Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Nhận Định Email bài này

Đỗ Trọng Khơi: Người ghép lại thời gian xô lệch

 

 

Đã từ khá lâu rồi tôi không đọc thơ lục bát. Cứ thấy lục bát trên những tạp chí văn học hay những trang mạng là tôi thản nhiên bảo mình lơ qua chỗ khác, không quan tâm tác giả là ai. Điều này quả tình không nên không phải, nhưng biết sao bây giờ. Vì đó là phản xạ tự nhiên từ những suy nghĩ về thơ lục bát của tôi. Xin đừng có vị nào hiểu nhầm là tôi xem thường thơ lục bát. Chẳng những không xem thường mà tôi trân trọng lục bát như thứ võ công thượng thừa, phải những hào khách đầy đủ bản lĩnh và nội công mới có thể thi triển được.

Lục bát, dĩ nhiên là câu trên sáu câu dưới tám và chữ cuối câu trên vận với chữ thứ sáu câu dưới. Những cố gắng cách tân bằng hình thức đều miễn cưỡng và phá hỏng thơ lục bát. Nhất là những hình thức cầu kỳ lại càng làm thơ lục bát trơ trẽn và lố bịch như tô son trát phấn cho những cô thôn nữ mặc áo tứ thân, váy đụp hay áo bà ba quần lãnh Mỹ A. Tuy nhiên thơ lục bát mà câu trên vần “e” câu dưới vần “è” thì sẽ thành vè mất thôi! Hình thức mộc mạc đơn giản nhưng nội dung lại phải hàm súc. Vẫn là lục bát, nhưng điều kỳ lạ là chỉ có thể cách tân lục bát bằng cách sắp xếp câu chữ để thể hiện nội dung sao cho có những ấn tượng cá biệt với người đọc và có thể tạo được những cảm xúc cá biệt với người đọc.

Nhận được tập thơ Ở Thế Gian do Đỗ Trọng Khơi gửi tặng, tôi đọc bài thơ thay lời tựa: “Có người họ Đỗ tên Khơi. Thân như mây nổi tự thời mới ra. Mặt trần gian chửa thấy già. Nghe sương gió vẫn oa oa khóc cười.” Những nét tự họa thật dung dị nhưng hai câu chót như hàm chứa một cái gì đó kỳ biệt từ tác giả, vẽ ra hình ảnh một người đang ngồi chơi puzzle và bức tranh toàn cảnh là nguyên cả một cõi trần gian. “Xót ngày hoang hoải con người. Thời gian mấy mảnh ghép chơi vô cùng.” (Ngày 28 tháng 8, 2008.)

Những mảnh vỡ vụn thời gian được lắp ghép lại, trong từng mảnh có một không gian riêng: “Rêu thì tươi đá thì non. Chim muông ngàn tuổi vẫn còn líu lô. Đã từ bao giở bao giờ. Đào nguyên một gốc ấu thơ Kiều trồng.” Rêu tươi đá non nhưng tiếng líu lo lại là tiếng của chim muông ngàn tuổi. Tiếng chim của bao giờ. Của từ một không gian thời gian nào khác. Thời gian trong thơ Đỗ Trọng Khơi thường là xáo trộn của nhiều mảnh trước sau, nên không gian cũng là xen lẫn giữa hư và thực. Tôi lẩn thẩn nghĩ, phải chi cái thuở Đỗ Trọng Khơi nhìn thấy cô bé Thúy Kiều vun trồng mảnh vườn đào nguyên, chàng ta cứ xông đại vào gùn ghè biết đâu đã nên được một mối tình thanh mai trúc mã như trong bài Trường Can Hành của Lý Bạch. Đùa thế thôi, chứ dù mệnh hệ nào đi nữa thì Tiên Điền Nguyễn Du cũng phải dắt Kiều phong trần lưu lạc mười lăm năm Kiều mới là Kiều. Và trong cõi người hoang hoải hôm nay mới có một Đỗ Trọng Khơi nằm ở Thái Bình ngày ngày chơi trò Puzzle lắp ghép từng mảnh thời gian xô lệch.

Bài Ta về cõi ta dài 14 câu. Tôi muốn làm một người sắc thuốc bắc hay nấu cao quánh đặc nó lại còn 4 câu. Bốn câu gồm câu 7-8, câu 13 và 14. Với bốn câu này, muốn đọc hai câu nào trước cũng được. “Trong bao la một ta ngồi. Một ta chơi với một người là ta. Ta về ở ẩn trong ta. Tấm thân cát bụi như là… thế thôi.” Hoặc là: “Ta về ở ẩn trong ta. Tấm thân cát bụi như là… thế thôi. Trong bao la một ta ngồi. Một ta chơi với một người là ta.” Chẳng phải mười câu kia không hay, nhưng tôi thấy chỉ thấy chỉ cần với bốn câu cô đọng này cũng đã đủ chuyên chở một cách xảo diệu những suy nghĩ cảm xúc và tâm ý mà tác giả muốn gửi gắm.

Tinh thần hình tướng hư vô và sắc không bất nhị bàng bạc trong thơ Đỗ Trọng Khơi. “Mà về thăm thẳm tâm linh. Lặng nghe tịnh vắng xóa hình dáng ta. Mà về hóa giữa dư ba. Trùng trùng sương lá mùa sa kín lòng. Thân một bến tâm một dòng. Một bầu nửa thực nửa không thu bày.”

Hay: “Cũ càng trời chửa thành xưa. Máu xương thoáng đấy đã thừa trăm năm.” Thanh minh. (Ngày 14 tháng 3 năm Quý Mùi.)

Người đọc có thể nhận ra được nỗi cô đơn của tác giả sững sững trong nhiều câu hay bài thơ xuyên suốt tập thơ. Có thể nói, cô đơn là bản sắc nguồn cội của thơ Đỗ Trọng Khơi. Tuy nhiên đây là bài thơ nói về nỗi cô đơn đó mà tôi cho là trọn vẹn và tôi rất thích: Trà đêm. “Đêm này nương thực cầu mơ. Đôi tình ta với trăng xưa bạn trà. Ánh trăng mỏng tựa lụa sa. Vạc đồng thổi gió sau tà áo trăng. Trà vừa mới ngậm nước xong. Hương như thức dậy tận lòng cội cây. Chén nghiêng nghiêng một vóc gầy. Tình xao mặt chén động lay vô cùng. Chân sương gót ngập gót ngừng. Lòng ta đêm thả vào trong lòng trà.

Bài thơ mang phong vị cổ kính nhưng thoáng chút lãng mạn của Đạo gia. Cô đơn phủ ngập bốn bề nhưng dường như lại là không cô đơn. Chén trà, ánh trăng, tiếng vạc, gót sương, và cả hương trà nữa, như vậy xung quanh “cái ta” cô đơn đó đã có quá nhiều thứ. Lại nữa, tiếng chân sương nhẹ như không kia cũng có thể là tiếng chân của ai đó mà “ta” đang mơ hồ chờ đợi. Một nỗi đợi chờ vô thức.

Đỗ Trọng Khơi có những câu thơ định nghĩa tình yêu khá dễ thương. “Là người cao hơn con người. Lại là người thật thường thôi vui buồn.” Yêu. (1990.) Tuy nhiên nỗi cô đơn là người bạn thân thiết nhất của Đỗ Trọng Khơi cho nên ngay cả trong tình yêu tác giả cũng đã dắt tay người bạn ấy cùng đi tìm câu trả lời:

Một con mắt chợt khép mi. Hỏi đâu là nhớ hỏi gì là thương. Rêu sa lối, cỏ lạc đường. Góc trời nắng gió rong chuông tơi bời. Một con mắt thức tìm người. Đêm qua ở giữa làn môi trăng về.” (Ngày 10, tháng 4, 1999.)

Con mắt tri tình đó còn là con mắt nhìn ngược lại vào nội tại thần thức bởi vì đó là cách khép mi để mà nhìn. Cái nhìn Ba la mật, cái nhìn của tâm kinh sâu thẳm. Con mắt này của Đỗ Trọng Khơi có làm tôi nhớ đến con mắt của trung niên thi sĩ Bùi Giáng và hai câu thơ tót vời của ông: “Bây giờ riêng đối diện tôi. Còn hai con mắt khóc người một con.” (Mười hai con mắt. Bùi Giáng.)

Đỗ Trọng Khơi còn có một bài thơ khác cũng có nhắc tới con mắt có thần thức này: trong bài Tháng Mười, cả cánh tay và đầu những ngón tay đã cùng con mắt tiếp xúc được với lằn ranh của cõi Atula. “Sĩu trên mười đầu ngón tay. Ngón sương đậu lạnh ngón cay xót màu. Mặt trăng hằn mấy vết chau. Nghìn trùng về gối mái đầu hoa râm. Những đêm qua cứ như không. Tay một cánh chạm ngọn mênh mông trời. Những đời qua cứ như chơi. Mắt một con chạm đỉnh lời trắng tinh. Tháng Mười đoạn tháng thần linh. Chân một bước lạc ngõ tình thật sâu.” (Ngày 10 tháng 12, 1991.)

Tìm người hay tìm yêu là bằng một con mắt, nhưng không biết là tìm bằng con mắt nào. Con mắt khép mi hay là con mắt đang mở ra. Mở ra trừng trừng nhìn vào hư vô biền biệt. Nhưng dù có tìm người tìm yêu bằng con mắt khép mi hay con mắt mở ra trừng trừng, và dù cho chỉ lạc vào ngõ tình bằng một bước chân thôi cũng là một bước chân sâu hút bất khả phản hồi. Bởi vì khi một con mắt ấy đã chạm vào đỉnh lời trắng tinh, tức là đã chạm vào đỉnh lời của vô ngôn thì một bước chân đi lạc ấy cũng đã sa vào cõi miền vô định hướng.

Những lời thơ về cảnh thổ, thời tiết của Đỗ Trọng Khơi luôn là những bài thơ đẹp. Đẹp từ thiên nhiên được tác giả vẽ lại và nhất là đẹp từ những cảm xúc tràn đầy của tác giả thấm đượm vào thiên nhiên ấy. Chúng ta có thể nhìn thấy dễ dàng cái tình yêu nồng nàn của Đỗ Trọng Khơi với làng mạc quê anh nói riêng và với thiên nhiên vũ trụ chung quanh anh.

Góc ngày thu. “Xanh đương thăm thẳm là xanh. Nắng khô nắng nỏ nằm khoanh góc vườn. Giọng chim vẽ một nẻo sương. Dải trăng thắt một nét buồn tinh mơ. Không gian y một cảnh chùa. Ngày lên thật mỏng chuông khua lại rền. Thanh âm màu sắc ai têm. Miếng trầu cánh phượng mướt mềm môi thu.”( Ngày 24 tháng 9, 2001).

Và ngay những bài thơ viết về thời khắc trong ngày: Chiều. “Chiều đựng vào một giấc mơ. Nắng trong chiếc áo đã lờ mờ sương. Chân mây liền với con đường. Làng xa gõ một tiếng chuông lên chiều.” Hay thời tiết sang mùa cũng được Đỗ Trọng Khơi cảm nhận một cách tinh tế: Thu đi. “Đêm qua trăng rời bờ tre. Tầm tầm gió động sương se ngọn rào. Thu đi đi tự lúc nào. Sáng ra mấy hạt nắng đào chơ vơ.”

Cũng có những giây phút cái nhìn của tác giả vào vũ trụ thiên nhiên rất bao quát rộng lớn: “Thế gian còn một đôi tay. Nạm sâu thì núi, phơi bày thì non.” Nạm. (Ngày 6 tháng 9, 1991.) Và lãng mạn đa tình: “Liễu trăm tuổi chợt tập yêu. Lấy xanh tơ bẫy tiếng kêu sâm cầm.” Một chiều Hà Nội (thu năm 2000.)

Như đã nói ở bên trên, thơ Đỗ Trọng Khơi bàng bạc một tinh thần hình tướng hư vô và sắc không bất nhị. Tôi đặc biệt tìm thấy một bài thơ thể hiện tinh thần ấy một cách nhất quán, Cõi không gì.Tôi tự chèo lái lấy tôi. Con thuyền bào ảnh là tôi hay là… Là tôi thì tôi sẽ qua. Không là tôi cũng như là thế gian. Tôi tự chèo lấy tôi sang. Khi thuyền rời bến thì tan mất chèo. Tôi là một thế gian nghèo. Vay vũ trụ cõi trong veo không gì. Tôi tự chèo lái tôi đi. Đi cho hết cõi không gì mới thôi.Ngày 12, tháng 9, 1996.

Gate, gate, paragate.” (Vượt qua, vượt qua, vượt qua bờ bên kia. Bát Nhã Ba la mật.) Nhưng có khi bờ bên kia cũng chính là bờ bên này.

Với ý kiến riêng của tôi, hai câu cuối bài thơ này bị thừa. Nếu tác giả “chịu” dừng lại sau khi viết “Tôi là một thế gian nghèo. Vay vũ trụ cõi trong veo không gì” thì bài thơ vẫn vang vọng ngân nga cái dư ba của nó. Những gì tác giả nói ở hai câu chót đó thực ra đã được nói ở những câu trên. Thơ là mật ngôn, tác giả không cần phân tích lý giải hay kết luận. Nhất là loại thơ trầm mặc suy tư. Thơ phải được gửi đi bằng những tín hiệu của tỉnh thức tự tại. Tỉnh thức tự tại là những satna của đốn ngộ.

Có thể nói, hầu hết những bài thơ của Đỗ Trọng Khơi là những chập chờn lãng đãng của người thi sĩ trên cõi trần gian bằng đôi cánh hồi tưởng. Hồi tưởng về một quá khứ đâu đó hay có thể về một tiền kiếp nào khác. Những thời khắc tác giả bừng tỉnh trước thực tại hay hiện tại là những thời khắc héo úa u hoài.

Cây Người. “Ngày mai lá sẽ thôi xanh. Sắc màu vốn thực mỏng manh bao thời. Bốn mươi năm sắp qua rồi. Ta như một thứ cây người trước thu.” Từ độ chưa qua tuổi bốn mươi mà tâm thế của Đỗ Trọng Khơi đã mòn mỏi đến vậy sao. Mòn mỏi và như bị bủa vây bởi thành trì của vô vọng.

Những bức tường. “Những bức tường hò hẹn nhau. Khi ngày dứt sắc cây mau trút vàng. Những bức tường đứng thẳng hàng. Và ăn nhẹ nhẹ nhàng nhàng bóng nhau. Không hi vọng chẳng thương đau. Sao như gạch đá thay màu thời gian.”

Nhưng dù gì đi nữa thì một giây một phút, một ngày sống hay một trăm một nghìn năm sống, với Đỗ Trọng Khơi vẫn là để chiêm nghiệm cái đẹp ở chung quanh, để chiêm nghiệm cái đẹp ở trần gian. Hãy đọc Thư ngỏ của tác giả: “Ngoài hơi thở đã hư không. Ngoài cái đẹp đã bềnh bồng phù du. Nắng vàng đậu nhánh cây thu. Chiều tàn sương lạnh đã vừa ngàn năm.” Thì dù ngày đã tàn, chiều đã hết nắng, và sương bắt đầu xuống lạnh, cái lạnh phiêu phiêu ngàn năm ngàn năm đeo đuổi thì cuộc chơi sẽ vẫn phải còn. Như lời Đỗ Trọng Khơi đã hứa hẹn: Xót ngày hoang hoải con người. Thời gian mấy mảnh ghép chơi vô cùng. Sắp xếp lại thời gian xô lệch là cuộc chơi vô cùng tận của Đỗ Trọng Khơi.

Pennsylvania, 20 tháng 10 năm 2016.

TNH         

bài đã đăng của Trần Nghi Hoàng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch