Trang chính » Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị, Phỏng vấn Email bài này

Đối Thoại với Nhà Văn Nguyễn Viện- kỳ 1/2

LTS: Tiểu thuyết Sinh Ra Từ Trứng của nhà văn Nguyễn Viện đang đăng hàng tuần trên Da Màu và được nhiều độc giả tích cực theo dõi. Vài người đọc đã gửi những thắc mắc  hay phản hồi về toà soạn. Phần phỏng vấn sau đây gồm hai câu tổng kết từ những ý kiến chung của độc giả và phần còn lại do Đặng Thơ Thơ thực hiện.

 

 

Đặng Thơ Thơ: Chào nhà văn Nguyễn Viện. Mong anh cho biết ý tưởng xây dựng Sinh Ra Từ Trứng bắt đầu từ đâu và khi nào?

NGUYỄN VIỆN:
Từ lâu, tôi vẫn nuôi ý định viết một tiểu thuyết nhằm lý giải phần nào cái hôn ám trong định mệnh lịch sử dân tộc Việt.
Dân tộc nào cũng có những huyền thoại hoang đường và hoang đàng. Khi người Việt chọn cho mình huyền thoại khai sinh và lập quốc bằng cuộc tình duyên tiên – rồng và sinh ra trứng, có vẻ như người Việt không thiếu lãng mạn, tự hào và huyền ảo. Nhưng với tôi, việc người Việt không có khả năng thiết lập văn tự cho mình là một kém cỏi đáng hổ thẹn nhất, bên cạnh các sáng tạo nghệ thuật. Chữ Nôm ra đời rất muộn và cũng chỉ là một vay mượn thất bại. Có lẽ vì thế, người Việt đã luôn sống bằng văn hóa của người khác, cho đến tận bây giờ. Huyền thoại một mẹ trăm con của cuộc phối ngẫu tiên – rồng trở thành một mặc cảm tự tôn an ủi tinh thần một dân tộc nghèo túng về văn hóa và luôn bị ngoại bang thống trị.

Điều kỳ diệu là chúng ta vẫn tồn tại như một dân tộc độc lập. Và cũng thật kỳ diệu là chúng ta vẫn lãng mạn, và tự hào, và tiếp tục huyền ảo. Đặc biệt, khi chúng ta anh dũng kiên cường đóng thế vai cho những biến động lịch sử mang tầm vóc thế giới. Một lịch sử như thế không thể không ám ảnh tôi hay những ai quan tâm đến vận mệnh đất nước.

Tiểu thuyết SINH RA TỪ TRỨNG (2015) được bắt đầu bằng lời dẫn của huyền thoại một dân tộc được sinh ra từ trứng. Chất liệu nhân vật và hình ảnh, tôi mượn từ những bức tranh của họa sĩ Nguyễn Sáng, căn phòng áp mái của một họa sĩ khác ở Hà Nội. Và mênh mông thế sự hôm nay. Nhưng có lẽ phải thú thật điều này, sau khi tiểu thuyết ĐĨ THÚI của tôi xuất hiện, cùng với một số truyện ngắn khác cùng thời kỳ, tôi bị cơ quan an ninh điều tra triệu tập với cái án treo lấp lửng trước mặt của điều 87 và 88 Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa Xã hội Chủ Việt Nam – Độc lập Tự do Hạnh phúc, tôi vẫn không thể không viết. Tôi hy vọng rằng, SINH RA TỪ TRỨNG không phải là lý cớ cho việc tôi phải đi tù. Đó cũng là lý do, trong tiểu thuyết này tất cả mọi sự kiện của nó cũng đều gắn liền với những cột mốc biến động của lịch sử vào những thời điểm nhất định mà tôi không tiện dẫn giải, nếu tinh ý bạn đọc sẽ thấy những điều tương thích.

Đặng Thơ Thơ: Có thể hiểu việc Cái Ngọ – người phụ nữ  sinh ra từ trứng – bị  gã buôn đồ cổ Trung Hoa và một người lính Lê Dương hãm hiếp là ẩn dụ của lịch sử Việt Nam bị Tàu và Tây đô hộ, và những đứa con lai là sản phẩm của việc pha tạp trong cách nhìn về lịch sử. Vậy khi cái Ngọ bị ông hoạ sĩ hiếp dâm thì lịch sử ấy nên được hiểu theo cách nào từ phía những người làm nghệ thuật?

NGUYỄN VIỆN:
Ngoài các yếu tố ngoại lai, thì lịch sử dân tộc nào cũng bị/được tác động trực tiếp bởi các yêu tố nội tại. Nếu nhân vật cái Ngọ có thể được coi là biểu tượng cho linh hồn dân tộc, thì nhân vật ông họa sĩ hẳn phải là đại biểu cho nhân dân. Tôi rất muốn nhân dân hùng hổ hãm hiếp linh hồn dân tộc mình, hiểu cả về mặt chính trị lẫn nghệ thuật, không phải để đánh đĩ, tự sướng như huyền thoại tiên rồng, mà chính là cuộc vận động tự thân cho sự sinh thành, tạo dựng nhằm làm thay đổi hiện trạng đang rất bi đát hiện nay. Nếu nhân dân không dám hiếp linh hồn dân tộc của nó thì lịch sử sẽ chỉ là một xác chết và nghệ thuật cũng chỉ là phường tuồng.

Lịch sử dân tộc Việt giống như một dụ ngôn về sự hãm hiếp trường kỳ của Tàu, Tây và Mỹ. Nhưng chính người Việt lại từ chối cái “vinh quang” này. Tôi tin rằng chỉ khi nào người Việt dám “bạo hành” với cái “ngàn vàng” cao quí của dân tộc mình, thì khi đó lịch sử Việt mới được viết bởi chính nhân dân của mình. Lý lịch của những đứa con lai sẽ được gột rửa. Chúng ta tái sinh trong ánh sáng hoan lạc của cái “loạn luân” tông truyền, nội huyết.

Ông họa sĩ của tôi đã hiếp dâm cái Ngọ như tôi mong muốn nhìn thấy tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ dù dấn thân hay trùm mền dám sống thật. Nhưng tiếc thay, tôi chỉ thấy sự bất lương trong kiểu sống hai mặt của hầu hết họ. Tôi thích phát biểu một cách “nhân dân” hơn: Bọn thủ dâm lịch sử hay ngậm miệng ăn tiền chỉ là bọn chó chết.

Đặng Thơ Thơ: Phần đầu truyện đậm đặc không khí hội hoạ. Không gian truyện được bố cục từ tranh, khí hậu truyện được tạo ra từ những mảng màu, nhân vật truyện là những hình tượng thường trực đi lại giữa những khung vải và đời sống. Một nhân vật do chính  người hoạ sĩ tạo ra đã bước vào đời và hành động. Cô nói: “Đất nhà em đã bị cưỡng chế không còn nữa vì thế em tá túc trong bức tranh này.”

“Cô vẽ trên mặt đất một con sông. Rồi cô bước qua con sông. Cô vẽ một ngọn núi. Rồi cô bước qua ngọn núi. Cô quay lại xóa đi những gì đã vẽ. Tôi nhìn trò chơi của cô và liên tưởng đến công việc của ông họa sĩ.”

SInh Ra Từ Trứng đưa ra những đề nghị gì cho hội hoạ và nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay, và về trách nhiệm của người viết?

NGUYỄN VIỆN:
Hình ảnh những dân oan bị cưỡng chế đất đai thất thểu tìm công lý có lẽ đã quá quen thuộc với chúng ta. Và chúng ta, một cách nào đó, hẳn cũng cảm thấy mình đang bị cưỡng chế bứt ra khỏi “quê nhà” và trở thành lưu vong ngay trên chính quê hương mình, bởi một tâm thế bị chối từ quyền con người của mình, bị cấm cửa trong những quyết định về mệnh mình và đất nước mình. Vì thế, tôi nghĩ nghệ thuật phải là cách con người tìm về lại “quê nhà” của mình, xác lập con người tự do cũng như trách nhiệm với cộng đồng. Nếu như nghệ thuật không phải là ý thức của tự do, phá bỏ những rào cản cho tự do và dự phóng cho những chân trời mới, thì mong gì chính trị có thay đổi.

Hội họa hay văn học nghệ thuật nói chung, mưu cầu sự an toàn, nó sẽ an toàn. Và nó sẽ không là gì cả.

Tôi cổ vũ cho mọi thay đổi, làm mới, làm khác. Bởi đó là cách chúng ta hiện diện như một cá thể. Và đó cũng là cách chúng ta tạo cảm hứng cho những thay đổi khác của xã hội.

Đặng Thơ Thơ:Ông nhìn nhận tự do sáng tạo giống như cánh cửa mở được cả về hai phía trong, ngoài. Phía nào cũng có thể là tự do, phía nào cũng có thể là ngục tù. Và ông mắc kẹt ở ngưỡng.”

Như đã nói, phần đầu truyện mở ra không khí đậm đặc chất nghệ thuật và các diễn biến xảy ra mang tính vô cớ của giấc mơ. Những nhân vật phi thực từ tranh đi ra sống động và hoàn toàn có lý trong cách họ hiện hữu, một dạng hiện hữu nội tại. Tuy vậy, nửa phần sau của truyện mở ra hiện hữu bên ngoài, những tranh đấu, những bất công, những đàn áp, trong không khí nặng nề của lịch sử. Những nhân vật trở nên khô cứng hơn, khí hậu truyện mỏng dần nhường chỗ cho những chồng chất của sự kiện. Sự sắp đặt một chuỗi những biến cố để giải trình nguyên lý “sinh ra từ trứng”, một mặt cần thiết cho hướng đi của truyện, mặt khác tạo cảm giác sức tưởng tượng bị hụt hơi. Đây là một sự biến thiên về cảm hứng hay do gắng sức để trình bày hiện thực? “Ngưỡng” ở đây cũng mang tính cách “bản lề”, nhân vật nở ra từ quả trứng 4,000 năm. Có phải việc củng cố chủ đề “sinh ra từ trứng” tạo ra sự mắc kẹt về phương diện nghệ thuật?

NGUYỄN VIỆN:
“Tự do sáng tạo giống như cánh cửa mở được cả về hai phía trong, ngoài. Phía nào cũng có thể là tự do, phía nào cũng có thể là ngục tù.” Vâng, đó là hoàn cảnh của những tác giả trong nước hiện nay. Trong và ngoài một người sáng tạo, có thể là tự do, có thể là ngục tù, tùy thuộc vào chọn lựa của anh ta. Ngoài những vùng cấm của chế độ cai trị độc tài, người sáng tác còn đối diện với chính truyền thống văn hóa của mình, quán tính thẩm mỹ và khả năng tiếp cận cái mới. Một ngục tù do chế độ khoanh vùng và một ngục tù của nỗi sợ hãi tự thân. Nhân vật của tôi bị kẹt ở giữa. Họ quen thuộc với sự trung thành, vì thế sự khác biệt bị coi là phản bội. Một tâm lý của loài cừu, buồn thay, lại rất phổ biến. Cả trong sáng tạo nghệ thuật lẫn đời sống xã hội.

Nếu như phần đầu trong tác phẩm SINH RA TỪ TRỨNG đậm đặc không khí hội họa, thì phần sau, nó đã được mở ra một bối cảnh rộng hơn. Trước hết, nó cần đi hết cái hành trình sinh ra từ trứng như một số phận. Đồng thời, vì nó bước ra từ bức tranh, từ nghệ thuật… thì hướng đi của nó, tất nhiên sẽ phải là cuộc đời. Và cuộc đời thì dẫu chỉ là tưởng tượng hay hiện thực, cũng cần hơi thở. Thực sự, tôi muốn đẩy câu chuyện của mình từ hư cấu như huyền thoại tiên rồng và trứng của nó, đến một hiện thực sát sườn đương thời như một định mệnh của lịch sử. Đó là một lịch sử từ chiều sâu tâm linh đến những oan khiên hiển lộ. Đó là một bước chuyển tuy không đồng bộ trong bầu khí của truyện, nhưng lại tất yếu trong logic của sử lịch một dân tộc vốn sống bằng huyền thoại. Ma đưa lối quỉ đưa đường. Tôi hy vọng người đọc không cảm thấy bị đột ngột vì hiện tượng khí hậu bất thường. Tôi muốn lôi cổ ông nghệ sĩ của mình từ cái tổ kén xuống đường. Tôi muốn cái Ngọ sinh ra từ quả trứng được ấp từ hơn 4000 năm trước sống đời với tôi hôm nay. Tôi muốn phá vỡ cái ảo để nó thành hiện thực. Tôi thích sự ngỗ nghịch bất qui tắc, để hóa giải qui tắc. Tôi muốn thể hiện ngay từ cấu trúc tiểu thuyết của mình những thay đổi, những biến thiên ngoài tầm kiểm soát để cuộc đời hay sáng tạo của mình luôn là những ngẫu hứng. Có lẽ vì thế, ngoài tiểu thuyết THỜI CỦA NHỮNG TIÊN TRI GIẢ được tôi xây dựng cốt truyện từ đầu, tất cả còn lại tôi đều viết không dự định gì trước cho những câu chuyện của nó. Tôi thích để nó “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến”… Đó là cách duy nhất để tôi tiếp cận với sự thật của nghệ thuật, duy trì khả năng sáng tạo không biên giới từ cấu trúc đến ngôn ngữ và thể loại. Một cách nào đó, tôi đã viết theo kiểu chữ sau nối chữ trước, cho đến khi nó tự đứt đoạn.

Bạn thử đặt mình vào hoàn cảnh thập diện mai phục như cá nằm trên thớt của tôi xem. Bất cứ kiểu thoát hiểm nào cũng phải “chơi” chứ, phải không? Ngọ nguậy chỉ là cách để biết mình còn sống.

Đặng Thơ Thơ: Truyện đôi khi phản chiếu hình ảnh và tư tưởng trong kinh thánh: “một vùng đất hứa cho sự an toàn, sữa và mật ong” hay “Con chồn có hang nhưng con người không chỗ nương náu. Cô nghĩ, ánh sáng mặt trời chiếu rọi cho cả người ngay và kẻ gian.”

Tôn giáo có vai trò gì trong việc hình thành nhân vật nữ chính và trong tiến trình dân tộc hiện nay?

NGUYỄN VIỆN:
Thực ra, nhân vật nữ chính trong tiểu thuyết SINH RA TỪ TRỨNG không phải là một người. Nó là hồi quang của những số phận, những con người Việt Nam khác nhau thì hiện tại. Họ đến từ nhiều phía, từ trong tranh bước ra hay từ một quán nhậu bình dân đi vào. Họ không còn niềm tin vào chính quyền và thậm chí các giá trị xã hội. May thay, họ vẫn còn niềm tin vào chính mình. Niềm tin ấy nó giữ cho dân tộc này chưa tan rã. Hiện nay, tự do tôn giáo ở trong nước vẫn là một vấn nạn nhân quyền. Tôi không phải là người cực đoan cho rằng con người cần phải có tôn giáo như một yếu tính cho sự hiện hữu và cứu cánh của ý nghĩa con người. Nhưng tôi tin tuyệt đối rằng, người Việt Nam cần có tôn giáo, đặc biệt trong trường hợp ý thức hệ Cộng sản đã phá sản. Dân tộc Việt Nam hiện nay không có một nền tảng triết lý đúng đắn nào cho sự tồn tại và phát triển. Cái tưởng là căn bản của chế độ là duy vật cũng phá sản. Cái gọi là tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm thế chỗ cho tư tưởng Mác – Lê thì quá vá víu. Việc đưa hình tượng ông Hồ vào chùa miếu, theo tôi, nó diễu cợt chủ trương vô thần của ổng. Nếu như trong kinh tế chính trị, nhà nước đu dây giữa các lý thuyết và sức mạnh đối nghịch, thì trong đời sống tinh thần, chế độ cũng dựa hơi cả thần thánh và ma quỉ. Nó mang đến những cơn lên đồng của bọn mê tín, ngụy tín và cuồng tín. Và đẩy xã hội vào sự trần truồng của bản năng, hoang dã.

Tôn giáo không chỉ là cửa thoát cho sự đau khổ của con người và nâng con người lên với hàng thần thánh, mà nó còn cần thiết một cách cụ thể như giềng mối cho một xã hội an bình. Trong lịch sử của mình, tôn giáo ở Việt Nam không chỉ là một sức mạnh đủ bảo bọc con người trong mọi khắc nghiệt, giúp con người biết tha thứ, yêu thương nhau, mà nó còn là nền tảng cho sự trường tồn của dân tộc. Nếu không có tôn giáo, thì những gì Cộng sản để lại cho xã hội chỉ là sự tan nát.

Đặng Thơ Thơ: Nếu tôn giáo như một hệ tư tưởng cho dân tộc, thì theo anh hình thức nào thích hợp nhất với tâm thức người Việt và đáp ứng đúng nhất cho tình thế hiện nay? Một ý thức xã hội mới trong tinh thần nhân bản, độc lập khỏi tôn giáo, phải cần những điều kiện nào?

NGUYỄN VIỆN:
Cách đây khoảng 10 năm trước, khi Thượng tọa Thích Nhất Hạnh được nhà nước cho về VN và hoạt động tôn giáo của mình, tôi không nghĩ đó đơn thuần chỉ là thực hiện Nghị quyết 36 về hòa hợp hòa giải dân tộc, mà những tưởng Đảng đã chấp nhận mượn hệ tư tưởng Phật giáo Làng Mai làm nền tảng cho xã hội VN bù đắp vào khoảng trống của hệ tư tưởng Marxisme đã sụp đổ trên toàn cầu. Tuy nhiên, mọi chuyện đã xảy ra một cách đáng tiếc, không những Thày Nhất Hạnh phải ra đi mà các đệ tử của Thày cũng phải lưu vong.

Mặc dù tôi theo đạo Công giáo, nhưng tôi cũng phải chân thành nói rằng: Nếu đất nước này cần một tôn giáo như một hệ tư tưởng cho dân tộc thì không cần phải tìm đâu xa, nó vốn tồn tại một cách sinh động trong đời sống nhân dân, đó chính là cái mà chúng ta quen gọi là “đạo ông bà”. Sự hiếu kính với cha mẹ và biết ơn tổ tiên, cũng như tinh thần coi mọi người xung quanh là anh em, “đồng bào”… Đó là một tinh thần xã-hội-gia-đình đối lập hoàn toàn với chủ nghĩa đấu tranh giai cấp sắt máu, một mất một còn, “ai thắng ai” của Cộng sản. Chính nhờ nó mà xã hội VN còn tồn tại. Ngày nay, chủ nghĩa Cộng sản không còn trên thực tế. Xã hội biến thái thành một tương quan sinh tồn trên nền tảng chiếm đoạt và phục tùng. Nó chà đạp phẩm giá con người và làm bần cùng văn hóa nhân sinh. Vì thế, một triết lý khoan dung và yêu thương theo tinh thần “đồng bào” của huyền thoại “một mẹ trăm con” hay “xã hội gia đình” kiểu “đạo ông bà” nếu được triển khai, nâng tầm lý luận thành một chủ thuyết, tôi tin nó có thể cứu vãn được tình trạng suy đồi hiện nay của dân tộc. Đồng thời, cứu độ cho nỗi cô đơn của con người thời đại trước thời gian.

Đạo ông bà của người Việt chưa bao giờ là một tôn giáo. Và có lẽ sẽ không bao giờ trở thành một tôn giáo. Nhưng hoàn toàn có thể là một minh triết cho đời sống.

Tuy nhiên, tất cả những hệ lụy, bi thương mà dân tộc Việt đã gánh chịu, tôi nghĩ cũng từ cái mà tôi ca tụng: Đạo ông bà. Chính cái tôn ti trật tự truyền thống của nó đã triệt tiêu khả năng khai phóng, sáng tạo và niềm kiêu hãnh của con người cá nhân. Người Việt quen với sự chấp nhận áp đặt như một đức tính.

Đến đây, tôi nhìn thấy cái chìa khóa của vấn đề chị muốn hỏi. Tinh thần khai phóng và khai phóng tinh thần. Đấy là giải pháp trước mắt có thể tháo gỡ cái vòng kim cô mà chế độ chính trị đã xiết vào đầu dân. Và lâu dài, nó giúp ngăn ngừa chúng ta đeo một cái vòng kim cô khác.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ


4 bình luận »

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    Tôi vào đọc bài trên là vì tò mò muốn biết tác giả NV nói gì về tiểu thuyết Sinh Ra Từ Trứng của ông. Bấy lâu nay tôi vẫn thường theo dõi những bài trích đăng từ tiểu thuyết nầy nhưng thật tình là không phải lúc nào tôi cũng hiểu ông ấy đang nói về vấn đề gì.

    Và vì tôi là tôi, nên khi thấy ĐTT đưa ra câu hỏi “Tôn giáo có vai trò gì trong việc hình thành nhân vật nữ chính và trong tiến trình dân tộc hiện nay?” thì phản ứng tự nhiên của tôi là chăm chú xem NV trả lời như thế nào. Thú thật là sau đó tôi lại thấy tôi vương vào một mối rối rắm, tuy không lớn đủ để bịt kín lối ra nhưng cũng không nhỏ đủ để khỏi lo mong tìm cách tháo mở.

    Tôi đã gật gù tán đồng khi đọc câu “Tôi không phải là người cực đoan cho rằng con người cần phải có tôn giáo như một yếu tính cho sự hiện hữu và cứu cánh của ý nghĩa con người”. Tuy nhiên tôi cũng đã nhíu mày lập tức với hai câu kế đó “Nhưng tôi tin tuyệt đối rằng, người Việt Nam cần có tôn giáo, đặc biệt trong trường hợp ý thức hệ Cộng sản đã phá sản. Dân tộc Việt Nam hiện nay không có một nền tảng triết lý đúng đắn nào cho sự tồn tại và phát triển.”

    Theo tôi hiểu thì qua hai câu trên NV cho rằng vì ý thức hệ Cộng sản đã phá sản nên ngày nay người VN càng cần phải có tôn giáo, đó là vì tôn giáo có thể cung cấp một nền tảng triết lý đúng đắn cho sự tồn tại và phát triển. Nhưng như thế, phải chăng NV cũng có ý muốn nói rằng nếu không phá sản thì ý thức hệ Cộng sản đã có thể được dùng làm một nền tảng triết lý đúng đắn cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc VN?

    Thật vậy sao!? Tôi thật tình không rõ ý nào ở trên đã làm tôi nhíu mày hơn ý nào.

    Rồi vài câu kế tiếp nữa trong cùng đoạn văn có vẻ như củng cố thêm cảm tưởng trên của tôi. NV nhắc đến chủ nghĩa duy vật của chế độ (“đã phá sản”) và tư tưởng HCM (“quá vá víu”). Rồi thôi. Không gì khác nữa. Thật là không còn gì khác nữa, ngoại trừ tôn giáo, để chúng ta dùng làm nền tảng triết lý đúng đắn sao?

    Cũng xin nói thêm là tôi đã suýt bật cười ra tiếng tán đồng với NV khi đọc “Việc đưa hình tượng ông Hồ vào chùa miếu, theo tôi, nó diễu cợt chủ trương vô thần của ổng. Nếu như trong kinh tế chính trị, nhà nước đu dây giữa các lý thuyết và sức mạnh đối nghịch, thì trong đời sống tinh thần, chế độ cũng dựa hơi cả thần thánh và ma quỉ. Nó mang đến những cơn lên đồng của bọn mê tín, ngụy tín và cuồng tín. Và đẩy xã hội vào sự trần truồng của bản năng, hoang dã”

    Rồi cũng may mắn thay, tôi nghĩ, câu hỏi kế tiếp của ĐTT đã “lèo lái” buổi phỏng vấn theo đường hướng nếu là tôi thì tôi đã đi. Những chữ “Nếu tôn giáo như một hệ tư tưởng cho dân tộc…” và “Một ý thức xã hội mới trong tinh thần nhân bản, độc lập khỏi tôn giáo…” của ĐTT làm tôi mĩm cười.

    Và câu trả lời của NV đã làm tôi mát dạ, “Nếu đất nước này cần một tôn giáo như một hệ tư tưởng cho dân tộc thì không cần phải tìm đâu xa, nó vốn tồn tại một cách sinh động trong đời sống nhân dân, đó chính là cái mà chúng ta quen gọi là “đạo ông bà”. Sự hiếu kính với cha mẹ và biết ơn tổ tiên, cũng như tinh thần coi mọi người xung quanh là anh em, ‘đồng bào’…”

    Và nhất là “Đạo ông bà của người Việt chưa bao giờ là một tôn giáo. Và có lẽ sẽ không bao giờ trở thành một tôn giáo. Nhưng hoàn toàn có thể là một minh triết cho đời sống.”

    Mát dạ nhưng cũng không phải không gây thêm rối rắm. Tại sao vừa ở trên NV cho rằng “Dân tộc Việt Nam hiện nay không có một nền tảng triết lý đúng đắn nào cho sự tồn tại và phát triển” thì bây giờ ở đây ông lại nói là “nếu cần một hệ tư tưởng cho dân tộc thì không cần phải tìm đâu xa, …, đó chính là cái mà chúng ta quen gọi là ‘đạo ông bà’”? Phải chăng NV dùng các nhóm từ “nền tảng triết lý đúng đắn cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc” và “hệ tư tưởng … có thể cứu vãn được tình trạng suy đồi hiện nay của dân tộc” để diển tả hai thứ khác nhau?

    Rồi đoạn kế tiếp của NV, “Tuy nhiên, tất cả những hệ lụy, bi thương mà dân tộc Việt đã gánh chịu, tôi nghĩ cũng từ cái mà tôi ca tụng: Đạo ông bà. Chính cái tôn ti trật tự truyền thống của nó đã triệt tiêu khả năng khai phóng, sáng tạo và niềm kiêu hãnh của con người cá nhân. Người Việt quen với sự chấp nhận áp đặt như một đức tính” càng làm tôi rối mù hơn nữa. Ông không giải thích hay dẫn chứng cho thấy tại sao đạo ông bà đã “triệt tiêu khả năng khai phóng, sáng tạo và niềm kiêu hãnh của con người cá nhân”? Tôi cũng không hiểu tại sao đạo ông bà làm cho người VN “quen với sự chấp nhận áp đặt như một đức tính”? Có phải tác giả NV muốn nói đến Nho Giáo hay không? Đó là vì theo tôi, Nho Giáo với đạo đức Khổng Tử là thứ áp đặt cá nhân phải phục tòng tôn ti trật tự truyền thống trong xã hội và cho đó là một đức tính. Còn đạo ông bà thì, như NV diễn tả ở trên, nói chung chỉ là “hiếu kính với cha mẹ,… biết ơn tổ tiên,… coi mọi người xung quanh là anh em, ‘đồng bào’”. Theo tôi, đạo ông bà và Nho Giáo là hai thứ rất khác nhau. Phải chăng NV đã, vô tình hay cố ý, nhập chung đạo ông bà vào Nho Giáo?

    Như đã nói, vì tôi là tôi nên đã không tự kềm được thói quen mổ xẻ và phân tích bất cứ tư tưởng nào liên quan đến triết lý đạo đức và tôn giáo. Tuyệt nhiên không hề có dụng ý phê phán hay chỉ trích.

  • Nguyễn Viện viết:

    Thưa anh Nguyễn Nhân Trí, trước hết cho tôi bày tỏ lòng cảm kích vì anh đã đọc tôi hơi kỹ lưỡng. Chẳng mấy khi có một độc giả thật đáng quí như thế.
    Tôi xin thưa chung với mọi thắc mắc của anh thế này: Những gì anh đưa ra đều xác đáng và thật sự là những vấn đề cần được trao đổi, không chỉ giữa tôi và anh, mà cấp thiết với tất cả những ai còn quan tâm đến vận mệnh dân tộc.
    Những thắc mắc của anh về những điều dường như mâu thuẫn trong ý tưởng của tôi, nó soi rọi và làm sáng lên những cái tôi chưa nói hết trong phạm vi một bài phỏng vấn (mà vốn dĩ tôi không phải là nhà triết học hay lý thuyết gia). Đây không phải là một tiểu luận. Thành thử những gì tôi nói trở nên nửa vời hoặc rối rắm. Vâng, vì tôi chỉ nói như tôi cảm nhận, những ý tưởng đến bất chợt do người phỏng vấn gợi ra, nó chưa phải là một tư duy có hệ thống. Điều ấy cũng cho thấy, vấn đề tôi đề cập và cách tôi đề cập, tự nó có cái được, có cái chưa được. Ví dụ như khi tôi nói đạo ông bà nên được xem là một giải pháp tối ưu cho hiện trạng của dân tộc Việt, nhưng đồng thời tôi lại phát biểu đạo ông bà cũng đang kìm hãm chúng ta trên con đường phát triển. Vâng, đó chính là những hạn chế hay khiếm khuyết của văn hóa truyền thống dân tộc này. Cái nền tảng đạo lý ấy đủ giúp chúng ta tồn tại như chúng ta đã tồn tại đến hôm nay, nhưng chưa đủ để giúp chúng ta cất cánh như lẽ ra chúng ta có thể làm được. Nhìn ra được những ưu điểm và thiếu sót của dân tộc tính (vốn có quá nhiều sự vay mượn, đôi khi biến thành thuộc tính) để minh xét, quả thật cần thiết biết bao cho việc gạt bỏ hoặc bồi đắp nhằm hoàn thiện nó theo cách tốt nhất có thể. Mà việc này có lẽ không chỉ có tôi hay anh, chúng ta cần trí tuệ của cả cộng đồng.

    Những gì tôi nói chỉ nên coi như sự gợi ý. Tôi không có khả năng kiến tạo một hệ thống lý thuyết (để nói cho khỏi rối rắm). Bởi vậy, mong anh cũng như độc giả đọc cho vui. Và sẽ đáng trân trọng biết bao, nếu anh hay bất cứ ai đó, vì vui mà làm cho nó thêm phong phú hoặc đầy đủ hơn.

    Một lần nữa, xin cám ơn anh.

    Nguyễn Viện

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    Dạ xin chào anh Nguyễn Viện. Xin anh thứ lỗi cho việc tôi đã đọc bài anh “hơi kỹ lưỡng”. Tính tôi là vậy, đọc cái gì cũng liên tục so sánh với những gì khác mình đã đọc qua và tự đặt câu hỏi với chính mình “tại sao?” Có lẽ vì tôi quen theo lối đọc tài liệu để viết bài biên khảo. Và tôi hiện đang rất may mắn ở trong một hoàn cảnh có thể viết ra hầu như trực diện những gì mình muốn phát biểu. Tôi hiểu có những tình thế người viết chỉ có thể lối văn ẩn dụ, và bài Sinh Ra Từ Trứng của anh là một thí dụ thú vị mà tôi theo dõi thường xuyên. Cái gọi là bình luận ở trên của tôi chẳng qua là đang lúc ngẫu hứng cộng thêm một chút thì giờ rảnh rỗi trong tay. Như đã nói, tôi không hề có ý phê phán hay chỉ trích. Mong được đọc thêm nhiều bài nữa của anh.

    NNT

  • Lưu Thuỷ Hương viết:

    Trong số các nhà văn đương thời, Nguyễn Viện là người tôi đặc biệt khâm phục.
    Nguyễn Viện làm được nhiều cái mà người khác không làm được. Trước hết phải kể đến sức sáng tác kinh hoàng của vị đại huynh. Mà sáng tác trong điều kiện vô cùng khó khăn: bị đe dọa, bị theo dõi, bị đàn áp, bị cô lập kinh tế… Về VN thăm Nguyễn Viện, tôi mới được biết màn “bị công an kè” ra sao. Nguyễn Viện có cảnh cáo trước, nhưng tôi không tin. Mệt quá, nhà văn chân yếu tay mềm bắt con gà còn không biết bắt, nhà cầm quyền lo gì chuyện họ trói gà chặt hay không chặt.
    Một buổi chiều ngồi chơi với Nguyễn Viện, Nguyễn Hòa (VCV), Trần Hồ Thúy Hằng ở cà phê Văn Thánh, chẳng thấy ai phiền nhiễu. Cả đám nói nhảm rất vui và cười hoang rất đã. Vậy mà vừa bước chân ra khỏi quán, mẹ con tôi liền bị hai người đàn ông lạ mặt mày bậm trợn kè sát. Hồi đó con gái tôi còn nhỏ, nó cứ nói: “Mẹ, ông này ủi vô con hoài.” Tôi không sợ cho tôi, tôi sợ cho con mình. Trời thì mưa và tối, tôi lôi con chạy ra đường lớn, lủi vô quán nước đầu đường nhờ người bán quán kêu giùm taxi. Khi leo lên taxi rồi tôi lại đâm hoảng, rủi tài xế là CA thì sao, hắn chở hai mẹ con đi ào ào làm sao mà nhảy xuống. Tôi cố nhìn khuôn mặt người lái xe trong kính chiếu hậu, chỉ thấy thoáng chiếc bóng đen lấp loáng ánh đèn đường. Con đường từ Văn Thánh về Thủ Đức xa lắm, qua mấy cây cầu mấy thửa ruộng vắng, trời vẫn mưa dập vùi. Tôi tìm cách bắt chuyện với người lái xe, nghe anh kể về những chuyến xe đêm, kể về công việc vất vả mưu sinh. Khi ấy tôi mới từ từ thở ra, may quá, mình gặp người tử tế. Công an chìm chỉ vây quanh Nguyễn Viện. Loại nhát gan và chưa có thành tích như tôi bị “kè” đi một khúc là đòn hù dọa chơi chơi.
    Cảm giác tối tăm – mù mịch – bị săn đuổi trong đêm mưa đó ám ảnh tôi một thời gian. Không phải là sự sợ hãi nguyên thủy. Nó là một cái khác, có thể gọi là hiệu ứng tích cực của sự sợ hãi. Nó tạo ra một hưng phấn phiêu lưu mạo hiểm, một sự khích thích dấn thân, một miền hoang tưởng, một sự dồn nén tức thở và một kinh nghiệm sống mà mỗi nhà văn đều thèm muốn có được. Hẳn Nguyễn Viện phải biết rất rõ, chính bầu không khí nặng nề khủng bố đó là nguồn cảm hứng bất tận cho văn chương. “Lão” dám sống trong đó, viết trong đó, khai thác bầu không khí tù đày đó và lão thành công hơn ai hết. Văn của Nguyễn Viện bất ổn, hoang tà, hôi thối, chết chóc, lở loét… Lão vẽ đi vẽ lại những bức tranh quá khứ âm u cùng hiện tại hỗn loạn phi lý làm người ta nghẹt thở hoa mắt mất phương hướng. Lão dám cắt ngón tay, ngón chân, cái pín của lão bỏ vô nồi cháo cho độc giả ăn (Bữa ăn tối), không phải ai cũng nuốt nổi cái thứ qua đêm ghê rợn của họ Nguyễn.
    Sau này tôi không liên lạc Nguyễn Viện nữa, tính tôi không thích giao du và tâm sự. Nguyễn Viện dường như cũng vậy, lão thích ẩn náu trong vỏ ốc và đẻ trứng. Nhưng tình cảm của tôi dành cho Nguyễn Viện vẫn còn đó, hình ảnh của Nguyễn Viện trong một lần gặp gỡ ở quán cà phê vẫn luôn lặng lẽ bí ẩn như vậy. Vì điều này mà một năm sau, trong cuốn tiểu thuyết Miền Hư Ảo tôi dành cả một chương “Bình nguyên Apple và thôn Rồng Rắn” để viết về Nguyễn Viện.
    “…”
    – Tiểu bối từng nghe giang hồ đồn rằng, kẻ mang danh Viên lão là người chấp chính hiện nay của môn phái “Tiên tri giả”. Không ngờ lại gặp lão ta ở bình nguyên này.
    – Cái tên Tiên tri giả ta chưa nghe qua bao giờ. Môn phái này hoạt động ra sao?
    – Họ là những kẻ có biệt tài bất thường, tính khí rất quái đản, lại thông minh tuyệt đỉnh. Họ luyện Tán tâm pháp để tạo ra quanh mình một vùng hấp lực khuynh ảo dị thường. Những kẻ bị Tán tâm pháp vây hãm đều mang cảm xúc nửa phần dâm tà nửa phần điên loạn.
    Ngã giật mình nhớ tới cảm giác kỳ quặc của mình ở nhà Viên lão. Lạ thay, lòng không tức giận, chỉ thấy lạ lùng. Ngã thở dài, nói:
    – Viên lão luyện công được đến mức như vậy quả là kẻ bất thường. Những thứ ảo giác trong thôn Rồng Rắn cũng thiệt là quái đản.
    Nặc tử bỗng cười nhỏ:
    – Những thứ đó thật ra cũng vô hại thôi. Viên lão biết rõ bà cháu mình là ai nên tìm cách giữ lại để dò la thông tin. Nếu lão ta thật tình muốn ám hại bà cháu mình, chuyện đã dễ như trở bàn tay. Chỉ có điều, càng cố suy diễn thì ảo giác trong thôn càng lệch lạc, lệch lạc một cách kỳ thú, đó là một thứ nghệ thuật khuynh ảo thượng thừa của phái Tiên tri giả.
    Ngã nhớ tới buổi ăn tối gớm ghiếc của Viên lão, mùi hôi khăm khẳm còn đọng nơi đầu lưỡi.
    – Lão họ Viên tư cách tà ma, ăn uống lại man rợ – Ngã nói ra câu này, bỗng dưng rồi nóng bừng cả huyệt Á Môn.
    Nặc tử không để ý gì tới lời nói của ngã. Nó mơ màng quay đầu nhìn lại phía Viên gia trang, nói như tiếc rẻ:
    – Đám thiếu phụ trẻ trong thôn Rồng Rắn thật khêu gợi và đa tình.
    Ngã rùng mình nghĩ tới những bức ảnh người chết nằm lăn lóc trong nghĩa địa nhà họ Viên. Tất cả đều là ảnh phụ nữ khoả thân.
    “…”

    Viết chương này, lòng tôi không chỉ khâm phục võ công thượng thừa của Nguyễn Viện mà còn can đảm thú nhận: Đọc văn Nguyễn Viện tôi chẳng hiểu bao nhiêu, càng cố suy diễn thì ảo ảnh càng lệc lạc. Bạn đừng nghe những gì Nguyễn Viện nói, mà hãy đọc kỹ những gì Nguyễn Viện viết, cái đó mới là phần nội công của lão ta, cái đó mới là phần nghệ thuật khuynh ảo thượng thừa.
    Văn Việt vừa giới thiệu 6 cuốn sách của Nguyễn Viện. Tôi đăng lại dòng link ở đây và nói riêng rằng: Lưu muội chúc mừng Viên lão.
    http://vanviet.info/thu-ban-doc/gioi-thieu-sch-moi-nguyen-vien/

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch