Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Văn hóa Email bài này

Nguyễn Phi Khanh- Nhà Nho Khoáng Dật, Sầu Muộn, và Lỡ Thời

0 bình luận ♦ 7.04.2017

TÂM TRẠNG LẠC QUAN DƯỚI THỜI HỒ

Năm 1401, Hồ Quý Ly soán ngôi họ Trần và sắp xếp lại hệ thống quan chức. Thời điểm này, Ông đổi tên thành Phi Khanh. Tâm trạng chờ đợi đổi đời theo hướng khởi sắc phản ánh rõ ràng trong bài thơ sau

賀中書侍郎

虞庭庶事務熙康,
績典惟公合陟揚。
人望夔龍參玉鉉,
天教星鳳展彝章。
曲江夙負經綸學,
司馬寧辭四六長。
聖世倘懷遺棄物,
願施栽藻到農桑。

Hạ Trung Thư Thị lang

Ngu đình thứ sự vụ hy khang,
Tích điển duy công hợp trắc dương.
Nhân vọng Quì (a) Long (b) tham ngọc huyễn,
Thiên giao Tinh (c) Phượng (d) triển di chương.
Khúc Giang (e) túc phụ kinh luân học.
Tư Mã (f) ninh từ tứ lục trường.
Thánh thế thảng hoài di khí vật.
Nguyện thi tài tảo đáo nông tang.

(a) Quỳ: là nhạc quan, chịu trách nhiệm giáo hóa dưới đời vua Thuấn.

(b) Long: cùng thời với ông Quỳ, có nhiệm vụ xem xét lời bàn bạc của triều thần.

(c)Tinh: tên một vì sao thuộc “nhị thập bát tú”, tương ứng với con ngựa. Sao Tinh mang ý nghĩa tốt cho việc xây dựng.

(d) Phượng: loài chim huyền thoại báo hiệu bậc đế vương xuất hiện.

(e) Khúc Giang: tức Trương Cửu Linh (678 – 740), văn gia, danh thần đời Đường. Ông là người mở rộng đường đèo qua Dữu Lĩnh.

(f) Tư Mã: tức Tư Mã Tương Như, tên thật là Mã Trường Khanh (179 TCN – 117 TCN). Ông nổi tiếng về tài văn và tài đàn.

Mừng quan Thị lang tòa Trung Thư

Việc triều đình nhà Ngu đều chuyên chú vào chấn hưng và ổn định,
Xây dựng chuẩn tắc chỉ mình ông là xứng đáng.
Mọi người đều mong bậc Quỳ, Long được bổ vào vị trí tam công,
Trời giao sao Tinh, chim Phượng mở mang qui phạm.
Khúc Giang nổi tiếng từ lâu về cái học tế thế kinh bang,
Tư Mã lẽ nào từ chối sở trường văn tứ lục !
Đời vua thánh, nếu kẻ bỏ đi này được chiếu cố,
Sẽ nguyện đem tài văn khiêm tốn đến tận xóm làng.

Bài thơ ngầm so sánh việc phân công các đại thần đời Hồ với việc bổ nhiệm các chức quan bởi vua Thuấn. Phi Khanh đồng nhất Đại Ngu với Ngu Thuấn, triều đại thịnh trị lý tưởng của nho gia.

Tân Hoàng đế đã chọn vị trí thích hợp hơn cho thư sinh Phi Khanh: chức Hàn lâm Học sĩ.

Trong thi phẩm “Họa Chu Hàn lâm Vị Ương tảo triều”, Họa bài ‘Vị Ương tảo triều’ của quan Hàn lâm họ Chu, Phi Khanh kín đáo thể hiện một tâm tình khác. Ông không còn chê công việc nhỏ nhặt, bản thân phải thực hiện một cách miễn cưỡng, trái lại, thầm nguyện nỗ lực để chu toàn công việc của vị quan nay đã được mặc áo bào đẹp.

和朱翰林未央早朝

高閣纔開夜漏乾,
九天宮闕悄輕寒
雲開瑞日乾坤曉,
春布皇仁雨露寬
董賈彬彬揚殿陛,
夔龍楚楚集朝端

華袍忝綴群公後,
願罄涓埃效一官。

Họa Chu Hàn lâm Vị Ương (a) tảo triều

Cao các tài khai dạ lậu can,
Cửu thiên cung khuyết tiễu khinh hàn.
Vân khai thuỵ nhật càn khôn hiểu,
Xuân bố hoàng nhân vũ lộ khoan.
Đổng (b), Giả (c) bân bân dương điện bệ,
Quì (d), Long (e) sở sở tập triều đoan.

Hoa bào thiểm chuế quần công hậu,
Nguyện khánh quyên ai hiệu nhất quan.

(a) Vị Ương: tên tiền điện trong hệ thống cung thất thời Tây Hán tại Trường Yên.

(b) Đổng: Đổng Trọng Thư (180 TCN – 105 TCN), danh nho thời Tây Hán, chủ trương nho thuật độc tôn. Ông đưa ra khái niệm “Thiên nhân hợp nhất” và “Dương tôn âm ty”.

(c) Giả: Giả Nghị (201 TCN – 169 TCN), danh thần đời Tây Hán, có đầu óc cấp tiến. Do lời dèm pha ông bị biếm ra đất Trường Sa và mất ở đó.

(d) Quỳ: là nhạc quan, chịu trách nhiệm giáo hóa dưới đời vua Thuấn.

(e) Long: cùng thời với ông Quỳ, có nhiệm vụ xem xét lời bàn bạc của triều thần.

Họa bài “Vị Ương tảo triều” của quan Hàn Lâm họ Chu

Đồng hồ qua đêm đã cạn, gác cao vừa mở,
Cung khuyết trên chín tầng mây lặng lẽ trong tiết trời gợn lạnh.
Ngày lành, màn mây khai vén bầu trời hừng sáng,
Lòng nhân của vua như mưa móc mùa xuân bao trùm.
Họ Đổng, họ Giả phong nhã được tuyên dương trên thềm điện,
Ông Quỳ, ông Long rỡ ràng hội tụ nơi đầu mối triều đình.

Thẹn mặc áo bào đẹp đứng nối sau lưng các ngài,

Nguyện mang hết tài hèn để chu toàn phận sự chức quan này.

Đây có thể là buổi chầu của các quan chức cao cấp mới được bổ nhiệm sau khi họ Hồ lập nước Đại Ngu. Địa điểm thiết triều là Tây đô, Thanh Hóa.

Năm 1402, Hồ Hán Thương cử binh chống Chiêm Thành, An Phủ sứ lộ Đông đô Nguyễn Bằng Cử được chỉ định chức Đồng Chiêu dụ sứ. Phi Khanh tiễn Nguyễn công bằng bài thơ lạc quan sau:

送京師尹阮公為行營招討使

釜中占賊久逋誅,
四海人神怨憤俱。
誰卜百年遺此虜,
公煩寸舌討狂胡。
金戈鐵馬鯨猊沒,
羽檄星麾象兕驅。
指日皇風清絕域,
大功出任屬吾儒。

Tống Kinh sư Doãn Nguyễn công vi

Hành doanh Chiêu thảo sứ

Phủ trung Chiêm tặc cửu bô tru,
Tứ hải nhân thần oán phẫn câu.
Thuỳ bốc bách niên di thử lỗ,
Công phiền thốn thiệt thảo cuồng hồ.
Kim qua thiết mã kình nghê một,
Vũ hịch tinh huy tượng hủy khu.
Chỉ nhật hoàng phong thanh tuyệt vực,
Đại công xúy nhiệm thuộc ngô nho.

Tiễn Kinh sư Doãn Nguyễn công nhậm chức Hành doanh Chiêu thảo sứ

Giặc Chiêm trốn tội chết đã lâu nay chỉ như cá trong chảo,
Thần, người bốn biển đều căm oán.
Không ngờ bọn giặc này còn sót lại sau cả trăm năm,
Cảm phiền Ông dùng tấc lưỡi sửa trị lũ man di ngông cuồng.
Giáo vàng ngựa sắt tiêu diệt cá kình cá nghê,
Hịch lông cờ sao xua đuổi voi và trâu rừng.
Mong đến ngày gió lành quét sạch cõi xa xôi hẻo lánh,
Gánh vác sự nghiệp to lớn là nhiệm vụ nhà nho chúng ta.

Ông tiếp tục truyền thống khinh miệt văn hóa phi-Hoa của nho sĩ Đại Việt, những người vốn là học trò tận tụy của nền văn minh phương Bắc. Tuy nhiên, vì nhiều lý do, đồ đệ phương Nam chỉ đủ sức tiếp thu phần thấp của Nho học. Xem các nền văn hóa khác Hán là man di, tức ý tưởng phân biệt Hoa-Di, chính là phần cặn bã của Nho giáo nói riêng, của văn minh Tàu nói chung. So với tâm thức Phật giáo của vua Nhân Tông đầu đời Trần, vốn xem mọi sinh linh có tính Phật như nhau, nên đã gả Huyền Trân cho Chế Mân để gầy dựng một liên minh phòng vệ trước đế quốc Mông Cổ quá hùng mạnh, nhận thức chính trị của tầng lớp biết chữ tại châu thổ sông Hồng cuối Trần đầu Hồ có bước lùi đáng kể. Chính nho gia góp phần tạo ngăn cách giữa Chiêm và Việt, làm suy yếu cả hai dân tộc, tự mình biến thành mồi ngon trước Đại Minh đang bước vào giai đoạn toàn thịnh. Giữa vai trò nước mạnh có tiềm năng liên kết, dẫn đạo các vương quốc biển Nam và vai trò môn đệ yếu đuối của Hoa Hạ, đáng tiếc tầng lớp tinh hoa Việt dứt khoát chọn vế thứ hai, sau một thế kỷ phân vân của các vua Trần. Thay vì kiêu hãnh đối diện Trung Hoa, Đại Việt trong nhiều giai đoạn chỉ là bóng mờ nép vào vùng ngoại biên đại đế quốc.

Có thể hình ảnh Thăng Long tả tơi dưới gót chân Chế Bồng Nga chưa phai nhạt trong ký ức Phi Khanh. So với lời lẽ hung hãn kích động khi tiễn sứ đi Chiêm Thành, câu văn dành cho quan lại đối diện Trung Nguyên nằm ở thái cực khác: mềm mỏng và thanh tao.

賀京兆尹阮公

為雲屯經略使

芝綍優頒自九天,
榮遷經略使司權。
潮門半是嗷鴻澤,
屯嶺猶殘劫石煙。
籌劃小施經國手,
折衝終賴濟時賢。
歸來揆路庸何晚,
聖主方今急在邊。

Hạ Kinh Triệu doãn Nguyễn Công

vi Vân Đồn Kinh lược sứ

Chi phất ưu ban tự cửu thiên,
Vinh thiên Kinh lược sứ ty quyền.
Triều môn bán thị ngao hồng trạch,
Đồn lĩnh do tàn kiếp đạn yên.
Trù hoạch tiểu thi kinh quốc thủ,
Chiết xung chung lại tế thời hiền.
Qui lai quĩ lộ dung hà vãn,
Thánh chúa phương kim cấp tại biên.

Mừng ông Nguyễn, quan Triệu doãn Kinh đô

nhận chức Kinh lược sứ Vân Đồn

Chiếu chỉ ưu đãi từ chín tầng trời ban xuống,
(Ông) Được vinh dự chuyển giao quyền Kinh lược sứ.
Cửa biển nửa phần đã thành đầm ao nháo nhác chim hồng,
Núi Đồn hãy còn bị tàn hại bởi khói đạn giặc cướp.
Tính toán bàn định ra tay sửa sang việc nước,
Nơi xung yếu rốt cục phải nhờ bậc tài năng cứu đời.
Đường trở về văn chức vẫn chưa muộn,
Hiện nay vua thánh cần ông gấp tại biên cương.

Giữa năm 1402, Nguyễn Bằng Cử “chiêu thảo” thành công ở Chiêm Thành. Có lẽ nhờ thành tích đó, triều đình tiếp tục điều cụ Nguyễn giải quyết nạn cướp biển ở Vân Đồn. Chính năm 1402 này, Yên Vương Chu Đệ (Minh Thành Tổ) đã vào Nam Kinh truất ngôi vua của cháu ruột Chu Doãn Văn (Kiến Văn đế) đồng thời tiến hành giết chóc những người bất phục. Một số phần tử trung thành với vua cũ đã chạy ra hướng đại dương. Minh Thực Lục có ghi nhận (vào ngày 4/10/1402) một số quân nhân, dân thường, lưu manh ở nội địa đã phối hợp với các sắc dân phi Hoa chiếm đóng các đảo ngoài biển hành nghề trộm cướp. Có thể Vân Đồn bị đốt phá trong thời gian này. Vua mới Chu Đệ kêu gọi các sắc dân phiên trở về quê quán, người Hoa trốn lánh thì được tha tội để quay lại chức nghiệp cũ. Có vẻ Bằng Cử đại diện họ Hồ để hợp tác với người Minh giải quyết vụ rối loạn trên biên giới biển.

Ta thấy Ông hãnh diện với chức vụ trong viện Hàn Lâm, nơi thảo chiếu chỉ. Chưa bao giờ Ông tự tin đến vậy. Ngày nào không dám bàn việc ở “miếu đường”, nay Ông sẵn sàng “ưu quốc”. Mặc cảm nhỏ bé tự ti hoàn toàn tan biến.

喜學士陳若虛自乂安至

桃花浪泛暖青春,
湖海風流卻羡陳。
老我一官閒草詔,
壯君萬里遠辭親。
暮雲自豁相思地,
夜月欣逢久別人。
懮國正須吾輩事,
憑渠為說乂安民。

Hỉ học sĩ Trần Nhược Hư tự Nghệ An chí

Đào hoa lãng phiếm noãn thanh xuân.
Hồ hải phong lưu khước tiễn Trần.
Lão ngã nhất quan nhàn thảo chiếu,
Tráng quân vạn lý viễn từ thân.
Mộ vân tự khoát tương tư địa,
Dạ nguyệt hân phùng cửu biệt nhân.
Ưu quốc chính tu ngô bối sự,
Bằng cừ vị thuyết Nghệ An dân.

Mừng Học sĩ Trần Nhược Hư đến từ Nghệ An

Chàng tuổi trẻ nồng nhiệt vượt sóng hoa đào đến đây,
(Lòng) rất hâm mộ họ Trần, khách phong lưu nơi hồ hải.
Ta già rồi, giữ chức quan nhàn thảo chiếu,
Anh mạnh thay, từ biệt song thân đi vạn dặm.
Trên vùng đất mong nhớ nhau, mây chiều tự tiêu tán.
(Hé lộ) vầng trăng đêm hân hoan vì gặp lại người xa cách đã lâu,.
Ưu tư việc nước chính là nhiệm vụ của tầng lớp chúng ta,
Xin nhờ người nhắn với dân Nghệ An điều đó.

Chú ngựa Ứng Long quên phắt việc tìm thoát buộc ràng vì thiếu cỏ. Ông khẳng định mạnh mẽ, nhiều lần rằng kinh bang tế thế là sự nghiệp của chính Ông và đồng đạo.

Tưởng cuộc đời sang trang khác, không may, quân Minh kéo đến vào năm 1406. Dăm năm làm quan ngắn ngủi, chưa thi thố được gì thì chiến tranh thay đổi mọi thứ tận gốc rễ.

NGUYỄN PHI KHANH ĐẦU HÀNG GIẶC MINH

Toàn thư ghi nhận ngắn gọn về hành vi của Phi Khanh khi quân Đại Ngu tan vỡ tại trận Hàm Tử vào năm 1407 như sau:

“Bọn Hồ Đỗ, Phạm Lục Tài, Nguyễn Ngạn Quang, Đoàn Bồng đều bị bắt. Còn bọn Trần Nhật Chiêu, Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Cẩn, Đỗ Mãn đều đã đầu hàng từ trước.” (Toàn Thư II, 233)(a)

(a) Nguyên văn: 胡杜范六材阮彦光段…皆被擒其餘陳日昭阮飛卿阮謹杜

以先降 (Toàn Thư IV, 276)

Hồ Đỗ Phạm Lục Tài Nguyễn Ngạn Quang Đoàn… giai bị cầm kỳ dư Trần Nhật Chiêu Nguyễn Phi Khanh Nguyễn Cẩn Đỗ Mãn tịnh dĩ tiên hàng.

Ngoài ghi nhận anh hùng Hy Chu bị bắt sau đó bị hành hình vì chưởi mắng giặc, các trung thần Kiều Biểu và Ngô Miễn cùng phu nhân tuẫn tiết; chính sử Đại Việt phân thành hai nhóm quan tướng nữa, rất rõ ràng: nhóm Đỗ, Tài, Quang, Bồng chống đến cùng cho đến sa cơ; nhóm Chiêu, Khanh, Cẩn, Mãn đầu hàng từ trước. Toàn Thư thể hiện minh bạch tinh thần “bao biếm” thông qua cách ghi chép.

Cho rằng Phi Khanh chống Minh bị bắt chứ không phải đầu hàng sẽ khiến tiểu sử Nguyễn Trãi trở nên mơ hồ trong quãng thời gian mà chính Ức Trai gọi là “thập niên phiêu chuyển”.

Thử xét cái nhìn từ phía đối diện. Minh Thực Lục, sau khi miêu tả trận đánh quyết định tại Hàm Tử vào ngày 4 tháng 5 năm 1407 với chiến công bắt sống Nguyễn Hy Chu, giết Hồ Xạ cùng hàng vạn quân Đại Ngu, đã thông báo cha con họ Hồ thoát thân trên vài chiếc thuyền nhỏ. Về những người đầu hàng, Minh Thực Lục cho biết như sau:

“Lại bộ Thượng thư Phạm Nguyên Lãm, Đại lý Tự khanh Nguyễn Phi Khanh, Thiên Vệ Tướng quân Trần Nhật Chiêu, Hoa Ngạch tướng quân Lê Uy của ngụy đều đến đầu hàng Trương Phụ.” (Minh Thực Lục I, 252)(a)

(a) Nguyên văn: 偽吏部尚書範元覽大理卿阮飛卿千衛將陳日昭華頟將軍黎威

等皆詣輔降 (Minh Thực Lục I, 656). Ngụy Lại bộ Thượng thư Phạm Nguyên Lãm, Đại lý khanh Nguyễn Phi Khanh, Thiên Ngưu vệ tướng Trần Nhật Chiêu, Hoa Ngạch tướng quân Lê Uy đẳng giai nghệ Phụ hàng. Nhận xét: bản tiếng Việt thiếu chữ “Ngưu” phiên hiệu đơn vị của Nhật Chiêu.

Sử nhà Minh ghi rõ nhóm Lãm, Khanh, Chiêu, Uy chủ động tìm đến Trương Phụ để đầu hàng khi quân chủ lực nhà Hồ bị tiêu diệt. Nên chú ý chức vụ của Nguyễn Phi Khanh do phía Minh ghi lại, chắc chắn căn cứ vào bản khai của chính Ông. Vào thời điểm đó, Ông không giữ chức Hàn lâm Học sĩ mà là Đại Lý Tự khanh. Triều Hồ ngắn ngủi không để lại rõ ràng hệ thống quan chức; nếu dựa vào hệ thống nhà Tống, ta thấy Đại Lý Tự khanh thuộc hàng chánh tam phẩm. Phi Khanh là quan lại cao cấp nên được sử gia hai bên ghi nhận hành trạng.

Phi Khanh vì hoảng hốt trước chiến cuộc tàn khốc nên đầu hàng hay Ông đã suy nghĩ chín chắn trước khi quyết định?

Qua bài “Quan vi kỳ” ta thấy một phần tính cách của Ông. Phi Khanh làm gì đều có cân nhắc

萬事如棋須說著,

(觀圍棋)

Vạn sự như kỳ tu thuyết trước,

(Quan vi kỳ)

Vạn sự đều như đánh cờ, nên tính toán trước.

(Xem đánh cờ vây)

Hoặc trong bài “Trừ dạ dụng Đỗ lão vận, chư quân tịch thượng đồng tác”

萬事細思看鬢髮,

(除夜用杜老韻,

諸君席上同作)

Vạn sự tế tư khan mấn phát,

(Trừ dạ dụng Đỗ lão vận,

Chư quân tịch thượng đồng tác)

Trông đám tóc mai biết mọi sự đều suy tính kỹ,

(Đêm ba mươi Tết dùng vần của Đỗ Phủ, cùng các bạn trong tiệc làm thơ)

Thời điểm đầu hàng của Phi Khanh cho thấy Ông không quyết định ngẫu nhiên. Sau trận Hàm Tử, quân Hồ không còn sức kháng cự đáng kể nữa, chỉ chạy dài cho đến khi vua tôi đều bị bắt.

Chính sách của nhà Minh rất khéo léo đối với các dạng đối tượng khác nhau.

Về số phận hoàng gia và những quan tướng bị bắt, Toàn thư ghi chép như sau

“Bắt giải Quý Ly và các con là Hán Thương, Trừng, Triết, Uông, các cháu là Nhuế, Lô, Phạm, cháu nhỏ là Ngu Lang, em là Quý Tỳ, cháu gọi bằng bác là Nguyên Cữu, Tử Tuynh, Thúc Hoa, Bá Tuấn, Ðình Diệp, Ðình Hoảng; các tướng thần là Ðông Sơn hương hầu Hồ Ðỗ, Hành khiển Nguyễn Ngạn Quang, Lê Cảnh Kỳ; các tuớng quân là Huyện bá Ðoàn Bồng, Đình bá Trần Thang Mông, Trung lang tuớng Phạm Lục Tài cùng các ấn tín đến Kim Lăng để dâng.” (Toàn Thư II, 235) (a)

(a) Nguyên văn: 俘送季犛及其子漢蒼澄澈汪孫芮滷范幼孫五郎弟季貔姪元

騂叔驊伯駿廷燁廷爌将臣東山鄕侯胡杜行遣阮彦光黎景琦将軍縣伯段… 亭伯陳湯夢中郎 范六才及其印信至金陵以献.(Toàn Thư IV, 277)

Phù tống Quý Li cập kì tử Hán Thương Trừng Triệt Uông tôn Nhuế Lỗ Phạm ấu tôn Ngũ lang đệ Quý Tì điệt Nguyên Cữu Tử Tuynh Thúc Hoa Bá Tuấn Đình Diệp Đình Hoảng tướng thần Đông Sơn Hương hầu Hồ Đỗ Hành khiển Nguyễn Ngạn Quang Lê Cảnh Kì tướng quân Huyện bá Đoàn Bồng Đình bá Trần Thang Mộng Trung lang tướng Phạm Lục Tài cập kì ấn tín chí Kim Lăng dĩ hiến .

Minh Thực Lục ghi nhận buổi lễ hiến phù tại Kim Lăng với danh sách tù binh tương tự, chỉ sai biệt tên bốn người trên tổng số 22 người, có thể do ghi chép nhầm nét hoặc phiên sang Hán tự tên thuần nôm bằng phương pháp khác với cách phiên của người An Nam, cụ thể: Triệt 澈 thành Đôn 潡, Phạm 范 thành Nê 坭, Diệp 燁 thành Đạn 燀, Bồng … thành Bế鼙. Ba trường hợp đầu các cặp chữ phát âm khác nhau có tự dạng gần giống nhau nên khả năng sai lệch do tam sao thất bản là cao. Riêng tên Bồng hay Bế không có chữ Hán chuẩn tương thích, có thể vị bá tước cấp huyện này tên Đoàn Bé.

Vua Minh chỉ giam Quý Ly, Hán Thương và Hồ Đỗ. Số còn lại được tha và chu cấp quần áo, lương thực.

Trong danh sách tù binh nạn nhân của lễ hiến phù, không có tên bất kỳ quan lại đầu hàng nào. Chỉ có hoàng tộc Hồ và các quan tướng chống cự đến giờ phút cuối cùng.

Về cách ứng xử của kẻ chiến thắng đối với người đầu hàng, có thể quan sát số phận một nhân vật hàng Minh cùng lúc với Phi Khanh là Trần Nhật Chiêu, chỉ huy vệ quân Thiên Ngưu. Nhật Chiêu ngay lập tức được tướng Minh thu nhận và giao trông coi đất Nghệ An. Rủi thay, cũng trong năm 1407, Nhật Chiêu bị Giản Định đế trừ khử cùng với Trần Thúc Dao, một hàng tướng khác là cậu ruột Nguyễn Trãi, đang được người Minh giao trông coi đất Diễn châu (Bắc Nghệ An nay). Chiêu và Dao không bị giết đơn lẻ mà cùng với gia thuộc hơn 500 người. Điều này cho thấy quân Minh trọng dụng những người đầu hàng họ, và phía nổi dậy cực kỳ thù ghét nhóm trở cờ này. Giản Định không chỉ giết người đứng đầu, Ông giết toàn thể gia đình và bộ thuộc của kẻ đầu hàng. Nguyên nhân không vì hai người họ Trần chống lại quân nổi dậy, mà chỉ vì họ không chủ động chào đón Giản Định. Hành động của cha và cậu ruột vô tình chắn mất con đường kháng chiến dưới cờ Hậu Trần của Nguyễn Trãi, nếu lúc đó Nguyễn Trãi có ý định chống Minh. Những người đầu hàng khác như Mạc Thúy, Mạc Viễn, Nguyễn Huân…….. đều được nhà Minh trao quan tước.

Như vậy, Nguyễn Phi Khanh đã sang Tàu nhưng theo chế độ dành cho người đầu hàng, không bị bắt và áp giải trong cũi hay đóng gông. Ông phải được đối đãi tốt như người Minh từng đối đãi trọng thị Trần Nhật Chiêu. Vua quan nhà Minh thừa khôn ngoan để tận dụng đại thần Nguyễn Phi Khanh làm mẫu mực nhằm dẫn dụ các quan đang trốn tránh. Theo qui định Minh triều, Phi Khanh sẽ cầm “giấy khám hợp” sang phương Bắc trình diện theo chính sách được ghi nhận trong Minh Thực Lục như sau:

Ngày 5 tháng 7 năm 1407: “Cải chức Đại lý Tự khanh Trần Hiệp làm Tả Thị lang bộ Lại, sai Lang trung Trương Tông Chu mang 20 bằng khám hợp giao cho Hiệp. Phàm những người đáng trao chức quan thì bàn với quan Tổng binh Tân Thành hầu Trương Phụ, Tả Phó Tướng quân Tây Bình hầu Mộc Thạnh, [Thượng thư] bộ Binh Lưu Tuấn để lượng tài giao chức, rồi cấp cho bằng khám hợp. Lúc gọi về kinh khảo xét thì căn cứ vào những chi tiết điền trong khám hợp, nếu không có sự trở ngại sẽ được bổ dụng.” (Minh Thực Lục I, 271) (a)

(a) Nguyên văn: 改大理寺卿陳洽為吏部左侍郎遣郎中張宗周等以吏部勘合二十

道付洽凡當受官必與總兵官新城侯張輔左副將軍西平侯沐晟兵部劉俊計議量才授職給與勘合來朝之日憑此稽考其先已授職如無礙者皆補與之合底簿填寫則奏繳 (Minh Thực Lục I, 680).

Cải Đại Lý Tự khanh Trần Hiệp vi Lại bộ tả Thị lang, khiến Lang trung Trương Tông Chu đẳng dĩ Lại bộ khám hợp nhị thập đạo phó Hiệp. Phàm đang thụ quan tất dư Tổng binh quan Tân Thành hầu Trương Phụ, Tả Phó Tướng quân Tây Bình hầu Mộc Thạnh, Binh bộ Lưu Tuấn kế nghị lượng tài thụ chức cấp dư khám hợp. Lai triều chi nhật bằng thử kê khảo kỳ tiên dĩ thụ chức như vô ngại giả giai bổ dư chi hợp để bạ trấn tả tắc tấu kiểu.

Đó là giấy tờ dùng cho quan văn, do bộ Lại quản lý. Với võ tướng, do bộ Binh trông coi, nhà Minh cũng có chủ trương phù hợp.

Ngày 23 tháng 8 năm 1407: “Lệnh bộ Binh phát hành 1.000 bằng khám hợp dành cho võ chức gửi sang Giao Chỉ để Thượng thư Lưu Tuấn dùng. Như vậy, gặp trường hợp quan dân địa phương lập thành tích, ông ta có thể nghị xét để trao quan chức tương tự như chế độ của văn ban.” (a)

Con số 20 bằng khám hợp dành cho văn chức rất đáng ngờ vì quá ít ỏi để tuyển đủ người cai trị vùng đất có hơn năm triệu dân. Geoff Wade đã đối chiếu các bản khác và cho rằng số lượng bằng khám hợp là 2.000 (hoặc 20). Như vậy, Geoff Wade tin con số 2.000 hơn (b). Xét số lượng 1.000 bằng dành cho võ chức chuyển giao đến Binh bộ Thượng thư Lưu Tuấn, chúng ta đoán được nhà Minh cần 2.000 quan văn chứ không phải 20. Văn chức bao gồm các vị trí thuộc Ty Bố chính và Ty Án sát. Võ chức thuộc quyền Đô Ty. Dự trù từ Minh triều hẳn là 1.000 người cho mỗi Ty. Chữ “thập 十”, mười, và “thiên千”, ngàn, rất dễ khiến người sao chép lầm lẫn.

(a) Đoạn này do chúng tôi dịch vì ấn bản Minh Thực Lục, Nhà Xuất Bản Hà Nội (2010) thiếu phần dịch đoạn đầu của ghi chép ngày 23/8/1407, chỉ thể hiện đoạn sau nói về thành trì bị sụp cần sửa chữa và việc điều quân từ Khâu Ôn, Ải Lưu về Thanh Hóa. Bản tiếng Hán kèm theo thì vẫn đầy đủ thông tin.

Nguyên văn: 敕兵部編武職勘合一千道往交址付尚書劉俊掌之遇土官土人有功者

會議授官如文職之制 (Minh Thực Lục I, 689)

Sắc Binh bộ biên võ chức khám hợp nhất thiên đạo vãng Giao Chỉ phó Thượng thư Lưu Tuấn chưởng chi ngộ thổ quan thổ nhân hữu công giả hội nghị thụ quan như văn chức chi chế.

(b) Bản dịch sang tiếng Anh ghi chép ngày 5/7/1407 của Geoff Wade

Yong-le: Year 5, Month 6, Day 1 (5/7/1407). The Director Zhang Zong-zhou and others were sent with 2,000 (Alt: 20) Ministry of Personnel tally-slips to issue to those suitable for appointment as officials. They were required to discuss the matter with the Xin-cheng Marquis and Regional Commander Zhang Fu, the Xi-ping Marquis and Deputy General Mu Sheng and the Minister of War Liu Jun, select those with ability for appointment as officials and provide them with tally-slips. When these officials came to the Court, they would be received only on the basis of these tally-slips. Those persons who had already been appointed to posts and were acceptable in their positions were also be given slips. When the tally-slip reference stub-book was completely filled, it was to be sent back to the Court.(7)

Cách ứng xử của nhà Minh dành cho quan chức tương lai thể hiện trong chiếu chỉ gửi Trương Phụ như sau:

Ngày 17 tháng 3 năm 1407: “Khi quân chiếm được An Nam, hãy thăm dò rộng rãi khắp nước để tìm người tài đức, hoặc có một điều hay, một nghề giỏi. Hãy dùng lễ để

sai khiến, tìm cách đưa về kinh đô.” (Minh Thực Lục I, 250) (a)

Sau đó, vua Minh lại tiếp tục dặn dò kỹ lưỡng việc săn lùng và ứng xử với nhân tài.

Ngày 28 tháng 7 năm 1407: “Đất Giao Chỉ chắc có những người tài đức song toàn ẩn dật tại núi rừng, rành kinh điển văn hay học rộng, có tài hiền lương đứng đắn; nông dân hiếu đễ thông minh chính trực; kẻ thư lại có khả năng được việc, thông thạo sách vở, người luyện tập binh pháp vũ nghệ trí mưu, dung mạo khôi ngô cao lớn, ăn nói lưu loát, có sức vóc dũng cảm; kẻ biết thuật số âm dương, rành y dược chẩn mạch. Hãy hỏi han tìm cho được, dùng lễ sai khiến để mang về kinh dùng.” (Minh Thực Lục I, 274)(b)

Toàn Thư cho biết những kẻ hợp tác khi sang nước Minh đều có người bạn tống, được chu cấp tiền đi đường và cung ứng thực phẩm dọc đường. Có lẽ sử Việt đã đề cập đến “lễ 禮” này. Còn con dân Đại Ngu hưởng ứng ở mức độ nào?

Toàn thư ghi nhận tình hình nhân sĩ Đại Ngu vào năm 1407 như sau:

“Những người có tiếng tăm một chút đều hưởng ứng. Duy có Bùi Ứng Đẩu từ chối, lấy cớ đau mắt, bọn hạ trai (c) học sinh Lý Tử Cấu mấy người lui ẩn không chịu ra mà thôi.” (Toàn Thư II, 235)(d)

(a) Nguyên văn:師克安南之日其境內才德賢知之士及有一善可稱一藝可用者

為詢問悉以禮遣送赴京 (Minh Thực Lục I, 652)

Sư khắc An Nam chi nhật kỳ cảnh nội tài đức hiền tri chi sĩ cập hữu nhất thiện khả xứng nhất nghệ khả dụng giả quảng vi tuân vấn tất dĩ lễ khiển tống phó kinh.

(b) Nguyên văn:敕交址總兵官新城侯張輔左副將軍西平侯沐晟等兵部尚書劉俊曰

交址應有懷才抱德山林隱逸明經能文博學有才賢良方正孝弟力田聰明正直廉能幹濟練達吏事精通書算明習兵法武藝智謀容貌魁偉語言便利膂力勇敢陰陽術數醫藥方脈之人悉心訪求以禮遣送赴京擢用 (Minh Thực Lục I, 687-688)

Sắc Giao Chỉ Tổng binh quan Tân Thành hầu Trương Phụ, Tả Phó Tướng quân Tây Bình hầu Mộc Thạnh đẳng Binh bộ Thượng thư Lưu Tuấn viết: Giao Chỉ ưng hữu hoài tài bão đức sơn lâm ẩn dật minh kinh năng văn bác học hữu tài hiền lương phương chính hiếu đễ lực điền thông minh chính trực liêm năng cán tế luyện đạt lại sự tinh thông thư toán minh tập binh pháp võ nghệ trí mưu dung mạo khôi vĩ ngữ ngôn tiện lợi lữ lực dũng cảm âm dương thuật số y dược phương mạch chi nhân tất tâm phỏng cầu dĩ lễ khiển tống phó kinh trạc dụng.

(c) Theo Lê Quý Đôn, Hạ Trai là hiệu của Lý Tử Cấu (8). Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, nhà Trần chia học sinh ra 3 bậc: Thượng trai, Trung trai và Hạ trai (9).

(d) Nguyên văn: 稍有名稱者皆應之惟裴應斗以眼疾辝下齋學生李子構等數人

不出而已 (Toàn Thư IV, 277)

Sảo hữu danh xưng giả giai ứng chi duy Bùi Ứng Đẩu dĩ nhãn tật từ hạ trai học sinh Lý Tử Cấu đẳng số nhân ẩn bất xuất nhi dĩ

Phía nhà Minh, Trương Phụ báo cáo về Kim Lăng như sau:

Ngày 6 tháng 11 năm 1407: “..đã thăm hỏi các quận huyện tại Giao Chỉ để đề cử những người tài đức, rành kinh điển, giỏi văn chương, học rộng tài cao, thông minh chính trực, lực điền hiếu đễ, hiền lương đoan chính, thông thạo việc quan, hiểu rành binh pháp và tài nghệ các mặt gồm 9.000 người, đang lục tục đến kinh đô.”(Minh Thực Lục I, 285)(a)

Vua Minh cho rằng dân phía Nam không quen chịu lạnh nên ra lệnh cấp áo bông, ủng vớ cho những người này.

Như vậy, mặc dù từ vùng nay là Ninh Bình đến biên giới Chiêm Thành tình hình chưa yên hẳn vì cuộc khởi nghĩa Hậu Trần, Trương Phụ đã tuyển được số nhân sự gấp ba lần số giấy khám hợp nhà Minh dự trù. Họ Trương thành công ngoài sức tưởng tượng.

Vì sao có chuyện đáng buồn này? Ngay đầu năm 1407, vừa khi Đông đô bị chiếm, Toàn Thư đã cho biết “Kinh lộ phần nhiều theo giặc làm phản” (b) (Toàn Thư II, 231). Một tháng sau lại thông báo “…người ở Kinh lộ bị quân Minh sai khiến và mất cả gia thuộc, mang lòng oán hận, các quân nhân và tráng đinh đều đến cửa quân tự nguyện gắng sức lập công.” (c) (Toàn Thư II, 232). Thực sự ai theo giặc làm phản? Ai hồi tâm quay lại với Quý Ly và Hán Thương? Tổng quát, có thể thấy tầng lớp trên có tài sản hay “có chút tiếng tăm”, chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa Hán đã nhanh nhẩu hợp tác; tầng lớp dưới như “quân nhân đinh nam 軍人丁男” ngả theo người chủ nào quan tâm đến số phận của họ và gia đình họ.

(a) Nguyên văn: 訪舉交址郡縣懷才抱德明經能文博學有才聰明正直孝弟力田賢

良方正練達吏事明習兵法及材武諸色之人凡九千人陸續遣送赴京 (Minh Thực Lục I, 716)....phỏng cử Giao Chỉ quận huyện hoài tài bão đức minh kinh năng văn bác học hữu tài thông minh chính trực hiếu đễ lực điền hiền lương phương chính luyện đạt lại sự minh tập binh pháp cập tài võ chư sắc chi nhân phàm cửu thiên nhân lục tục khiển tống phó kinh.

(b) Nguyên văn: 京路多從賊以叛 (Toàn thư IV, 275). Kinh lộ đa tùng tặc dĩ phản.

(c) Nguyên văn: 京路人爲明人役使及失家属自怨憤軍人丁男各詣軍門自效立 功 (Toàn thư IV, 275). Kinh lộ nhân vi Minh nhân dịch sử cập thất gia thuộc tự hoài oán phẫn quân nhân đinh nam các nghệ quân môn tự hiệu lập công.

Quan dân Đại Ngu chỉ là cừu non trước cáo già Chu Đệ. Tuy vậy, cũng có người sáng suốt, lưu truyền trong dân gian câu ngạn ngữ: ‘Muốn sống vào ẩn núi rừng, muốn chết làm quan triều Ngô.’

Vào năm 1416, Toàn thư ghi nhận mặt trái của chính sách này như sau:

“Nhà Minh chiêu dụ các quan cũ của triều trước, giả cách bổ đi các nha môn quan, dân làm việc rồi chuyển đưa về Yên Kinh giữ lại. Bọn người bon chen, vốn không phải

là quan lại cũ, chưa được thực thụ quan chức, cũng hăng hái ra nhận, trong nước vì thế trở nên trống rỗng. Ở được vài năm, thấy vất vả khổ sở, thỉnh thoảng họ lại trốn về.” (Toàn Thư II, 254)(a)

(a) Nguyên văn: 明招誘前朝舊官假軍民衙門辨事轉送燕京留之奔競之徒素非

舊官未得實授官職亦挺身出國内爲之空虚居數年艱苦往匕迯回 (Toàn Thư IV, 288). Minh chiêu dụ tiền triều cựu quan giả bạt quân dân nha môn biện sự chuyển tống Yên Kinh lưu chi bôn cạnh chi đồ tố phi cựu quan vị đắc thực thụ quan chức diệc đĩnh thân xuất quốc nội vi chi không hư cư số niên gian khổ vãng chủy đào hồi.

Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi cũng phải cuốn theo cơn lốc thế sự đương thời. Khi vương quốc Đại Ngu non trẻ sụp đổ, hai cha con chẳng có nhiều lựa chọn.

Xem xét các ghi chép về giai đoạn này, cả chính sử lẫn dã sử, chúng ta thấy chính sách nhà Minh rất minh bạch, hợp lý. Thiên triều có 3 chủ trương đối với dân Nam:

– Tiêu diệt hoặc vô hiệu hóa hai hoàng tộc Trần và Hồ.

– Chiêu dụ, trọng dụng tầng lớp ưu tú trung gian giữa triều đình và dân chúng. Đa số trí thức, cựu quan lại, thân hào nhân sĩ, thợ thủ công, người tu hành… được đưa về Bắc để nâng cao mức độ Hán hóa và củng cố lòng trung thành. Sau đó những người phù hợp được phân bổ trở lại An Nam.

– Khai thác tầng lớp dưới, sẵn sàng đàn áp khi cần thiết.

Nguyễn Phi Khanh không thuộc đối tượng cần loại trừ, lăng nhục hay trấn áp.

Năm 1408, quân Hậu Trần thắng lớn ở Bô Cô (Nam Định nay), sau đó phát triển hoạt động tích cực ở vùng Hạ Hồng (Hải Dương nay), rất gần cơ sở ở Côn Sơn của gia tộc Nguyên Đán. Do từng hợp tác với nhà Hồ và đầu hàng quân Minh, nếu Phi Khanh rơi vào tay Giản Định, số phận Ông và gia đình sẽ không khác số phận Trần Thúc Dao. Không đáng ngạc nhiên nếu Phi Khanh chọn hướng đi sang phương Bắc.

Phi Khanh là nhân vật bản tính nghệ sĩ có học Nho hơn là một nhà Nho mang loại “tiết tháo” mà các nhà cai trị muốn Nho gia sở đắc. Quan hệ nam nữ vượt khuôn khổ, lòng trung với vua Trần nhợt nhạt, lòng trung với ân nhân họ Hồ hoàn toàn thiếu vắng khi Ông chủ động hàng giặc trước lúc triều đình bị bắt. Thời trẻ, có chút ưu tư với dân nghèo nhưng địa vị xã hội và hùng tâm đều không đủ lớn để thực hiện điều mình muốn. Khi đạt ước nguyện quan cao, Ông vẫn tuyên bố lòng ưu quốc. Tuy nhiên, ngay thời điểm quyết định, Phi Khanh đã chọn con đường ít thiệt hại nhất cho bản thân và gia đình. Ông cũng chẳng còn lối khác để tồn tại. Dĩ nhiên, chọn bảo toàn mạng sống, con người phải coi nhẹ thân danh.

Cũng có thể suy nghĩ phẫn nộ về sự đầu hàng chỉ là sản phẩm thời hiện đại, chứ đa số nhà nho đương thời cho rằng việc lựa chọn ai để phụng sự là quyền của họ. Chính Nguyễn Trãi, người con danh tiếng của quan Đại Lý Tự khanh, trong thư nhân danh Lê Lợi gửi hàng tướng Thái Phúc, đã đưa nhiều ví dụ để thuyết phục họ Thái ở lại với Nam triều. Ức Trai cho rằng Bá Lý Hề làm tôi nhà Ngu thì Ngu mất nước, sang Tần lại giúp Tần dựng nên nghiệp bá; Lý Tả Xa phục vụ nước Triệu thì Triệu diệt vong, theo Hán lại phù Hán thành đế nghiệp (10). Chọn Ngu, Tần, Triệu hay Hán cũng như chọn Minh hay Việt, chỉ dựa vào sáng suốt của từng sĩ nhân. Trong thế giới văn hóa Hoa Hạ, lẽ phải thuộc về con người có “chân mạng đế vương” mà kẻ sĩ có nhiệm vụ phát hiện và khuông phò. Quay lưng với vị vua đã mất “thiên mệnh” thực sự chẳng có gì ầm ĩ vì trách nhiệm chính của nhà nho là phải sống để rao giảng đạo trời.

Tuy vậy, thay thầy đổi chủ tự nguyện vẫn tạo chấn thương tinh thần. Tâm trạng sau binh lửa lần này hết còn lạc quan thấp thoáng như sau những lần Chiêm Thành cướp phá kinh đô. Năm 1383, Chế Bồng Nga vây Thăng Long lần cuối khi Ứng Long mới hai mươi tám tuổi; quân Trần tuy kiệt quệ nhưng còn cơ tập họp. Năm 1407, khi quân Minh vào Đông đô, Phi Khanh đã năm mươi hai; và quân chủ lực nhà Hồ hoàn toàn tan vỡ. Cánh chim báo hiệu ly hương hiện lên buồn bã. Bài “Thu thành vãn vọng” sáng tác bởi một người già cam chịu, sau cuộc loạn ly, giúp chúng ta định thời điểm ra đời nhằm quãng ngày tháng Phi Khanh chờ đợi chuyến đi sang Đại Minh.

秋城晚望

木落都城九月天,
斜陽罩地截雲煙。
離鴻遠遠迎風陣,
隙月涓涓隔樹懸。
吟興四時秋易感,
人生萬事老堪憐。
兵戈況復彫殘後,
遙望晴旻一慨然。

Thu thành vãn vọng

Mộc lạc đô thành cửu nguyệt thiên,
Tà dương tráo địa tiệt vân yên.
Ly hồng viễn viễn nghênh phong trận,
Khích nguyệt quyên quyên cách thụ huyền.
Ngâm hứng tứ thời thu dị cảm,
Nhân sinh vạn sự lão kham liên.
Binh qua huống phục điêu tàn hậu,
Dao vọng tình mân nhất khái nhiên.

Ngắm cảnh chiều thu trong thành.

Sang tháng chín, lá rụng khắp đô thành,
Bóng chiều phủ trùm mặt đất, mây khói tiêu tan.
Xa xa, bầy ngỗng trời biệt ly bay ngược gió,
Mong manh, vầng trăng khuyết lơ lửng sau hàng cây.
Hứng thơ qua bốn mùa, chỉ mùa thu là dễ cảm,
Muôn việc trong đời người, thương tuổi già thêm cam chịu.
Huống hồ lại giữa cảnh điêu tàn sau binh lửa,
Vời trông trời mông quạnh…. một dạ ngậm ngùi !

Với cá tính thể hiện trong thơ văn, với tuổi hơn năm mươi khi đầu phục quân Minh, nhiều khả năng Phi Khanh sẽ không được giao việc gì quan trọng dù thực tâm đầu hàng và cộng tác.

Chúng ta cũng có thể suy nghĩ theo chiều ngược lại: việc qui hàng là hành động tùy thời, và tâm tư Phi Khanh đã chìm lấp trong bụi thời gian.

Căn cứ thông tin còn lại điểm qua bên trên, ta có thể suy đoán Nguyễn Phi Khanh phải mất trước khi Nguyễn Trãi vào Lỗi Giang đầu quân Lê Lợi năm 1423. Nguyễn Trãi chỉ có thể tham gia kháng chiến khi người Minh không có phương tiện nào để bức bách Ông ra đầu thú. Lê Lợi cũng chỉ tin cẩn Nguyễn Trãi một khi gia đình Ông đã tuyệt giao với giặc.

PHẨM BÌNH VÀ CÁC THÔNG TIN MUỘN

1. Hồ Tông Thốc (? -?) khi họa vần thơ mừng của Ứng Long đã đánh giá: “Tài thức như quân diệc thiếu niên 才識如君尚少年”, Tài năng hiểu biết như ông mà hãy còn trẻ. Việc cụ đại thần kiêm tác gia danh tiếng ca ngợi và mong mỏi Nguyễn năng ghé thăm chứng minh vị trí vững chãi của chàng thanh niên trong giới văn học đương thời. Thốc gọi Ứng Long là Nhị Khê thay vì chức tước, lại khen chàng trai đã vượt thoát khỏi “được mất”, “công danh”, tức thời điểm này (1386) Nguyễn đang ngoài quan trường. (11)

2. Nguyễn Trãi (1380 – 1442) lưu lại nhiều văn thơ chữ Hán nhưng qua đó ít nhắc đến cha mình. Trong “Băng Hồ di sự lục”, Ức Trai chỉ thoáng đề cập tác phẩm “Thanh Hư động ký” của Nhị Khê tiên sinh bên cạnh phần chính tỏ bày lòng yêu mến, kính trọng đối với ông ngoại. Kháng chiến chống Minh thành công, Nguyễn Trãi quay về xây dựng lại khu vực động Thanh Hư thay vì có hoạt động tu tạo tại Nhị Khê hay nhà gốc ở Chi Ngại. Có thể hành vi hàng giặc nhanh chóng của cha khiến Nguyễn Trãi phải suy nghĩ nhiều. Bài thơ dưới đây, theo nội dung, được sáng tác lúc Ức Trai ngoài 30 tuổi (khoảng năm 1409 – 1410) khi ông lẫn tránh người Minh trong vùng núi Đông Triều.

題東山寺

君親一念久嬰懷,
澗愧林慚夙願乖。
三十餘年塵境夢,
數聲啼鳥喚初回。

Đề Đông Sơn tự (12)

Quân thân nhất niệm cửu anh hoài,
Giản quý lâm tàm túc nguyện quai.
Tam thập dư niên trần cảnh mộng,
Sổ thanh đề điểu hoán sơ hồi.

Đề chùa Đông Sơn

Một niềm trung hiếu đeo đẳng mãi,
Tủi với suối, thẹn với rừng vì sai lời nguyện xưa.
Hơn ba mươi năm mộng giữa cõi trần,
Vài tiếng chim kêu gọi người tỉnh lại.

Hai vua Hồ và Nguyễn Phi Khanh có thái độ khác nhau đối với người Minh. Khó xử khiến Nguyễn Trãi hối tiếc vì bỏ qua con đường thứ 3: theo nhàn.

3. Toàn Thư đưa thông tin khá tiêu cực về Nguyễn Ứng Long. Sử gia nhà Lê cho rằng khi kèm cặp Trần thị Thái, Nguyễn đã làm thơ nôm quyến dụ học trò, còn cả gan quan hệ vượt lễ khiến bà Thái mang bầu. Việc vở lỡ, thay vì thú nhận lại bỏ trốn. Thông tin sau cùng về Nguyễn là sự kiện Ông đầu hàng Trương Phụ. Toàn Thư là tài liệu xưa nhất ghi nhận quyết định của Thượng hoàng Nghệ tông “phế bất dụng”, bỏ không dùng, hai Tiến sĩ Ứng Long và Hán Anh khi xét duyệt bổ nhiệm tân khoa khóa thi năm 1374. Tuy nhiên, Toàn Thư không khẳng định hai vị bị loại khỏi quan trường suốt đời Trần. (Xem Toàn Thư II, 182, 183, 233)

4. Trần Khắc Kiệm, vào năm Hồng Đức XI (1481), viết tựa cho Ức Trai thi tập có nói về cha của Nguyễn Trãi như sau

“Cha ông họ Nguyễn húy Phi Khanh, hiệu Nhị Khê tiên sinh. Đỗ Bảng nhãn, từng làm các chức quan Thông Chương đại phu, Đại Lý Tự khanh kiêm Trung Thư Thị lang, Hàn Lâm viện Học sĩ, Thái tử Tả Tán Thiện đại phu, Quốc tử giám Tư nghiệp, được ban túi kim ngư, Thượng Khinh Xa Đô úy.” (a) (13)

(a) Nguyên văn: 父姓阮諱飛卿號瀰溪中進士弟二名儮官通大夫大理寺

中書侍郎翰林院學士太子左賛善大夫國子監司業賜金魚袋上輕車都尉

Phụ tính Nguyễn húy Phi Khanh, hiệu Nhị Khê tiên sinh. Trúng tiến sĩ đệ nhị danh, lịch quan Thông Chương đại phu, Đại Lý Tự khanh kiêm Trung Thư Thị lang, Hàn Lâm viện Học sĩ, Thái tử Tả Tán Thiện đại phu, Quốc tử giám Tư nghiệp, tứ kim ngư đại, Thượng Khinh Xa Đô úy.

Các chức danh Thông Chương đại phu, Trung Thư thị lang, Thái tử Tả Tán Thiện đại phu, Quốc tử giám Tư nghiệp, Thượng Khinh Xa Đô úy không thấy nhắc đến trong các tài liệu khả tín hơn như Toàn Thư, Minh Thực lục và thơ văn người cùng thời. Chúng ta chỉ chắc chắn Phi Khanh kinh qua các chức vụ Kiểm Chính, Thiếu Trung đại phu vào thời Trần; Hàn Lâm học sĩ và Đại Lý Tự khanh đời Hồ. Trần Khắc Kiệm là người đầu tiên ghi nhận Phi Khanh đỗ Bảng nhãn. Bài tựa đề năm 1481 nhưng được Dương Bá Cung sưu tầm và thân hữu khắc in vào năm 1868, do vậy, nội dung chưa chắc còn như nguyên bản. Ở đây, chúng ta thấy chức quan mang tính chất “tư pháp” như Đại Lý Tự khanh được đặt chung với chức “hành pháp” như Trung Thư thị lang. Văn chức như Tư nghiệp Quốc tử giám đặt chung với võ chức như Thượng Khinh Xa Đô úy.

5. Phạm Đình Hổ (1768 – 1839) và Nguyễn Án (1770 – 1815) qua “Tang Thương Ngẫu Lục” cho rằng Phi Khanh tránh loạn ở Côn Sơn khi nhà Hồ mất, tức không có chuyện quan Đại Lý Tự khanh đầu hàng Trương Phụ. (14)

6. Phan Huy Chú (1782 – 1840) trong phần Văn tịch chí, Lịch triều hiến chương loại chí, trình bày lại quan điểm của Nghệ tông đồng thời khẳng định Ứng Long không được làm quan dưới thời Trần. Huy Chú trích duy nhất một bài thơ của Ứng Long, bài “Gia viên lạc”, có lẽ vì ông quan niệm đứa trẻ xuất hiện trong thơ chính là nhân vật lớn Nguyễn Trãi. Trong phần Nhân Vật chí, Huy Chú cho rằng Trương Phụ ép Nguyễn Phi Khanh viết thư dụ Nguyễn Trãi ra hàng. (15)

7. Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục loại bỏ các chi tiết đời tư của Ứng Long chép trong Toàn Thư, chỉ tái ghi nhận ý kiến Thượng hoàng “phế bất dụng” vị Tiến sĩ.

Cương Mục xác nhận Hồ Hán Thương cất nhắc bổ nhiệm Ứng Long và đổi tên Ông thành Phi Khanh. So với Toàn Thư khá thô ráp khi đem lỗi lầm của một thiếu niên vào chính sử bằng ngôn ngữ dung dị, các tác giả Cương Mục thể hiện bản lĩnh văn hóa và tính chuyên nghiệp vượt trội. Bộ sách chính thống này không phủ nhận việc hàng giặc của Nguyễn Phi Khanh. (16)

8. Dương Bá Cung (1795 – 1868), trong phần tiểu sử Nguyễn Phi Khanh, cho rằng cụ Nguyễn đỗ tiến sĩ năm Long Khánh II (1374), lúc 19 tuổi. Do lấy vợ hoàng tộc nên không được Duệ tông dùng. Đến đời Hán Thương, niên hiệu Thiệu Thành, mới nhận chức Hàn lâm Học sĩ. Khi người Minh xâm phạm, bắt Quý Ly và Hán Thương, Ông đầu hàng quân giặc. Còn tập thơ Nhị Khê truyền lại. (17)

Trong phần Sự Trạng thuộc bộ Ức Trai tập, Cụ Dương lại dẫn tộc phả Nhị Khê, cho rằng Phi Khanh đỗ Bảng nhãn, làm quan triều Hồ, lấy con gái Trần Nguyên Đán sinh bốn con: Trãi, Bảo, Phi Hùng, Ly. Năm 73 tuổi, Ông cùng hai người con bị quân Minh bắt đưa đến điếm Vạn Sơn. Trước khi mất, Phi Khanh khuyên các con quay về tìm cách trả thù cha, rửa hận nước.

Nếu theo thông tin từ chính các thi phẩm của Phi Khanh, năm sinh nhà thơ sẽ nằm trong quãng 1354, 1355, 1356 nên số tuổi 73 ở đây có vẻ là nhầm. Câu chuyện cụ Nguyễn bị bắt sang Vạn Sơn và lời cụ khuyên các con trở về nước lần đầu tiên được chép là trong tộc phả này, không rõ niên đại. Tuy nhiên, ghi nhận số tuổi sai lệch quá xa cho thấy thời điểm viết không gần giai đoạn sinh thời của Nguyễn Trãi hay của các con ông, lúc ký ức tộc họ còn sống động. (18)

9. Trần Trọng Kim (1883 – 1953), qua Việt Nam sử lược, cho rằng Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt đưa về Kim Lăng. Nguyễn Trãi tiễn cha đến Nam Quan, quyến luyến khóc than. Người cha thốt lời nổi tiếng: “Con phải trở về mà lo trả thù cho cha, rửa thẹn cho nước, chứ đi theo khóc lóc mà làm gì?” Đây là quyển sử viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam nên sự kiện chia tay cảm động được lan truyền rất rộng rãi. Cụ Trần đã kéo câu chuyện từ Vạn Sơn điếm về biên giới Minh – An Nam. (19)

10. Văn Tân (1913 – 1988), Đào Duy Anh (1904 – 1988), Trần văn Giáp (1902 – 1973) qua phần tiểu sử Nguyễn Trãi trong bộ Nguyễn Trãi toàn tập (1976) thuật lại chuyện tình Ứng Long – Thị Thái tương tự nội dung thể hiện trong Toàn Thư, chỉ đảo ngược chiều chủ động. Các nhà biên tập cho rằng bà Thái làm thơ nôm chòng ghẹo gia sư. Tiểu sử này khẳng định Ứng Long không làm việc cho nhà Trần mà về quê mở trường dạy học. Về sau, Ứng Long nhận chức quan từ vua Hồ với tên mới Phi Khanh để rồi bị quân Minh bắt cùng hoàng tộc và nhiều quan tướng khác. Cuộc chia tay trên biên giới giữa “người tù” Phi Khanh và Nguyễn Trãi được tường thuật khá giống miêu tả trong Việt Nam sử lược nhưng thêm nhiều chi tiết hơn. (20)

11. Nhóm biên soạn bộ sưu tập Thơ văn Lý Trần III, cũng như các vị biên soạn Nguyễn Trãi toàn tập, đã xây dựng tiểu sử Nguyễn Phi Khanh bằng cách tích hợp thông tin từ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Ức Trai tập, Việt Nam sử lược và gia phả. Các cụ chấp nhận hầu hết dữ liệu trình bày trong số thư tịch này, chỉ trừ sự kiện đầu hàng quân Minh của Phi Khanh. Khác với Viện Sử học đặc tả Phi Khanh như một nạn nhân bất khuất, Viện Văn học dù không thừa nhận việc Phi Khanh hàng Minh nhưng vẫn đưa chi tiết này vào diện tồn nghi. (21)

12. O. W. Wolters (1915 – 2000) cũng tin rằng Nguyễn Phi Khanh mở trường dạy học dưới đời Trần, sau đó làm quan cho nhà Hồ với kết cục bị người Minh bắt. Ông xem Phi Khanh thuộc dạng “chứng nhân” của thời đại, tức dạng quan chức trí thức gần dân và vì dân. Đi trước giới nghiên cứu văn học Việt Nam, Wolters bình giảng mười bốn tác phẩm của Phi Khanh bằng xét đoán lấp lánh kiến văn thâm hậu. Dầu vậy, vẫn thấy rõ ông đối diện thơ bằng đôi mắt tinh tường thay vì hòa vào thơ theo mạch ngôn ngữ thi ca Á đông. Mặt khác, do chông chênh trong xác định tiểu sử Phi Khanh, Wolters không hình dung chính xác bối cảnh ra đời từng bài thơ. Điều này dẫn đến diễn giải sai ý tác giả trong vài trường hợp (a). (22)

(a) Ví dụ khi phân tích bài “Tống Thái học sinh Nguyễn Hán Anh qui Hồng châu”, do giả định bài thơ được viết ra sau năm 1377, thời gian Băng Hồ bắt đầu hướng về Côn Sơn nên bỏ hoang dinh thự ở Thăng Long, Wolters không nghĩ rằng bài thơ bộc lộ nỗi khắc khoải của tác giả khi chờ đợi lệnh bổ nhiệm của nhà vua. Thực ra, câu 2 bài thơ diễn tả rõ ràng Ứng Long luôn nhìn về cửa khuyết phía bắc, nơi ban hành chiếu chỉ, với lòng trông mong mòn mỏi; câu 3 cho biết Thái học sinh Nguyễn Hán Anh, vị tân khoa chưa nhận chức vụ, đã trở lại cộng đồng dân thường nơi khê động. Dinh thự tướng quốc năm 1374, 1375 chưa bị bỏ hoang. Chim thước, bình dân gọi là chim khách, đậu lại trong dinh chẳng gì khác hơn là Ứng Long còn “làm khách” trong nhà cha vợ để chờ đợi công danh. Chim hồng biệt dạng dưới trời thu thể hiện kẻ sĩ chưa gặp thời Hán Anh phải quay lại đời sống cũ của mình.

Ví dụ khác là trường hợp Lê Dung Trai. Wolters không thể tìm thấy thông tin về sứ giả họ Lê trong các tài liệu nhà Minh liên quan đến sứ bộ Đại Ngu. Đơn giản vì Dung Trai, tức Tông Triệt, đại diện cho Trần Thuận tông (1388 – 1398); còn tác giả Phi Khanh thời điểm đó là quan Thiếu Trung đại phu nhà Trần. Như vậy, lời lẽ khích lệ trong bài thơ không hẳn là dấu hiệu về một chính quyền khả kính mà nặng phần dự cảm về chuyến đi vô vàn khó khăn.

Nguyễn Phi Khanh mang nhiều tính cách của dạng nho sĩ văn tài lỗi lạc nhưng ngộ nhận bản thân có khả năng kinh tế. Qua quá trình hoạt động năm thế kỷ, dạng văn nhân này bộc lộ hết mọi ưu khuyết điểm và được chính nho sĩ cuối thế kỷ XVIII cách điệu cao độ bằng nhân vật tiểu thuyết Phan Huy Ích.

Họ Phan được Ngô Thì Chí (1753 – 1788), qua Hoàng Lê nhất thống chí, biến thành hình tượng vui nhộn khi thuật lại chuyện ông cho người làm sẵn cái trống to trước khi ra quân để nhốt tay giang hồ nổi loạn Nguyễn Hữu Chỉnh. Kết quả trận đánh đầy mơ mộng là Đốc thị Ích bị Chỉnh bắt sống lúc đang phi ngựa chạy thục mạng khỏi chiến trường. Nghe thuộc hạ dèm pha Ích từng lên kế hoạch lạc quan, vị hảo hán chỉ phì cười: “Cái bộ thầy đồ nói khoác … !” (23)

Giọng điệu văn gia họ Ngô đậm tính hoạt kê pha lẫn độc địa. Phê phán chừng mực của Lê Quý Đôn đối với dạng nhà nho thiếu thực tiễn xét ra hợp lý hơn: “Ta thấy người sĩ phu vào hạng văn học ở trên đời, phê phán việc đời xưa đời nay, rõ ràng như trỏ vào bàn tay, đến khi dùng vào công việc thì phần nhiều không gánh vác nổi; người ở dưới triều đường, không biết việc chiến thắng là cần kíp; người ăn nhờ vào bổng lộc, không biết việc cày cấy là khó nhọc; người đứng trên hàng ngũ quan lại mà không biết việc lao động phải chuyên cần, cho nên những người ấy khó có thể dùng để ứng phó với đời để xử lý công việc được.” (24)

Tóm lại, có thể kết luận Nguyễn Phi Khanh là một văn nhân xuất thân từ tầng lớp bình dân vùng duyên hải, một trí thức Đại Việt thuộc thế giới văn hóa Hoa Hán, với đầy đủ các mặt mạnh, yếu của dạng người này.

 

 

Tài liệu tham khảo:

A. Bản chữ Hán thơ văn Nguyễn Phi Khanh, Trần Nguyên Đán được lấy từ quyển Thơ văn Lý-Trần tập III của Viện Văn học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1978).

B. Các chi tiết lịch sử đều trích từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả: Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long. Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Toàn Thư – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.

C. Các ghi chép của người Minh đều trích từ bộ Minh Thực Lục, quan hệ Trung quốc – Việt Nam thế kỷ XIV – XVII (bản dịch Hồ Bạch Thảo), Nhà xuất bản Hà Nội (2010). Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Minh Thực lục – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.

D. Bản chữ Hán các đoạn kinh Thi trích từ phần “Shijing” thuộc trang web http://ctext.org/book-of-poetry.

(5) Vị Thông phụng Đại phu Đào Toàn Kim chánh sứ của Nguyễn Ứng Long rất có thể là Đào Sư Tích, con trai Đào Toàn Bân, từng đỗ Trạng Nguyên khoa Tiến sĩ năm 1374, tức đồng khoa với cụ Nguyễn. Tương truyền, Đào Sư Tích qua đời năm 1396 trên đường đi sứ về. Giỗ cụ nhằm ngày 4 tháng 9 âm lịch, như vậy phù hợp hai thời điểm:

– Sứ đoàn Đại Việt triều kiến ngày 10 tháng 2 ta, năm Hồng Vũ 29.

– Vua Minh ra lệnh bộ Lễ từ chối phúng viếng Nghệ tông vào ngày 14 tháng 2 ta, cùng năm Hồng Vũ 29 (1396).

Ngày giỗ cho thấy cụ mất khi về gần đến, hoặc vừa đến Đại Việt. Câu chuyện Đào tiên sinh dùng thuốc độc tự sát do vua Minh bức tử dường như không hợp lý lắm vì sứ đoàn đã an toàn rời Nam Kinh từ nhiều tháng trước. Có thể cụ Đào mất do bệnh, cũng có thể do không kham nổi gánh nặng tinh thần khi nhà Minh đã từ chối phúng điếu lại còn đòi đất vùng biên giới. Nếu quả đúng Đào Sư Tích chính là Đào Toàn Kim và bị mất trên đường về, vì bất cứ nguyên nhân gì, chuyến đi của Ứng Long cũng là một thảm kịch. Chúng tôi đoán rằng cụ Đào lãnh đạo phái bộ về đến Quảng Tây và chỉ tự vẫn sau khi làm tròn chức vụ trưởng đoàn đối với thuộc hạ, đồng thời riêng mình nhận trách nhiệm của một chánh sứ thất bại. Ký ức về 23 kỵ binh người Ngô hộ tống quan tài giúp xác định địa điểm cụ mãn phần là trên đất Đại Minh. (Xem Trần Mỹ Giống, Trạng Nguyên Đào Sư Tích: Cuộc Đời và Giai Thoại, http://newvietart.com/index4.705html, truy cập ngày 28/6/2016).

(6) Hoàng Khôi (dịch), Nguyễn Trãi toàn tập, tập thượng, quyển 2, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin (tái bản 2001), trang 184. Bài này Thơ văn Lý – Trần tập III xếp vào mục tác giả Trần Thuấn Du.

(7) Geoff Wade, translator, Southeast Asia in the Ming Shilu: an open access resource, Singapore: Asia Research Institute and the Singapore E-Press, National University of Singapore, http://epress.nus.edu.sg/msl/entry/1106, accessed February 17, 2016.

(8) Xem Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục (bản dịch Phạm Trọng Điềm), Nhà xuất bản Trẻ/Hồng Bàng – TPHCM-Pleiku (tái bản 2013), trang 28.

(9) Xem Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (bản dịch Viện Sử học), Nhà xuất bản Giáo Dục – Hà Nội (1998), bản điện tử của nhóm Lê Bắc, trang 339.

(10) Xem Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1976), trang 110.

(11) Xem Viện Văn học, Thơ văn Lý-Trần III, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1978), trang 68.

(12) Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1976), trang 331.

(13) Hoàng Khôi (dịch), Nguyễn Trãi toàn tập, tập hạ, quyển 5, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin (tái bản 2001), trang 583, 585, 587.

(14) Xem Phạm Đình Hổ & Nguyễn Án, Tang Thương Ngẫu Lục (bản dịch Trúc Khê), Nhà xuất bản Hồng Bàng – Pleiku (tái bản 2012), trang 116 – 128.

(15) Xem Phan Huy Chú, Lịch triều Hiến chương loại chí, Nhà xuất bản Trẻ – TPHCM (tái bản 2014); phần Văn Tịch chí, quyển 5 (bản dịch của Nguyễn Trọng Hân, Trịnh Đình Rư, Cao Huy Giu, Trương Văn Chinh, Nguyễn Mạnh Duân), trang 194, 195; phần Nhân Vật chí, quyển 2 (bản dịch của Nguyễn Mạnh Duân, Trương Văn Chinh), trang 96.

(16) Xem Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (bản dịch Viện Sử học), Nhà xuất bản Giáo Dục – Hà Nội (1998), trang 326, 337.

(17) Xem Hoàng Khôi (dịch), Nguyễn Trãi toàn tập, tập thượng, quyển 2, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin (tái bản 2001), trang 165.

(18) Xem Hoàng Khôi (dịch), Nguyễn Trãi toàn tập, tập hạ, quyển 5, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin (tái bản 2001), trang 591.

(19) Xem Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Nhà xuất bản Văn học – Hà Nội (tái bản 2015), trang 226.

(20) Xem Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1976), trang 251.

(21) Xem Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần III, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1978), trang 380, 381. Nhóm biên soạn bao gồm các vị Đào Phương Bình, Phạm Đức Duật, Trần Nghĩa, Trần Lê Sáng, Đào Thái Tôn, Nguyễn Đức Vân, Nguyễn Đức Vỹ. Hai cụ Đặng Thai Mai, Cao Xuân Huy chỉ đạo và duyệt.

(22) Xem O. W. Wolters, Celebrating the Educated Official: A Reading of Some of Nguyen Phi Khanh’s Poems (bản dịch Ngô Bắc).

http://www.gio-o.com/NgoBac/NgoBacWoltersNguyenPhiKhanh.htm

(23) Xem Ngô gia văn phái, Hoàng Lê nhất thống chí (bản dịch Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch), Nhà xuất bản Trẻ – TPHCM (tái bản 2015), trang 236 – 241.

(24) Xem Lê Quý Đôn, Kiến văn tiểu lục I (bản dịch Phạm Trọng Điềm), Nhà xuất bản Trẻ/Hồng Bàng – TPHCM/Pleiku (tái bản 2013), trang 33.

bài đã đăng của Lê Tư


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch