bảng dụ khắp trong nước, tuyên bố đức ý của thánh Thiên tử cho quan trở lại nguyên chức, lính trở lại nguyên đơn vị, dân trở về nghiệp cũ; hỏi tìm con cháu nhà Trần chọn một người hiền, tấu xin tước vương để làm chủ nước; lại chia người đi các nơi phủ dụ quan lại quân dân yên nghiệp như cũ. Duy con cháu nhà Trần trước đây bị giặc họ Lê tru diệt hết, không còn sót ai, không thể kế thừa. An Nam vốn là đất cũ của Trung Quốc, sau đó bị chôn vùi vào tục Man Di, không được nghe dạy dỗ lễ nghĩa. Nay may mắn được Thánh triều tảo trừ hung nghiệt, quân dân già trẻ được chiêm ngưỡng áo khăn thịnh trị, hân hạnh không kể xiết; xin được duy trì trở lại quận huyện cũ, ngõ hầu sửa đổi tục man di, vĩnh viễn thấm nhuần thánh hóa.”

Thúy kính cẩn cùng các bậc kỳ lão soạn sẵn biểu văn, xin dâng lên triều đình để lòng kẻ dưới được đề đạt. Quan Tổng binh Tân Thành hầu Trương Phụ cho rằng cha con giặc họ Lê chỉ trong sớm tối bị tiêu diệt, các phủ huyện đều được bình định, cần có sự thống trị để phủ ngự dân này, nên ngay ngày hôm nay cho người ruổi về kinh đô tâu trình. (Minh Thực Lục I, 250-251)[11]

Minh Thực Lục chép về trận Hàm Tử ngày 4 tháng 5 năm 1407 chỉ đề cập đến đạo chủ lực cuối cùng của nhà Hồ bị tiêu diệt, không nhắc đến Mạc Thúy. Sau trận này, quân Hồ không còn khả năng tác chiến, họ bỏ chạy ngay khi người Minh xuất hiện truy đuổi hoàng tộc Hồ và nhóm quan tướng cao cấp.

Cuộc truy bức của quân Minh kết thúc vào giữa tháng 6 năm 1407. Minh Thực Lục ghi lại giây phút cuối cùng của triều đại Hồ như sau:

Ngày 12 tháng 5 năm Vĩnh Lạc V (17/6/1407): Ngày Ất Sửu, dân bản xứ An Nam là bọn Vũ Như Khanh bắt được ngụy Quốc vương nước Đại Ngu Lê Thương, ngụy Thái tử Lê Nhuế, con cháu giặc họ Lê, ngụy Lương Quốc vương Lê Kích, cùng tướng ngụy Trụ quốc Đông Sơn Hương hầu Hồ Đỗ tại núi Vọng Cao, cửa biển Vĩnh Áng.

An Nam được bình định. (Minh Thực Lục I, 254)[12]

Vũ Như Khanh (Toàn Thư gọi là Nguyễn Như Khanh) là bộ hạ của Mạc Thúy.

Theo Toàn Thư, tướng quốc Lê Quý Tì và con tên Nguyễn Cữu bị bắt ngay ngày quân Minh đến cửa biển Kỳ La (ngày 5 tháng 5 Vĩnh Lạc V tức 10/7/1407) bởi một cựu quan nhà Hồ đầu hàng giặc Minh là Nguyễn Đại.

Quý Ly và Trừng bị bắt vào 16 tháng 6 năm 1407 (ngày 11 tháng 5 năm Vĩnh Lạc V), trước Thương một ngày.

Đến tháng 1 năm Hưng Khánh II (1408), Mạc Thúy theo Trương Phụ đánh Diễn Châu (bắc Nghệ An). Vua Hậu Trần Giản Định và tướng Đặng Tất phải chạy vào Hóa châu.

Họ Mạc rất tích cực phục vụ Minh triều. Chúng ta thấy ông xuất hiện ở Kim Lăng khá sớm.

Ngày 17 tháng 5 năm Vĩnh Lạc VI (11/6/1408) : Bọn Thổ quan Tri phủ Lạng Giang đất Giao Chỉ tên là Mạc Thúy đến triều cống sản vật địa phương. Ban thưởng có sai biệt. (Minh Thực Lục I, 295)[13]

Trong lúc chờ đợi ân sủng của vua Minh, họ Mạc được quan tâm chu đáo.

Ngày 28 tháng 8 năm Vĩnh Lạc VI (17/9/1408) : Ngày Quý Mão, ban yến cho quốc vương Bột Nê (Brunei) Ma Na Nhược Gia Na và cùng với bọn sứ thần các xứ Vu Điền, Đông Dương, bọn Mạc Thúy tri phủ Lạng Giang, Giao Chỉ. (Minh Thực Lục I, 310)[14]

Thành Tổ Chu Đệ đáp lại rất ân cần. Ngoài quà thưởng bằng bạc, tiền giấy và lụa, Minh đế còn đặc biệt tặng nhóm bầy tôi mới một bài thơ do vua sáng tác. Vinh dự cho họ Mạc như thế là tột đỉnh theo quan niệm Trung Hoa.

Ngày 8 tháng 9 năm Vĩnh Lạc VI (27/9/1408): Ngày Quý Sửu, thăng Tri phủ Lạng Giang Mạc Thúy chức Hữu Tham chính ty Bố Chính Giao Chỉ, thưởng 50 lạng bạc, 500 quan tiền, lụa nõn các loại 5 tấm. Thăng Phó Thiên hộ vệ Trung Giao Châu Nguyễn Như Ngẫu chức Chỉ huy Thiêm sự, thưởng giống như Thúy. Thăng Tri châu phủ Lạng Giang Mạc Huân chức Hữu Tham nghị ty Bố chính; thăng Chỉ huy Thiêm sự vệ Tả Giao Châu Trần Nhữ Thạch chức Chỉ huy Đồng tri; cùng Tri phủ Tân An Mạc Viễn được thưởng so với Thúy giảm một phần năm.

Bọn Thúy đều là người Giao Chỉ, khi đại quân vào nước họ là người đầu tiên qui thuận, giúp dẹp giặc chiêu dụ dân chúng có thành tích. Tân Thành hầu Trương Phụ do tiện nghi trao chức, đến nay vào triều, luận công lao theo thứ tự mà thăng thưởng. Còn lại bọn Bùi Như Long gồm 24 người đều được phong chức Thiên hộ, Bách hộ, cùng ban sắc tưởng thưởng.

Thiên tử đích thân làm thơ tặng bọn Thúy. (Minh Thực Lục I, 310-311)[15]

Hữu Tham chính là chức vụ hàng thứ 5 thuộc ty Bố Chính. Ông tham dự tiệc tùng nhiều lần cùng với sứ thần các nước.

Ngày 10 tháng 10 năm Vĩnh Lạc VI (28/10/1408) : Ngày Giáp Thân, ban yến cho Hữu Tham chính Giao Chỉ Mạc Thúy, Tham nghị Mạc Huân; sứ thần các nước Chiêm Thành, Bảng Cát quốc, Lạt Cáp, Hỏa Châu; các nơi ở Vân Nam như Xa Lý, Lão Qua, cùng các xứ như Ngõa Lạt. (Minh Thực Lục I, 313-314)[16]

Ba năm sau, vua Minh sai sứ sang Giao Chỉ gia ân thêm cho các bầy tôi Giao Chỉ có thành tích đặc biệt.

Ngày 24 tháng 3 năm Vĩnh Lạc IX (16/4/1411): Hoàng thượng cho rằng bọn Thổ quan Giao Chỉ như Hữu Tham chính Mạc Thúy đều hết sức lập công, tiễu trừ bọn phản tặc, giữ vững lãnh thổ; nên sai người mang sắc đến ủy lạo, ban cho vải vóc và tiền.

Ban cho Mạc Thúy lụa nõn các loại sáu tấm, Hữu Tham nghị Mạc Huân lụa nõn các loại năm tấm, Tri phủ Tam Giang Đỗ Duy Trung, Tri phủ Giao Châu Đỗ Hy Vọng, Tri phủ Trấn Man Nguyễn Hy Cấp, Tri phủ Tân An Mạc Viễn, Tri phủ Thanh Hóa Lương Nhữ Hốt, Thổ quan Chỉ huy Trần Phong, Trần Nhữ Thạch, Đinh Trạch, Vũ Chính lụa nõn các loại bốn tấm. Đồng tri phủ Tuyên Hóa Lương Sĩ Vĩnh, Đồng tri phủ Thái Nguyên Ma Bá Hổ, Dương Cự Lãm lụa nõn các loại ba tấm. Mỗi người được ban thêm một bộ y phục kim ỷ, 1.000 quan bạc giấy. (Minh Thực Lục I, 346)[17]

Nhưng sự nghiệp phục vụ Đại Minh của Mạc Thúy không kéo dài được lâu. Theo Toàn Thư, ông mất trong cuộc hành quân đánh dẹp Nông Văn Lịch, thủ lĩnh nhóm người nói tiếng Thái ở Lạng Sơn, cộng đồng sắc tộc vốn có quan hệ thân hữu từ trước với vua Trần tại Thăng Long.

Ghi chép của Toàn Thư vào cuối năm Trùng Quang IV (1412) : Nông văn Lịch ở Lạng Sơn tụ tập quân lính chiếm giữ đất ấy, chẹn lấp đường đi lại của người Minh, giết bắt vô số. Tham chính Mạc Thúy từng đem quân tiến sâu vào đất ấy, bị trúng tên thuốc độc mà chết. (Toàn Thư II, 248)[18]

Như vậy, Mạc Thúy tử trận khoảng cuối năm 1411 hoặc đầu năm 1412.

Với hỗ trợ của quân Minh, Mạc Thúy trở nên kiêu hãnh và chủ quan. Vị thủ lĩnh miền duyên hải đủ khả năng giúp người Minh dành chiến thắng chớp nhoáng trên sông hay ven biển nhưng không có khả năng đó nơi địa bàn núi rừng. Minh Thực Lục có một dòng nhắc đến cái chết của Mạc Thúy nhân việc Mạc Tung thế tập chức Hữu Tham chính của cha.

Ngày 1 tháng 8 năm Vĩnh Lạc XVI (31/8/1418) : Ngày Mậu Dần, mệnh con trai của Mạc Thúy là Tung tập ấm chức của cha; được ăn lộc nhưng không phải đảm trách công việc. Lúc này Thúy đánh giặc chết trận, nên ban ơn cho con. (Minh Thực Lục II, 56)[19]

Mạc Thúy đã nỗ lực hết sức, kể cả hi sinh mạng sống, để đi hết con đường đã chọn. Đền đáp của người Minh cũng thật vẹn tròn.

Họ Mạc là cự tộc vùng Nam Sách. Khi Mông Cổ nam xâm, hương (?) Bàng Hà thuộc vùng này hàng giặc khiến sau chiến tranh (năm 1289) vua Trần phải xử tội đồ toàn bộ quân dân sở tại. Trai tráng Bàng Hà chỉ được làm lính phục vụ trong trang trại các vương hầu hoặc làm nô tỳ. Tuy vậy, năm 1304 vẫn thấy Mạc Đĩnh Chi quê Bàng Hà đi thi Thái Học sinh, đậu Trạng nguyên và giữ nhiều chức vụ quan trọng dưới đời Trần. Như thế, mệnh vua chỉ nghiêm khắc với thứ dân; với thế gia địa phương, triều đình tránh làm mất lòng họ. Khi người Minh sang, cháu nội Đĩnh Chi là Mạc Thúy dễ dàng huy động hàng vạn quân hỗ trợ Trương Phụ đánh phá nhà Hồ. Chính người của Mạc Thúy bắt sống vua Đại Ngu Hồ Hán Thương. Điều đó cho thấy thế lực họ Mạc, với xu hướng bất tuân chính quyền Tây Đô, không thể xem thường. Nguồn lực ven biển không chỉ phát sinh từ đồng bằng trù mật hay cá muối dồi dào, các luồng di dân Trung Hoa chắc chắn cũng tạo nên nền thương mại phồn thịnh. Hải Dương thời Trần là nguồn cung cấp danh sĩ do là nơi địa đầu tiếp thu văn hóa Tống, cũng là nơi dễ nổi loạn vì tiềm lực kinh tế phong phú của nó. Mạc Thúy dẫn quân truy sát tới cùng dòng tộc Hồ ông không ưa thích, ngang nhiên tuyên bố họ Trần bị tuyệt diệt để người Minh sáp nhập An Nam. Thái độ tự tin cho thấy Mạc Thúy có tài lực và hậu thuẫn, ông hiểu rõ rằng chính người Minh mới là địa chỉ ký thác tài sản tư nhân an toàn nhất. Ông đã chọn phương án tối ưu.

Ngoài bất mãn có thể có vì chính sách hạn điền hạn nô tiến hành bởi nhà Hồ, ở góc cạnh khác, dường như hành động này là phản ứng đề kháng cung cách cai trị mang chất “trại” của họ Hồ để ngả sang văn hóa Hán. Đương thời, văn hóa Minh hẳn khá gần gũi với văn hóa miền biển bắc bộ và bắc trung bộ, là những địa phương Hoa hóa sâu sau khi tiếp nhận các đợt di dân chạy trốn nhà Nguyên, đặc biệt là các di dân nho sĩ người Mân.

Hơn thế kỷ sau, hậu duệ Mạc Đăng Dung lại khuynh đảo một triều đại xuất thân từ Thanh Hóa. Lần này, họ Mạc không phục vụ ai mà tự lập làm hoàng đế. Tính chất “bắc hướng” của tộc Mạc thể hiện rõ ràng khi Đăng Dung trói mình quỳ lạy tướng Minh ở cửa ải đồng thời xác nhận chủ quyền Trung Hoa trên dải đất phên dậu, hành động tủi hổ chưa vị vua phương Nam nào đủ can đảm thực hiện.

Cuối thời Mạc, lúc thất thế trước quân đội Lê Trung Hưng, một lần nữa hoàng gia Mạc lại dựa vào phương Bắc từ đất Cao Bằng.

Chúng ta cần ghi nhận thái độ Toàn Thư thể hiện qua phản ánh hoạt động của Mạc Thúy. Các tác giả Toàn Thư cho rằng nhóm họ Mạc là những người bất đắc chí, tức bất mãn họ Hồ, nên đón hàng quân Minh. Sau đó sách ghi chép hoạt động hỗ trợ quân Minh của Thúy tại vùng Nhật Nam và Diễn Châu. Có vẻ Thúy làm hướng đạo cho người Minh truy đuổi tàn quân Hồ suốt bờ biển Hải Tây. Chính bộ hạ của ông bắt được Hồ Hán Thương và Thái tử Nhuế.

Lê Quý Đôn ghi chi tiết hoạt động hỗ trợ quân Minh rất đắc lực của Mạc Thúy qua Đại Việt thông sử, nhưng cũng cho là họ Mạc bất mãn nhà Hồ.

Hai tác phẩm quan trọng này đều không đề cập sự việc ầm ĩ là Thúy đã huy động hàng nghìn bô lão để xác nhận họ Trần tuyệt tự và yêu cầu nhà Minh lập lại quận huyện như xưa.

Thông tin từ Toàn Thư, Đại Việt thông sử không đủ để đánh giá đúng hành động của quan Tham chính họ Mạc.

(còn tiếp)

 

 

Tài liệu tham khảo, chú thích:

A. Các chi tiết lịch sử đều trích từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả : Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long. Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Toàn Thư – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.

B. Các ghi chép của người Minh đều trích từ bộ Minh Thực Lục, quan hệ Trung quốc – Việt Nam thế kỷ XIV – XVII (bản dịch Hồ Bạch Thảo), Nhà xuất bản Hà Nội (2010). Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Minh Thực lục – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.

(1) Viện Văn học, Thơ văn Lý-Trần tập III, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1978), trang 669-670.

(2) Trần Quốc Vượng không đồng ý phả hệ này. Dựa vào Việt Kiệu Thư của Lý Văn Phượng, cụ Trần cho rằng họ Mạc vốn gốc người Đản Quảng Đông. Tuy nhiên, cụ không giải thích vì sao nếu là người Đản thì không phải hậu duệ Mạc Đĩnh Chi.

(3) Geoff Wade dịch sang tiếng Anh rất thuyết phục và rõ ràng các chức danh thuộc Ty Bố chính. Bố chính sứ, Tả Hữu Bố chính sứ, Tả Hữu Tham chính Ty Bố chính, Tả Hữu Tham nghị Ty Bố chính được dịch lần lượt là Administration Commisioner, Administration Comissioner of the Left/Right, Vice Administration Comissioner of the Left/Right, Assistant Administration Comissioner of the Left/Right. Tham khảo: Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shi-lu : an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Shingapore E-press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/entry/1104, accessed July 02, 2016.

(4) Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí, bản dịch Nguyễn Đức Vân – Kiều Thu Hoạch, Nxb Trẻ (tái bản 2015), trang 429-430.

(5) Ngô gia văn phái, sđd, trang 430.

(6) Xem Đặng Phương Nghi, Vài tài liệu mới lạ về những cuộc Bắc tiến của Nguyễn Huệ, Quang Trung Nguyễn Huệ, Tạp chí Xưa&Nay – Nhà xuất bản Văn Hóa (in lại các bài đăng trong tập san Sử Địa do Nguyễn Nhã chủ biên và chủ bút – 2008), trang 59.

(7) Keith W. Taylor, A History of the Vietnamese, Cambridge University Press (2013), trang 177. Nguyên văn: People in the Red River plain tended to support Ming government. People in the lowlands of the southern provinces of Thanh Hoa and Nghe An were generally responsive to the Ming government as well. But in the foothills and uplands of these southern provinces was an endemic resistance to Ming rule. In other words, following a distinction first reported during Tran times, many Kinh people perceived value in being part of the northern empire, but the Trai people did not. Thus, in the 1420s, after the death of Zhu Di, it was among the Trai population of the southern provinces that active resistance to Ming developed most rapidly, particularly in the lower valleys of the foothills south of Red River and west of coastal plains. The Tran terms Kinh and Trai represented different tendencies on a spectrum of cultural and linguistic practice that in modern time have been perceived as a difference between Vietnamese and various peoples collectively called Muong.

Lát cắt quá rạch ròi của Taylor về sự phân rẽ mang tính vùng miền trong lịch sử Việt Nam thu hút chỉ trích cay đắng từ nhiều người Việt. Tuy nhiên, cần bình tĩnh hơn để xem xét quan niệm đó. Thực tế suốt quãng thời gian cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, vào những thời điểm Đại Việt có chính quyền đủ mạnh, họ chống cả Hán lẫn Chiêm. Nhưng những lúc trung ương suy sụp, Từ Nghệ An vào nam ngả về Chiêm trong khi đồng bằng Bắc bộ có xu hướng quy phục Hán. Các cộng đồng Đại Việt không chỉ ngả về bên này hay bên kia, họ còn dựa vào sức mạnh bên ngoài để cướp và giết nhau không nương tay. Đó là sự thực vào đời Trần mạt, Hồ và Minh thuộc.

(8) Trái ngược với ý kiến của đa số học giả Việt Nam, nhà nghiên cứu Nhật Bản Minoru Katakura hoài nghi về tính tập quyền dựa trên luật pháp của thiết chế chính trị triều Lý. Sakurai Yumio thậm chí cho rằng việc phân chia Đại Cồ Việt thành 24 lộ là sáng tạo của sử gia đời Lê. Năm 2013, Momoki Shiro đề xuất lập luận rằng chính quyền Lý ban đầu mang tính địa phương, sau đó mới dần phát triển sang các khu vực khác. Shiro chứng minh “lộ” là một đơn vị giám sát mang tính chất quân sự, tư pháp và tài chính bao trùm các đơn vị hành chính như phủ, châu; theo ông, việc phát triển quá mức quyền lực ra khỏi vùng trung tâm là một trong những nguyên nhân khiến chính quyền Lý suy yếu và sụp đổ.

(9) Con số này rất đáng ngờ. Đại Việt sử lược chép là 5 ngàn. Xem: Khuyết danh, Đại Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường 1972, Nxb TPHCM (1993), bản điện tử của nhóm Công Đệ – Lê Bắc, trang 20.

(10) Nam Chiếu đánh An Nam với sự ủng hộ của các thủ lĩnh bản địa như gia tộc họ Đỗ ở châu Ái, Lý Do Độc ở châu Phong. Đặc biệt có tù trưởng thân thiết với tướng Nam Chiếu Đoàn Tù Thiên tên Chu Cổ Đạo. Ông này cùng chết với Tù Thiên khi Cao Biền tái chiếm châu thành. Như vậy, đối tượng tàn sát của Nam Chiếu không thể là khối dân còn theo văn hóa Lạc rất gần gũi với các tộc nói tiếng Kra-Dai. Cuộc “thanh lọc sắc tộc” của họ chủ yếu nhắm vào binh lính, quan chức và các chủ đất ở hai châu Phong và Giao. Nếu quan lại, quân chính quy đa số là người Đường thì tập hợp chủ đất lớn nhỏ quanh phủ trị lại là các gia đình Hán-Việt. Nam Chiếu quét sạch 150.000 người thuộc Phong và Giao châu mở đường cho tộc Thái trồng trọt trên các mảnh đất vừa chiếm được như chúng ta đã thấy. Cuộc phản công kèm theo giết chóc quyết liệt không phân biệt quân dân của Cao Biền một lần nữa tạo nên khoảng trống nhân lực tại trung châu. Biền cất nhà và khai thông thủy lộ hẳn đều hướng đến việc khuyến khích cư dân phía Bắc đến định cư tại Giao Chỉ. Sức mạnh sa sút của phủ Đô hộ cũ phơi bày khi họ Khúc ở Hồng châu (nay thuộc Hải Dương), Lý Tiến từ Nam Hán (Quảng Đông nay), Dương Diên Nghệ từ châu Ái thay phiên nhau tiến chiếm phủ thành dễ dàng. Nhiều khả năng, một số binh lính và dân thường theo chân 3 nhà lãnh đạo trên đã ở lại sinh sống tại trung tâm đồng bằng đã trở thành thưa vắng khi đó. Ngoài nguồn nhân lực tự nhiên tràn xuống từ miền cao điền khuyết không gian trống trải, nguồn bổ sung nhân lực tinh hoa đáng kể có thể là người Mân khi vương quốc Mân sụp đổ vào năm 945 và người Quảng khi vương quốc Nam Hán bị sáp nhập vào đế quốc Tống năm 971. Tập họp các thành phần dân cư nêu trên là cơ sở để hình thành người “kinh” khi Lý Thái tổ dời đô ra Thăng Long.

(11) Xem Nguyễn Danh Phiệt, Nhà Đinh dẹp loạn và dựng nước, Nxb Khoa học Xã hội (1990), trang 32-37.

(12) Xem Tạ Chí Đại Trường (2010), Có một nguyên nhân dời đô khác?, http://www.talawas.org/?p=23999.

(13) Theo tục “coong trình” của người Dao đỏ, phụ nữ có quyền ăn nằm với đàn ông nào họ thích. Hành động đó không bị xem là vi phạm đạo đức vì tộc Dao đỏ tin rằng sau khi qua đời phụ nữ cần có nhiều đàn ông đỡ đần để họ trải qua kiếp ma. Cũng có thể đó chỉ là phản ứng bản năng để cải tạo nòi giống của những người sống trong cộng đồng cách biệt, chịu nhiều hậu quả từ hôn nhân cận huyết.

(14) Khuyết danh, Đại Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường 1972, Nxb TPHCM (1993), bản điện tử của nhóm Công Đệ – Lê Bắc, trang 95.

(15) Nghiên cứu của Nguyễn Tài Cẩn về cách đọc Hán Việt cho phép suy luận sự hình thành chữ Nôm như một hệ thống văn tự xảy ra sớm nhất là vào đầu thế kỷ XI. Thời điểm này gần như trùng hợp với khởi điểm hình thành thứ tiếng tiền thân tiếng Việt hiện đại giả thiết bởi John Duong Phan. Phan cho rằng ngôn ngữ mới ra đời là do cộng đồng người nói loại tiếng Hán địa phương (Annamese Middle Chinese) chuyển sang nói tiếng Tiền Việt Mường. Tác động của quá trình chuyển đổi khiến tiếng Tiền Việt Mường biến thành tiếng Tiền Việt Mường lai, có nhiều phương ngữ. Một trong số phương ngữ đó sẽ biến chuyển qua nhiều thế hệ để trở thành ngôn ngữ mới đặc sắc là tiếng Việt. Như vậy, theo lập luận của Phan, có thể nói rằng chủ thể ban đầu tạo ra tiếng Việt, kiêm tác giả chữ Nôm, là những người Hán bản địa hóa chứ không phải người Việt Hán hóa. Toàn bộ đoán định trên phù hợp với diễn tiến lịch sử khi Lý Công Uẩn cùng nhóm công khanh người Mân chiếm quyền cai trị Đại Cồ Việt (năm 1009). Trước đó, các “kỳ nhân” bản địa như Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn hẳn không có ý định tự thay đổi tiếng nói của mình. Điều này có thể dẫn đến trở ngại là chính quyền trung ương, ngoài văn ngôn Hán, còn dùng một thứ ngôn ngữ giàu tính địa phương mà không phải bất kỳ cộng đồng nào trong khu vực Đại Cồ Việt đều hiểu. Nếu dưới thời đô hộ, tiếng và chữ Hán là bắt buộc thì thời đầu tự chủ, Đại Cồ Việt thiếu ngôn ngữ bản địa chính thức mang lại sự nhất thống. Phải khẳng định rằng tập đoàn họ Lý có ý thức mạnh mẽ về một vương quốc phương Nam tách biệt khỏi Trung Hoa, tương tự vương quốc Mân của tổ tiên họ. Lý Thái tổ che dấu gốc Phúc Kiến và dĩ nhiên không thể sử dụng bất kỳ loại tiếng Hán nào trong triều đình. Có thể nhu cầu dùng chuyển ngữ phi Hán đã khiến nhóm cầm quyền ngả sang tiếng Tiền Việt Mường. Thứ tiếng này phát triển chậm chạp dưới thời Lý để rồi có bước nhảy vọt khi họ Trần mang vùng ven biển Bắc bộ hòa nhập mạnh vào văn minh Đại Việt. Những tác giả Nôm đầu tiên được lịch sử ghi nhận đều là trí thức duyên hải. Tuy nhiên, ngôn ngữ mới chỉ thực sự mang tính phổ quát khi Hồ Quý Ly/Lê Lợi nối kết vùng trại vào không gian Thăng Long đồng thời gia tăng chất bản địa trong lòng văn hóa Đại Việt cũ.

(16) Xem Li Tana (2014), Towards an environmental history of the eastern Red River Delta, Vietnam, c. 900-1400, Journal of Southeast Asian Studies, 45, trang 315-337 doi : 10.1017/S0022463414000319

(17) Theo thống kê dân số tháng 4 năm 2009, tỉ lệ người kinh và người các tộc khác trong toàn vùng từ đèo Hải Vân trở ra là 81.56/18.44.

Tỉ lệ này chỉ để tham khảo vì khái niệm “kinh” hiện đại không trùng khớp khái niệm “kinh” thời Lý Trần hay thời Lê sơ, địa bàn từ Thừa Thiên – Huế đến biên giới Trung quốc hiện nay cũng không trùng khít với khu vực từ Thuận Hóa đến biên giới Tống Nguyên Minh thời đó.

(18) Trần Nghĩa, Một bức “ký họa” về xã hội nước ta thời Trần : Bài thơ “An Nam tức sự” của Trần Phu, Tạp chí Văn học 1 (1972), trang 112-113.

(19) Xem Trần Nguyên Đán, Đề Quan lỗ bạ thi tập hậu, Thơ văn Lý-Trần tập III, Nxb Khoa học Xã hội (Hà Nội 1978), trang 196.

____


[1]Nguyên văn: 安南陪臣裴伯耆來告急奏曰臣世事安南陳氏祖父皆為執政大夫死于國事臣母實陳氏近族故臣自少侍國王受爵五品後隸武節侯陳渴真為裨將洪武三十二年代渴真領兵出東海御倭奸臣黎季犛父子弒主篡位屠害忠臣滅族者以百十數臣兄弟妻子亦被收戮遣人捕臣欲加葅醢臣聞事變棄運遁逃轉入山林深居窮僻與蠻獠猿狖雜處耿耿忠誠鬱抑無告近聞皇上入登大寶統正萬方思欲瀝膽披肝請滅此賊履險乘危得至境上與商人負任抵冒而出今年四月始到思明官司接送幸覷天日臣切惟奸臣黎季犛乃故經略使黎國耆之子世事陳氏叨竊寵榮及其子蒼亦忝貴仕一旦得志遂成弒奪改姓名胡一元子曰胡僭號攺元不恭朝命肆虐下民百姓銜冤呼天叩地忠臣良士疾首痛心臣義激於中妄干天聽願廣一視之仁哀無辜之眾興吊伐之師隆繼絕之義臣得負弩矢前進導揚天威忠義之徒必當雲合嚮應禽滅此賊蕩除奸兇複立陳氏子孫使主此土則區區遠夷仰戴聖德恭修職貢永作外藩臣不才竊效申包胥為人敢以死罪請伏望陛下哀矜上憫之命有司給衣食 (Minh Thực Lục I, 549-550). Nhận xét: chữ Đê, tên tự xưng của Hồ Hán Thương trước vua nhà Minh không có chữ Hán chuẩn tương ứng.

[2]Nguyên văn: 安南賀正旦使者既至 上命禮部出陳天平示之使者識其故王孫也皆錯愕下拜者感泣者而裴伯耆亦責使者以大皆惶恐不能對 上聞之謂侍臣曰安南胡 云陳氏已絕敍為其甥權理國事請襲王封朕固疑之及下詢其陪臣父老皆曰然朕謂陳氏以壻得國今以甥繼之於理亦可乃下詔封之孰知其弒主篡位僭號改元暴虐國人攻奪隣境此天地鬼神所不容也而其臣民共為欺蔽是一國皆罪人也如何可(Minh Thực Lục I, 556-557)

[3]Nguyên văn : 賜安南歸附人裴伯耆冠帶 命隨大軍南征 (Minh Thực Lục I, 589)

[4] Nguyên văn : 莫迪莫邃莫遠及阮勛冒姓莫者皆不得志迎降於明明並授以官後邃至參政迪指揮使遠盐運使勛布政使 邃迪遠莫挺之之孫也 (Toàn Thư IV, 274)

[5]Nguyên văn: 偽僉判鄧原原諒江府南策州人莫邃莫遠等來見言賊恃偽東西都及宣江洮江沲江富良江以為固乃自三江府沲江南岸傘圓山循富良江南岸東下至寧江又于富良江北岸循海潮江希江麻牢江至盤灘困枚山緣江樹柵多邦隘增築土城城柵相連亘九百餘里盡發江北諸府州民二百餘萬守之驅老幼婦女以助聲勢又于富良江南岸緣江置樁盡取國中船艦列于樁諸江海口俱下桿木以防攻擊賊之東都守備亦嚴時列象陣步隊于城柵賊眾水陸號七百萬 (Minh Thực Lục I, 632-633). Nhận xét: bản dịch in thiếu chữ Nguyên trong tên Đặng Nguyên Nguyên.

[6]Lê Quí Đôn: Lúc ấy quân họ Hồ đóng giữ phía Bắc sông Phú Lương, tướng nhà Minh là Trương Phụ không biết hư thực thế nào, nên không dám qua sông. Thúy bèn từ phủ Nam Sách cùng với Tri châu Tam Đái là Đặng Nguyên, vẽ bản đồ địa hình (tờ 176b) xin làm hướng đạo, dẫn quân Trương Phụ qua sông đánh úp phá thành Đông Kinh; Thúy lại sai thủ hạ là bọn đầu mục Nguyễn Như Khanh bắt Hán Thương ở núi Cao Vọng. Người Minh thưởng công, phong cho Thúy chức Tham chính ở Ty Bố chính Giao Chỉ, phong cho Địch chức Chỉ huy sứ, cho Viễn chức Diêm thiết sứ. Sau Thúy dẫn quân vào Lạng Sơn đánh Nông Văn Lịch, bị trúng tên độc chết. (Đại Việt thông sử, Nxb Văn hóa – Thông tỉn 1976/2013, trang 247, 248)

[7]Nguyên văn: 征討安南左參政豐城侯李彬右參將雲南伯陳旭率師擊黎賊西都賊聞多邦城陷焚西都宮室倉庫逃入海賊黨有依天健山等處而以兵由生厥江潭舍江犯官軍者總兵官新城侯張輔遣都督黃中等屢敗之於是三江路宣江洮江等州縣次第詣軍門降 (Minh Thực Lục I, 645)

[8]Ngay sau đó Toàn Thư cho biết nhiều quân nhân, đinh nam ở Kinh lộ oán giận vì bị người Minh sai khiến đến ly tán gia đình nên lại đến gia nhập quân Hồ. Hai ghi chép tưởng như mâu thuẫn nhưng không phải. Điều này chỉ cho thấy tầng lớp tinh hoa ở đồng bằng sông Hồng ủng hộ người Minh khiến đông đảo bình dân lệ thuộc vào họ phải tuân phục ý chủ, nhưng vẫn tồn tại một số người tầng lớp dưới duy trì ý thức kháng cự. Đây chính là “manh lệ 氓隸” mà Lê Lợi nhắc đến trong Bình Ngô đại cáo.

[9]Nguyên văn: 是日征討安南總兵官征夷將軍新城侯張輔調清遠伯王友左副將軍西平侯沐晟調都指揮柳琮等合兵討賊自注江濟軍襲籌江柵破之又攻困枚山萬劫江並賴山斬賊首三萬七千三百九十級獲偽團副丁部曲殺之餘黨潰散賊將胡杜聚船於盤灘江輔因南策州土人隊正陳封來降使擊杜敗之杜走悶海口盡得其船仍使封招撫諒江東潮等處人民使皆安業於是郡益聞風相繼降士民上書論黎賊過惡者日以百計 (Minh Thực Lục I, 646)

[10]Nguyên văn: 是日征討安南總兵官新城侯張輔左副將軍西平侯沐晟等敗黎賊於木丸江先是輔得諜報賊舟往來富良江距交州下流二十餘里又言季氂及其子澄等聚船於黃江等處遂領軍次木丸江晟及參將豐城侯李彬率步騎戰舡由富良江進次魯江黎賊以舡五百餘艘犯我軍輔等水陸並進都督柳升等奮擊賊舟膠淺遂大敗獲賊船十餘艘殺賊將阮仁子阮磊阮劣斬首萬餘級生擒賊將黃世岡彤文傑馮宗實莫鉄範鞋阮利等百餘人皆斬之溺死者不可勝計時南策州人莫邃等素憤黎賊率土兵萬人從征屢效勞績焉 (Minh Thực Lục I, 648-649)

[11]Nguyên văn: 伏蒙給榜遍諭國中宣布 聖天子德意令官複原職軍複原伍民複原業訪求陳氏子孫嫡而賢者一人為之奏請複其王爵以主國人謹分詣諸處宣布撫諭官吏軍民安業如故惟陳氏子孫向被黎賊殲夷已盡無有遺類莫可繼承安南本古中國之地其後淪棄溺于夷俗不聞禮義之教幸遇聖朝掃除兇孽軍民老稚得睹中華衣冠之晟不勝慶幸咸賴複古郡縣庶幾漸革夷風永沾聖化邃謹同耆老人等具表文一通請獻于朝以達下民之情總兵官新城侯張輔等亦以為黎民父子旦夕就誅而諸府縣皆已平定宜有所統以撫治其民即日遣人馳上奏之 (Minh Thực Lục I, 653-654)

[12]Nguyên văn: 乙丑安南土人武如卿等於永盎海口望高山獲偽大虞國王黎倉偽太子黎芮及黎賊子孫弟侄偽梁國王黎激等並賊將偽柱國東山鄉侯胡杜等安南平(Minh Thực Lục I, 661)

[13] Nguyên văn : 交址諒江府土官知府莫邃等來朝貢方物賜賚有差(Minh Thực Lục I, 748)

[14] Nguyên văn: 癸卯賜浡泥國王麻那惹加那乃及于闐東洋等處使臣交址諒江府知府莫邃等宴 (Minh Thực Lục I, 781)Nhận xét : chữ còn có thể phát âm là “nặc”

[15]Nguyên văn:癸丑陞交址諒江府知府莫邃為交址布政司右參政賞白金五十兩五百貫綵州中衛副千戶阮如偶陞指揮僉事如邃諒江府莫勛為布政司右參議州左衛指揮僉事陳汝石指揮同及新安府知府莫遠其賞皆視邃减之一

交址土人大軍及境先歸順賊撫民預有勞績總兵官新城侯張輔以使宜校職至是來朝…論以其功之餘裴如隆等二十四皆除各衛戶賜勑嘉奬上親製詩 (Minh Thực Lục I, 782-783)

[16] Nguyên văn:甲申賜交趾右參政莫邃參議莫勛占城國搒葛國剌哈火州雲南車里老撾及瓦剌等處使臣宴 (Minh Thực Lục I, 789)

[17]Nguyên văn:上以交址土官右參政莫邃等皆能竭力建功剿戮叛賊固守境土遣人齎敕往勞賜之彩幣莫邃六表裏右參議莫勛五表裏三江府知府杜維忠交州府知府杜希望鎮蠻府知府阮希伋新安府知府莫遠清化府知府梁汝笏土官指揮陳封陳汝石丁宅武正四表裏宣化府同知梁仕永太原府同知麻伯虎楊巨覽三表裏人各織金綺衣一襲鈔千貫 (Minh Thực Lục I, 877-878)

[18]Nguyên văn: 諒山農文歷聚兵據其地扼塞明人徃來之路殺獲無筭參政莫邃常領兵深入中毒箭死 (Toàn Thư IV, 285)

[19]Nguyên văn: 戊寅朔 命交址布政司右參政莫邃男嵩襲父職食祿而不任事時邃與賊戰死故推恩其子云 (Minh Thực Lục II, 378)

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch