Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Gabrielle


♦ Chuyển ngữ:
1 bình luận ♦ 5.04.2017

Trần Thị NgH  chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Pháp GABRIELLE của Franck THILLIER

 

clip_image001

Franck THILLIEZ sinh năm 1973 tại Annecy, kỹ sư tin học, hiện sống tại Mazingarbe (Pas-de-Calais, Pháp). Sau thành công từ Chambre des Morts với giải Prix Des Lecteurs (2006) và giải SNCF Du Polar Francais (2007), Franck Thilliez ngưng công việc chuyên môn của mình ở Sollac Dunkerque để dành trọn thời gian cho sáng tác. Chambre des Morts đã được đạo diễn Alfred Lot giới thiệu với khán giả điện ảnh tháng 11 năm 2007. Một tác phẩm khác của ông, La Forêt Des Ombres, cũng đang được Julien Leclercq chuyển thể thành phim.

Franck Thilliez hồn nhiên cho biết tác phẩm của mình có loáng thoáng chút ảnh hưởng của Joel Schumaker, tác giả mà ông rất yêu thích. Le Syndrome E xuất bản tháng 10 năm 2010 và Gataca ra mắt vào tháng 4 năm 2011 bắt đầu cho loạt truyện F.Thillier đầy máu me bạo lực.

Gabrielle nằm trong tuyển tập truyện ngắn dành cho 13 tác giả đương đại của Pháp – 13 À Table do Pocket xuất bản năm 2014.

 

 

 

 

clip_image003

 

 

Hẻo quá, năm nay chỉ có lèo tèo vài con cá hồi.

Cả Gabrielle và tôi đều không biết vì sao. Thường khi chúng tụ tập hàng triệu con trong vịnh để tận dụng dòng nước ngược từ ngọn thác lớn cho việc sinh sản. Chúng tôi tìm kiếm, sục sạo cả khu vực với hi vọng nhìn thấy những cái vẩy bạc của chúng nhô lên mặt nước, nhưng tuyệt nhiên không có lấy một mống. Nhìn nhau không nói gì nhưng hẳn hai chúng tôi đều có cùng một ý nghĩ: sắp có thảm kịch.

Trái với lũ cá hồi, bọn gấu xám Bắc cực lại đúng hẹn, chúng đông đảo đổ về, đếm được 64 gấu lớn và 9 gấu con, so với năm ngoái thiếu mất 3 con. Chúng xuống từ những ngọn núi, từ sườn dốc um tùm cây cối, đôi khi vượt hàng trăm cây số chỉ để thưởng thức bữa ăn thịnh soạn kéo dài 4 tuần. Trong thời gian này, bọn gấu xám buộc phải tăng trọng lượng gấp đôi mới có thể trụ được 7 tháng ngủ đông. Mục tiêu tối thượng là mỗi ngày phải nuốt cả mỡ, da và óc của ít nhất 8 con cá hồi. Phải ăn, bằng bất cứ giá nào.

Trước mặt chúng tôi là các gấu mẹ cùng gấu con, và các chiến binh cao niên như Josh hoặc Reynald, với đôi chân nhanh nhẹn băng xuyên qua không biết bao nhiêu đồng cỏ thuộc Nam Alaska, lang bạt kỳ hồ không thua gì chúng tôi.

Cả Bann nữa chứ.

Bann là con gấu xám to nhất mà chúng tôi biết. Chúa tể của khu vực. Nó chắc phải cân nặng đến 500 ký-lô. Mõm đầy sẹo, lỗ tai bên phải bị đứt đôi, kết quả của một nhát cắn chí mạng từ đối thủ mà rốt cuộc đã bị Bann cho đo ván. Đứng bằng hai chân sau, nó có thể tước vỏ cây tuốt trên cao 3 mét rưỡi. Nếu bạn đang đi trong rừng bỗng phát hiện những mảng xước ấn tượng như vậy trên thân cây có nghĩa bạn đang ở trong lãnh địa của nó. Mà ở trong lãnh địa của nó thì kể như tàn đời. Vô số gấu xám đã phải trả giá cho sự lơ đãng hoặc sự gan lì của chúng.

Bann không có thiện cảm với chúng tôi, chưa bao giờ. Điều đó thể hiện rõ trong đôi mắt tròn nhỏ xíu xoay xoáy nhìn chúng tôi, trong bước chân võ sĩ sumo nặng nề khi nó xáp gần dãy hàng rào điện quanh lán trại được dựng giữa đồng. Khi thấy nó tiến về phía mình, chúng tôi luôn thụp người xuống, đầu cúi thấp. Nhìn thẳng vào mắt một con gấu xám không khác chi phát tín hiệu thách thức.

Sau đêm thứ ba vẫn không có cá hồi, tôi quay sang nhìn Gabrielle, nàng hiểu ngay tôi có điều muốn nói. Nàng nằm ngay cạnh tôi, bất động. Mái tóc dài xám che khuất một bên khuôn mặt với những nét rắn rỏi hằn sâu qua nhiều năm tháng, thời gian cả hai chúng tôi trầy trật chung sống giữa bầy gấu xám. Một vết sẹo lớn vắt ngang phần mặt nhìn nghiêng phía trái, kéo từ trán xuống cằm, nhưng giờ tôi không còn nhìn thấy nó nữa. Chúng tôi nằm cuộn người trong chăn. Mùa đông đang chầm chậm tới. Cuối chân trời, những ngọn núi đã trắng xóa dưới ánh sao đêm.

– Mình phải đi thôi em, tôi nói với Gabrielle. Với những gì xảy ra ngày hôm nay thì…

Im lặng bao trùm lấy hai chúng tôi. Không còn nghe gì khác ngoài tiếng gió thổi trên vải lều, âm thanh rì rì phát ra từ máy phát điện bên ngoài. Sáng nay, Karo, con gấu cái vô cùng nhu mì nhủ mĩ của Bann, đã thịt một chú gấu con và khiến gấu mẹ bị thương nặng. Karo đã mang cái xác nhỏ nhắn đến chân vách đá dựng đứng ở phía nam của vịnh. Rất có thể nó đã chén sạch.

Lần đầu tiên sau hai mươi lăm năm tôi mới có ý nghĩ ra đi trước khi kỳ nghỉ kết thúc. Chúng tôi có mặt ở đây từ hồi tháng năm, thường thì sẽ cuốn gói vào cuối tháng chín, nghĩa là trong 3 tuần nữa.

– Em muốn ở lại, Gabrielle trả lời tôi sau một lúc lâu suy nghĩ. Nếu có chuyện gì xảy ra thì mình phải có mặt ở đấy chứ. Phải ghi hình tất tần tật để cho mọi người xem. Mình không làm thì ai làm đây?

Gabrielle cũng có hơi điên điên, tôi luôn tự nhủ rồi có ngày nàng sẽ toi đời vì một con gấu, do đôi khi nàng quá liều mạng. Nàng nhìn thật lâu vào mắt tôi, kề môi đến gần rồi hôn tôi. Tôi sáu mươi chín tuổi, nàng sáu mươi bốn. Lụm cụm rồi, xương cốt rệu rã rồi, từ năm này sang năm khác chúng tôi lo ngại sẽ không còn sức để đến đây kề cận với mấy con gấu xám của mình nữa. Chúng tôi yêu chúng còn hơn cả yêu con người.

– Vậy ta ở lại thêm chút thôi, tôi nhượng bộ. Nhưng bọn chúng quá đói và có thể trở nên nguy hiểm… Ta trở lại chòi của Warren em nhé?

Cái chòi tồi tàn ở cách đây 10 cây số về phía Bắc, nằm ngoài lãnh địa của bọn gấu xám. Phải đi bộ gần 3 giờ đồng hồ mới đến nơi. Kể từ khi vợ qua đời, Warren hoàn toàn mất trí. Lão tự cắt đứt quan hệ với thế giới và cuộc sống văn mình điên đảo để đến đây, giữa chốn hoang vu.

– Đồng ý, nàng đáp lời tôi với một nụ cười.

0000

Trong thành phố lớn cách xa tít mù nơi đây, người ta gọi chúng tôi là “cặp đôi Gấu Xám”. Phần lớn trong số họ chẳng hiểu gì chúng tôi cả. Họ không biết chi về thiên nhiên, về sự mong manh trong cân bằng sinh thái, và nghĩ chúng tôi là những kẻ tào lao, thậm chí điên khùng. Chúng tôi sống giữa những sinh vật to xác, quan sát, tiếp cận nhưng luôn khi cảnh giác không đặt chân vào lãnh địa của chúng và trân trọng chúng. Ngay cả đại ca Bann cũng quen với sự hiện diện của chúng tôi. Khi trong người quạu quọ, hắn chỉ cần đứng sựng lên là chúng tôi biến. Có lần Gabrielle muốn nghênh mặt với hắn. Chuyện xảy ra 5 năm trước, tôi cho là thế. Nỗi kinh hoàng lớn nhất trong đời tôi.

Vậy là chúng tôi tự xoay xở lấy. Hai lán trại được dựng cách nhau khoảng mươi thước, mỗi lán có hàng rào điện vây quanh. Một hệ thống phát điện chính tải điện đến một máy phát điện nhỏ có công suất 5.000 volt. Bọn gấu xám biết rõ chúng không nên bén mảng. Chúng tôi hiếm khi thấy chúng đến gần các sợi dây cáp cao thế ở cự ly 5, 6 thước. Lán 1 để ngủ nghê. Lán 2 để ăn uống, nơi chứa thức ăn dự trữ, xăng cho máy phát điện và các máy móc quay phim.

Sau 7 ngày không có cá hồi, tôi cho việc tiến sát bờ sông để quay phim là quá liều lĩnh, cho dù Gabrielle có nài nỉ. Bọn gấu xám men theo sóng, đứng bất động để rình chờ một chút động đậy, chúng lội lên bờ rồi lại xuống nước hoang mang không biết phải ở đâu cho đúng. Chúng không hiểu vì sao lại không có thức ăn, chúng thậm chí dò xét nhau, tay nào may mắn túm được một em cá bất hạnh liền nuốt ngay lập tức trước khi nổ ra tranh chấp.

Nhiệt độ bắt đầu xuống thấp, ngày ngắn lại, áp lực mùa đông trở nên càng lúc càng gay gắt. Các gấu mẹ mỗi giờ trôi qua lại thêm gan tợn; bị thúc đầy bởi bản năng, chúng lặn sâu hơn xuống dòng sông, không còn lo chăm chút bọn gấu con, thế là các nhi đồng cũng nhào xuống nước theo mẹ chúng.

– Kinh khủng quá, những gì xảy ra trước mắt chúng ta thật kinh khủng, Gabrielle thì thầm.

Nước mắt ràn rụa nhưng nàng vẫn tiếp tục ghi hình bằng cái máy quay vác trên vai lúc nào cũng ở tình trạng hoạt động. Cũng như tôi, nàng luôn vạch một lằn ranh giữa tình cảm về sự bất công và những hình ảnh mà chúng tôi nhất quyết phải trưng ra cho đời sống văn minh nhìn thấy. Chúng tôi muốn cho mọi người biết những qui luật thiên nhiên khắc nghiệt, sự xáo trộn mà cuộc sống hiện đại đã gây ra tận những vùng đất xa xôi hẻo lánh nhất.

Điều gì đã khiến cho lũ cá hồi thôi không đến đây nữa? Máy móc, công nghiệp, ô nhiễm, hệ thống điều hòa không khí… Tất cả những cái này bọn gấu xám làm gì biết được, chúng được lập trình để đến đúng địa điểm và chờ cá đến hẹn lại lên. Như thể điều này đã ăn sâu trong máu từ đời này qua đời khác, cái dạo còn có nhiều cá hồi đến nỗi chúng tràn họng, vừa chén xong đã nhè cả ra trên mấy tảng đá.

Cách chỗ chúng tôi 30 thước, giữa những đợt sóng, Bann vừa mới đứng thẳng trên hai chân sau rồi lại nặng nề buông người xuống hai chân trước. Những vạt nước do hắn làm bắn lên thật ấn tượng, tiếng gầm kinh thiên động địa của hắn vang vọng đến tận vách đá. Hắn phẫn nộ? Hắn cam chịu? Hắn có hiểu chuyện gì đang xảy ra? Chuyện gì đang chờ đợi mình?

Hắn quay cái đầu to đùng về phía chúng tôi và nhìn chăm chăm không nhúc nhích. Hắn đánh hơi trong không khí. Ngọn gió nhẹ đã đưa hơi người của chúng tôi đến tận mũi hắn. Tôi thu gom chân đế máy ảnh, bình xịt hơi cay và nắm lấy bàn tay của Gabrielle.

– Tốt hơn mình nên về lại lán trại đi em.

Trong lúc vội vàng hấp tấp, Gabrielle bị kẹt chân giữa hai tảng đá. Nghe có tiếng “rắc”.

0000

Trong lán trại 2, ngọn đèn bão tỏa một ánh sáng dìu dịu trên đầu chúng tôi. Vải lều màu đỏ gợn nhẹ mềm mại. Bóng khuôn mặt Gabrielle chập chờn trong ánh đèn. Mắt cá chân được quấn băng khử trùng, giờ nàng đã có thể đặt chân xuống đất, đã có thể xoay nhẹ người nhưng không thể đứng lâu hơn hai giây. Nàng bị bong gân tính ra đã năm sáu lần kể từ ngày chúng tôi đặt chân đến vùng đất bất an này. Vợ tôi là người cứng rắn, không biết than thở là gì, lại còn nghĩ đó là điềm buộc chúng tôi phải ở lại cho đến cuối tháng chín. Tôi thì tôi nghĩ ngược lại, đó chính là cái lý do bắt chúng tôi phải rời đi. Tôi đề nghị với nàng nên trở lại chòi của Warren đồng thời kết thúc sứ mệnh của mình, nhưng một lần nữa nàng dứt khoát không chịu. Tôi ghét phải chống lại nàng.

Món đậu lăng nấu với xúc xích trên lò tỏa ra hơi nóng dễ chịu. Tiếng xèo xèo, mùi thịt thơm, chúng tôi dùng chung một cái dĩa duy nhất vì cái kia đã vỡ. Nuốt thức ăn mà cổ họng chúng tôi như nghẹn lại, cảm thấy đau lòng khi mình được ăn uống trong khi chỉ cách đó vài mét những con gấu xám đang đói lả. Nhưng đành bất lực. Chúng tôi đã thề không bao giờ can dự, không bao giờ làm nhiễu nhịp sống của chúng hay làm ảnh hưởng đến trạng thái cân bằng tự nhiên. Đôi khi điều này thật khó. Hai năm trước tôi đã từng thấy một chú gấu chết đuối ngay trước mắt, tôi đã có thể cứu nó nhưng rồi không ra tay. Qui định là qui định.

– Vài con gấu đực bắt đầu sục tìm sò đốm ngoài vịnh, Gabrielle nói. Có thể nói cuối cùng chúng đã vỡ lẽ ra là không còn cá hồi nữa. Nhưng phải cần đến bao nhiêu ốc sò để thay cho lượng mỡ có được từ cá hồi chứ? Mỗi ngày trôi qua chúng càng kề cận cái chết. Chúng cảm nhận được điều đó, em cam đoan thế.

Vợ tôi đau đớn, tôi biết. Không phải về thể chất mà về tinh thần. Lần này nàng hoàn toàn bị chế ngự bởi cảm xúc. Những con gấu xám, đàn gấu của chúng tôi, nằm trong số những con cuối cùng của địa cầu. Chúng sẽ tuyệt chủng trong mùa này. Tôi cố gắng trấn an nàng, rằng có lẽ mùa đông này sẽ ngắn hơn, ít khắc nghiệt hơn những năm trước, và rằng rốt cuộc chúng sẽ sống sót thôi.

– Bọn chúng đang đến gần lán trại, tôi nói thêm. Hồi chiều này anh có thấy một con chỉ cách hàng rào chừng một mét. Trước giờ chúng chưa hề làm thế. Anh thật tình nghĩ mình phải nhổ trại em à.

– Đừng nói đến chuyện nhổ trại, đồng ý? Mình sẽ quay phim cho đến cùng.

Thình lình tiếng rè rè đều đều của máy phát điện bị nhiễu mạnh một lúc lâu. Ngạc nhiên đưa mắt nhìn nhau trân trối, chúng tôi lặng người đi, rồi giật mình nghĩ đến cái máy chủ chuyền điện vào hàng rào. Chúng tôi quên thở trong 10 giây, chịu trận vì bất lực. May thay máy hoạt động trở lại. Tôi đặt dĩa đậu lăng xuống rồi đứng dậy.

– Mọi thứ có vẻ ổn, dù gì anh cũng phải ngó qua một cái.

Tôi xỏ tay vào chiếc áo khoác, kéo phẹc-ma-tuya kín cổ và bước ra ngoài, tay xách theo một ngọn đèn khác. Trời tối đen như mực, không có lấy một vì sao, gió thổi quần quật. Máy phát điện được đặt gần đấy, trên cỏ, bên trong một thùng gỗ nhằm làm giảm bớt tiếng ồn động cơ. Lạnh cóng người, tôi giở nắp thùng, dùng đèn pin quan sát từng bộ phận khác nhau. Dây cu-roa, phần tĩnh điện, máy phát điện xoay chiều…Tôi mở bình đựng dầu, mực dầu đang ở vạch an toàn. Tôi cũng thử tìm dấu vết rò rỉ hay ngóc ngách nào trục trặc, tuyệt nhiên không thấy gì. Báo động giả thôi.

Xung quanh có tiếng xào xạc. Tôi cầm đèn chạy vào trong bóng đêm. Một cái bóng nhô ra trong vùng sáng, rồi thêm một cái bóng khác hơi xa hơn. Hai con gấu xám đang đến gần sát hàng rào, chúng đi vòng quanh lán, mõm to ẩm ướt háo hức hít lấy hít để không khí.

Tôi quay trở vào lán.

– Máy phát điện của mình vẫn chạy tốt. Nhưng mấy con gấu đang ở quanh đây.

Gabrielle lết ra cửa, dùng đèn pin sục sạo mảng bóng tối.

– Em có thấy chi đâu.

– Anh thấy chúng rành rành như đang nhìn thấy em đây này.

Sau bữa ăn Gabrielle rửa chén, tôi lau khô. Chúng tôi dọn dẹp xong thì bước ra ngoài. Vợ tôi một tay cầm đèn, tay kia choàng qua vai tôi để tôi đỡ nàng đi. Mấy con gấu quái quỷ đã biến mất. Sau khi quan sát tình hình xem có thể băng qua lán 1 chăng, tôi mở cổng cài, vất vả đi qua 10 mét để đến lán ngủ, khi vào được lán, chúng tôi bèn nằm vật ra giường.

Ngày mai bọn gấu xám đã đói đến ngày thứ mười lăm. Chúng sụt cân trong khi lẽ ra phải tăng trọng ít nhất 500 gam mỗi ngày để cầm cự mùa đông. Rốt cuộc rồi sẽ ra sao đây?

Đúng ra trọn ngày hôm nay tôi đã chẳng nhìn thấy chú gấu con nào.

0000

Bọn gấu xám không có thức ăn đến ngày thứ mười bảy rồi, tôi chịu hết xiết: chỉ muốn đi về chòi của Warren. Bế tắc, chúng bèn rời thác lũ, quay lại đồng cỏ hoặc bãi biển để tìm bất cứ thứ gì có thể nhá được: ốc sò, rễ cây, quả mọng. Hàng chục con vây quanh khu lán trại chúng tôi đang ở, chờ bắt gặp ánh mắt của chúng tôi, gầm gừ, đe dọa. Bann rất thường đứng thẳng trên hai chân sau, làm chúng tôi phát khiếp trước kích thước bề thế và sức mạnh của nó. Gabrielle thích ghi hình hắn vào những lúc như thế. Bann là hiện thân của cái chết.

Chúng tôi khó thể ra khỏi nhà tù của chính mình, phải đợi hướng gió thuận lợi, có nghĩa là hướng từ đồng cỏ ra vịnh để bọn gấu xám không đánh hơi được mùi người và để dụ cho chúng tránh đến gần hàng rào.

Mới đây trên đường từ lán này sang lán kia tôi suýt bị một con gấu cái tấn công. Tôi chạy trốn sau hàng rào chuyền điện, nhìn thấy Gabrielle nằm sát đất để quay phim cảnh đó. Có lẽ nào nàng vẫn cứ ghi hình ngay cả khi tôi đang bị xơi tái? Nàng sẽ đi đến cùng để có bài tường thuật về những bức ảnh quỷ tha ma bắt của nàng?

Rõ ràng là nàng không ổn rồi.

Tôi cẩn thận sắp xếp thức ăn đông lạnh trong lán vì không muốn kích động bọn gấu bằng mùi thực phẩm.

– Mình ở lại thêm một ngày nữa đi, Gabrielle nói. Chỉ một ngày thôi. Rất có thể mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại Bann, Josh hay Alice, hay bất cứ con nào khác….Mình đâu thể bỏ đi như thế. Em muốn ngồi ngoài kia lần cuối, nhìn chúng cho đến khi đêm xuống. Ngày mai trước khi mặt trời mọc, nếu hướng gió thuận lợi, anh men theo vịnh về chòi của Warren tìm lão ấy rồi hai người đến đón em, có được không?

Gabrielle vuốt ve má tôi, cằm tôi, và mỉm cười buồn bã.

– Được rồi, tôi đáp. Môt ngày và một đêm nữa thôi nhé.

0000

Tôi mở mắt và cứ nằm thừ ra đấy, bất động.

Một sự yên tĩnh lạ thường đã đánh thức tôi dậy.

Gabrielle cũng choàng tỉnh vì sự im lặng bao trùm. Tôi bật ngọn đèn pin nhỏ và soi ngược lên hai khuôn mặt của chúng tôi. Những đường nét và những nếp nhăn hằn trên đó tựa những cái rãnh sâu ôm giữ ánh sáng. Bóng tối xung quanh như vây khốn ánh mắt xanh lạnh lẽo của chúng tôi.

Không cần phải thốt ra lời, cả hai chúng tôi đều hiểu là máy phát điện đã ngừng hoạt động. Tôi đặt tay lên đèn bấm của Gabrielle và tắt nó đi.

Cây cối xung quanh xào xạc. Qua nhiều năm tháng, tôi học được cách nhận ra bọn gấu xám căn cứ vào bước chân, biên độ dao động và nhịp đi của chúng. Giờ thì tôi nghe ra tiếng chân nặng nề và chậm chạp của Bann. Tôi hình dung những cái vuốt dài 15 phân của hắn ấn thật sâu xuống đất đến nỗi làm bật cả gốc rễ, hoa cỏ. Hắn đang đến gần, rất gần.

Tôi xiết chặt bàn tay Gabrielle và giữ nó trong bàn tay mình.

– Bann sắp đến và sẽ vượt rào.

– Không đâu, nàng trầm tĩnh nói. Bann sẽ không làm hại chúng ta.

– Hắn sẽ thịt mình không chút do dự. Đó là một con vật bản năng, tàn bạo dẫu cho hắn biết chúng ta đã 25 năm.

– Dù gì đi nữa đâu có cách nào để biết hàng rào không còn tác dụng. Hắn đã bị điện giật nhiều lần trong quá khứ, và biết rõ giới h….

Câu nói của nàng bị ngắt ngang bởi tiếng chén dĩa vỡ loảng xoảng. Cả hai đều nín thở. Chúng tôi nghe tiếng lạo xạo của đồ nhựa và ny-lông, tiếng bể rào rạo của thủy tinh, tiếng va chạm của các vật dụng bằng kim loại, và tiếng thở hổn hển của bọn gấu. Thu hết can đảm tôi lê chân ra cửa lán trại, cắn chặt xương quai hàm, nhẹ nhàng kéo phẹc-ma-tuya tấm vải lều, nhìn ra. Một con gấu xám đã đột nhập vào lán 2. Hàng rào điện đã tróc gốc, thức ăn dự trữ của chúng tôi vương vãi khắp nơi trên cỏ. Vải lều rách bươm nằm sóng soài trên mặt đất. Bọn gấu đánh hơi, xé toạc những bịch giấy đựng bột, đựng gạo…Mấy con khác, bị lôi kéo bởi tiếng động, cũng mon men đến gần. Tôi nhìn thấy những cái mõm đen của chúng nhô ra từ trong bóng tối. Tất cả đều bải hoải mệt mỏi, gầy rạc, nhưng vẫn còn đủ khả năng để lấy mạng chúng tôi chỉ bằng một cái nhích chân. Gabrielle bước đến cạnh tôi, tay cầm máy quay đã được cài chế độ hồng ngoại và bắt đầu ghi hình.

– Nhìn kìa anh. Bọn chúng đến từ tít mù ngoài đồng cỏ và mình chưa từng thấy chúng đông đến thế cùng một lúc, chen chúc sát cánh, nàng thì thầm. Bình thường là đã tàn sát lẫn nhau rồi. Có thể nói chúng hiểu rằng đây là cơ hội duy nhất còn lại. Rằng cái lán nhỏ với những thứ chúng chưa hề biết đến trước đây là hi vọng sau cùng. Em muốn mang những hình ảnh này về theo chúng ta. Sẽ cho các trường học và các xí nghiệp nhìn thấy, sẽ giải thích với mọi người thiên nhiên đã bị xáo trộn như thế nào.

Tôi không có can đảm để trả lời nàng. Nàng quá cứng đầu. Tôi bứt một nắm cỏ và tung lên không. Những cọng cỏ bay về hướng vịnh. Tôi quay vào trong lán quơ lấy vài món đồ.

– Mình phải rời lán ngay để về chỗ của Warren.

– Mình?

– Phải đi thôi. Thế nào chúng nó cũng vào được lán và phanh thây chúng ta. Hướng gió tốt đấy, trời vẫn còn tối. Anh sẽ đỡ em, mình sẽ về đến đấy mà.

Gabrielle lắc đầu, nước mắt lưng tròng. Tôi quỳ xuống trước mặt nàng,

– Ta không làm gì được cho bọn chúng đâu. Làm ơn đi em, đừng để anh phải đi một mình.

Gabrielle co bàn tay lại trên đầu giường.

– Em sẽ làm anh chậm chân mất thôi. Đi cả hai người thì không có cơ may thoát. Anh đi trước rồi cùng Warren trở lại đón em.

Tôi do dự rất lâu trước khi quyết định. Tôi xỏ tay vào chiếc áo khoác dày cộm, mang giày và đút cái đèn pin vào túi. Tôi ấn cả hai bình xịt hơi cay vào tay Gabrielle.

– Vậy còn anh thì sao? Nàng hỏi.

– Anh sẽ xoay xở được. Nếu bọn chúng tấn công, em cứ nhắm vào mũi chúng mà xịt, đừng nhắm vào mắt.

Tôi ôm ghì lấy nàng, xiết chặt nàng vào ngực.

– Chúng ta đã cầm cự được 25 năm, nàng nói, và cả hai chúng ta vẫn còn nguyên đây.

– Cả hai chúng ta…

– Mọi thứ sẽ tốt đẹp thôi.

Gabrielle vẫn luôn luôn muốn chết cùng bọn gấu, nàng không nói ra, nhưng tôi biết điều này từ lâu lắm rồi. Tôi không muốn bỏ nàng lại đây, trái lại muốn cứu lấy mạng sống của nàng, rứt nàng ra khỏi móng vuốt của chúng. Thời gian chỉ còn đếm từng phút.

Tôi bước ra ngoài, lảo đảo phía sau lán trại rồi chui qua giữa hai sợi dây cáp căng ngang chỗ trú của chúng tôi. Gió thổi mạnh nhưng thất thường, xoáy tròn, quất ngang quất dọc vào người. Tôi cố chạy nhanh hết sức lực còn lại, ngoái nhìn xem chúng có đuổi theo sau lưng. Tôi nghĩ mình đã vượt qua được, đã ra đến vịnh; tôi đi ngược lên phía sông rồi băng qua sông. Nước tuôn sùng sục làm lạnh cóng hai gối. Tôi quay đầu nhìn đồng cỏ lần cuối, ngó thấy điểm sáng nhấp nháy của máy quay phim.

Gió bắt đầu xoáy lốc tàn bạo quất thẳng vào mặt. Tôi không biết nó có đủ mạnh để đưa mùi hơi người của tôi đến tận mũi bọn gấu chăng, nhưng tôi cứ tăng tốc. Bật đèn pin lên, tôi băng người qua các lùm cây bụi cỏ, đạp nhầu lên những cành lá mục và dương xỉ. Trái tim mệt mỏi đập thình thịch, tôi nghĩ đến Gabrielle hiện chỉ có một mình trong lán.

Bằng bất cứ giá nào cũng phải quay trở lại đón nàng trước bình minh, mang theo cả súng.

Tôi nghe tiếng nước róc rách phía xa trước mặt. Coi như đã đi được kha khá; chính vị trí cái thác nhỏ cho tôi biết mình đã vượt qua được nửa chặng đường. Nước sông ở đây cạn đến nỗi, mọi khi cùng với Gabrielle, chúng tôi có thể lội qua lội lại suốt thời gian đi tới đi lui lãnh địa của bọn gấu xám. Nhưng càng đến gần tôi càng nghe rõ một âm thanh kỳ lạ. Như thể tiếng vỗ tay.

Những tiếng lách tách lạ tai khiến cổ họng tôi như bị chặn ngang, tôi rọi đèn lên mặt nước lúc bấy giờ trông chẳng khác chi một mặt biển dát bạc. Thật không thể tin ở mắt mình: hàng ngàn con cá hồi đang bị mắc cạn, kẹt giữa những tảng đá, không thể trở lui vì chúng đông nhung nhúc. Chỉ một vài con bơi lách qua được nhưng số còn lại đang vùng vẫy, chết thành đống chồng chất lên nhau, mồm miệng toang hoác, chính số lượng quá đông đã gây ra thảm sát. Chúng đã di chuyển ngược lên một ngọn thác quá hẹp, lại không đủ sâu, chỉ cách lãnh địa của bọn gấu xám vài cây số thôi.

Bọn gấu đang chết mòn vì đói ở đầu kia, trong khi nguồn thức ăn đang ngồn ngộn ở đầu này.

Thiếu hụt quá cũng chết, mà dồi dào quá cũng tiêu đời.

Tôi muốn chết theo những sinh vật đáng thương với bản năng đã bị sai lệch và bị con người phá hỏng. Tôi gào lên tuyệt vọng, gieo mình xuống nước, hốt lấy hốt để những con cá hồi ném lên bờ, mỗi lần túm hàng chục con, cố gắng mở lối cho những con khác. Tôi đã chán việc án binh bất động, việc tránh không can dự vào thiên nhiên; chúng đau đớn vì chúng ta, thiên nhiên không chịu trách nhiệm và không tự nó giải quyết được. Nhưng những cái lỗ thoát do tôi moi ra ngay lập tức lại đầy nhóc cá, trong số đó có nhiều con to đùng.

Tuyệt vọng, tôi đành đi tiếp, tâm trí luôn nghĩ đến Gabrielle. Tôi muốn cứu nàng rồi sau đó cả hai chúng tôi sẽ đi đến một nơi khác. Tôi không thiết trở lại thành phố, đọc những tờ nhật báo của bọn họ, nghe thông tin từ đài phát thanh của bọn họ. Tôi muốn trải qua phần cuối đời giữa thiên nhiên, trong an bình, tránh xa tất cả những thứ đó.

Tôi về đến căn chòi của Warren khi những tia nắng đầu tiên của ngày xuyên thủng màn đêm âm u. Ở đường chân trời, các ngọn núi đã lộ rõ dáng, chúng là thành lũy che chắn bảo bọc tôi khỏi phần còn lại của thế giới, tôi sẽ làm cho thành lũy này kiên cố thêm, thêm nữa trong những năm còn lại của đời mình….Còn hiện giờ đây tôi chỉ có thể ngắm chúng từ xa, và như thế đã là quá đủ.

Warren đang ngồi trong ghế xích đu trên bậc tam cấp, bên cạnh là cần câu, sọt cá và thịt khô dự trữ. Lão đang hút ống vố một cách nhàn nhã. Warren cau mày khi nhìn thấy tôi về đến nơi, mệt lả và dơ dáy. Hai chúng tôi xấp xỉ tuổi nhau, bộ râu hàm của lão dài gấp đôi của tôi.

– Có chuyện gì thế?

– Gabrielle. Cô ấy đang nguy.

Tôi vào sâu trong chòi lấy một khẩu súng cho tôi và đưa cho lão một khẩu. Lão già chẳng thèm nhúc nhích cục cựa, chỉ thở dài.

– Gabrielle đã chết cách đây 5 năm rồi Pierre. Năm đó bọn cá hồi lũ lượt kéo về sai địa điểm. Ông đã đến đây nhờ tôi giúp. Chúng ta đã không cứu được cô ấy. Bann đã quật vào mặt làm cô ấy thiệt mạng.

– Ông nói gì thế? Gabrielle đang chờ chúng ta. Nào, đi nào!

Lão lắc đầu.

– Vậy thì tôi đi một mình.

– Chờ chút…

Warren chỗi dậy từ ghế xích đu, vào trong rồi trở ra với một máy quay phim nhỏ. Lão thở dài đánh thượt.

– Băng ghi hình sau chót vẫn còn ở trong ấy. Cái đoạn phim mà Gabrielle đã quay cho đến cùng. Ông xem nó không biết bao nhiêu lần rồi. Mà lần nào cũng quên. Ông trở về thành phố, đáo lại mỗi năm, dựng lán giữa đồng…Xong chạy về chỗ tôi đòi lấy súng…thật đau lòng để cho ông xem lại cuốn phim. Nhưng mà…thôi coi đi.

Tay tôi run lẩy bẩy ấn vào nút “đọc”.

Warren đi sâu tuốt vô rừng hẳn vẫn còn nghe tiếng tôi gào rống.

Năm sau tôi lại quay về đồng cỏ.

Cỏ thật đẹp, xanh mướt, với cơ man là hoa và hoa. Tôi đi tìm những con cá hồi trong vịnh, muốn nhìn thấy chúng vượt thác, bụng đầy trứng, thân óng ánh vẩy bạc dưới nắng. Tôi tìm bọn gấu xám khỏe mạnh, sẵn sàng đánh chén đến no nê.

Mấy cái lán trại được dựng lên giữa ngàn xanh, có hàng rào điện vây quanh. Vải che lán 1 thình lình lay động; nghe tiếng phẹc-ma-tuya kéo lên, tôi cười rạng rỡ. Gabrielle ra dấu báo cho tôi biết bữa ăn đã sẵn sàng.

bài đã đăng của Franck Thilliez


1 bình luận »

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    Nếu đây là Facebook thì đã có chỗ cho tôi để lại một cái “Like” rồi :)

    À không, một cái “Love” (bằng một trái tim thật lớn) mới đúng.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch