Trang chính » Bob Dylan, Chuyên Đề, Nobel Văn Chương, Phỏng vấn Email bài này

Như Quỳnh de Prelle trả lời phỏng vấn Da Màu về chuyên đề Nobel

 

Ca sĩ/Nhạc sĩ Bob Dylan có sự nghiệp âm nhạc trải dài hơn nửa thế kỷ, sáng tác và không ngừng tự đổi mới chính mình: 11 lần giải Grammy, giải Oscar năm 2001 với ca khúc “Things Have Changed,” giải Pulitzer năm 2009 dành cho bộ môn âm nhạc, giải Quả Cầu Vàng và nhiều giải thưởng khác. Và bây giờ là Nobel Văn Chương 2016.

1. Anh/Chị có thích nhạc, chất thơ, và ý tưởng trong ca từ của Bob Dylan? Anh/Chị nghĩ thế nào về giải thưởng Nobel Văn Chương năm nay dành cho nhạc sĩ Bob Dylan?

Như Quỳnh de Prelle: Chúng tôi là thế hệ được sinh ra và lớn lên khi Việt Nam bắt đầu mở cửa và quan hệ lại ngoại giao với Hoa Kỳ sau một thời gian dài đóng băng vì lý do lịch sử. Tiếng Anh bắt đầu vào trường học. Chúng tôi học tiếng Anh cũng bắt đầu từ những ca khúc, trong đó có ca khúc của Bob Dylan. Tôi vẫn còn nhớ chất giọng và ấn tượng với ca khúc, cách biểu diễn của ông với cây đàn ghita, sau này thì nghe ca khúc ở nhạc phim… Ông là một trong những người mang lại cho chúng tôi hơi thở mới từ những giai điệu và ca từ như thế suốt thời tuổi trẻ. Và giải thưởng năm nay, vừa bất ngờ vừa hay ho, đối với tôi vì với một kẻ không thiên kiến, không nặng nề học thuật, phải thế này thế kia mới là văn chương, mới là thi ca, thì tôi hài lòng với đánh giá của Viện hàn lâm khoa học Thuỵ Điển. Tôi cũng cảm thông cho những tức giận của nhiều người, của nhiều bạn bè khi họ thất vọng và họ nghĩ rằng, có nhiều tác giả văn chương xứng đáng, nhưng mọi tiêu chí thì rất vô cùng và vô biên nhất là bây giờ chúng ta không còn sự độc đoán, sự ích kỷ trong thưởng lãm dành cho số ít nữa. Hơn nữa, giải thưởng được trao vào lúc cao trào của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ, với người đại diện như Trump, khiến cho cả thế giới hoảng hồn, e ngại, thì giải thưởng này cũng là một cứu cánh còn lại cho nước Mỹ, cho văn hoá Mỹ, và Bob Dylan xứng đáng với những gì như Nobel Văn chương nói về ông "for having created new poetic expressions within the great American song tradition". Trước đây, Nobel đã từng trao giải cho Tagore, một nhà thơ của Ấn độ, và Tagore cũng chính là một người viết nhạc và những lời thơ của ông luôn được song hành cùng âm nhạc. Nhạc và thơ luôn song hành, điều này đã từng tồn tại trong lịch sử nghệ thuật từ thời cổ đại và âm nhạc luôn là một sức mạnh hoá giải cho tất cả những chia rẽ, sự kêu cứu không chỉ ở giai điệu hay âm thanh mà chính là những lời ca trữ tình, thống thiết.

 

2. Trong cương vị người viết, anh/chị nghĩ giải thưởng Nobel văn chương năm nay sẽ có tác động gì với việc viết và đọc tiểu thuyết, nghệ thuật tiểu thuyết, và văn chương nói chung?

Như Quỳnh de Prelle: Có một điều thú vị là, trước ngày trao giải Nobel Văn chương, bạn tôi email cho tôi về chuyện thi ca, trong đó có ý, đây không phải là thơ…. câu chuyện này tôi luôn thấy tồn tại trong một bộ phận không nhỏ của giới văn nghệ đó là, họ luôn cho rằng, phải là học thuật này, định nghĩa này mới chính xác là văn chương, là thi ca…. Tôi không phủ nhận mọi sự tồn tại đã diễn ra của lịch sử, như văn học cổ đại, văn học cổ điển và các trường phải trong lịch sử văn chương … nhưng tôi luôn mở rộng đôi mắt của mình với những tác phẩm liên văn bản trong các liên ngành của 7 môn nghệ thuật đã từng tồn tại hay nhiều hơn thế. Một bài thơ của tôi đã từng được chuyển thể thành kịch bản phim ngắn, phim điện ảnh và trình chiếu ở Cannes, và có biết bao cảm hứng sáng tạo từ văn chương nói chung hay từ ngôn ngữ với các bộ môn nghệ thuật khác như âm thanh, âm nhạc hay cả nghệ thuật tạo hình…. luôn cùng nhau song song và tồn tại. Vậy một giải thưởng văn chương dành cho một nhạc sỹ và là một người hát những ca khúc ấy, bằng chính lời thơ, lời ca của mình cho cả cuộc đời sáng tạo thì cũng chả có gì ngạc nhiên và không xứng đáng. Những lời ca ấy lại là mang vẻ đẹp truyền thống của nước Mỹ. Văn học sẽ không phải như thánh đường cao vòi vọi và xa lạ dành cho số ít, cho sự ích kỷ thưởng lãm, văn học là đời thường, là nghệ thuật thường ngày của những lời ca và âm nhạc, là những thứ gần gũi, phổ quát hơn, có nhiều ảnh hưởng hơn chứ không dành riêng cho giới phê bình, chuyên môn. Và tôi luôn tin, người đọc luôn thông minh và sống cùng thời đại của họ chứ không phải đang sống thế kỷ 21 mà lấy quan niệm thế kỷ 10 hay trước CN ra để định đoạt sự tồn tại hiện hữu này, hay chống lại văn minh là một thói quen vô cùng xấu tính của nhiều người cho mình là bề trên, là bậc thầy… để phán xét mọi sự tồn tại ý nghĩa trong thực tế. Tôi tin, nghệ thuật tiểu thuyết cũng sẽ dần đổi thay và khác trước, và nó đã đang chuyển mình như thế ở nhiều tác phẩm, đặc biệt là thế giới văn chương mạng, sự liên văn bản mang tính chất kết hợp với báo chí hay thơ ca.

3. Các giải Nobel Văn Chương gần đây cho thấy sự chuyển mình trong khuynh hướng tuyển chọn: Nobel năm 2013 dành cho Alice Munro nhà văn chuyên viết truyện ngắn, Nobel năm 2015 dành cho Svetlana Alexievich thuộc lãnh vực  báo chí/phi hư-cấu, và năm nay 2016 dành cho ca sĩ/nhạc sĩ Bob Dylan. Anh chị có nghĩ rằng  đây là cách Hội Đồng Nobel muốn mở rộng biên giới của văn chương ra các lãnh vực khác của thuộc khoa nhân văn như triết học, lịch sử, phê bình, trình diễn? Anh/chị nghĩ gì về khả năng giải Nobel Văn Chương dành cho một nhà làm phim, viết kịch bản phim, hay đạo diễn?

Như Quỳnh de Prelle: Tôi nghĩ không chỉ Hội đồng Nobel Văn chương đang mở rộng biên giới của văn chương, mà bản thân người đọc hay người viết họ cũng ý thức được sự tồn tại hiện nay của các tác phẩm. Ví dụ, như tôi làm một tập thơ, trong một thời gian 6 tháng, coi như viết một cuốn tiểu thuyết, tập thơ ấy có đầy đủ câu chuyện logic như một tiểu thuyết, vậy bạn có thể nhìn thơ như tiểu thuyết… Với tư cách là một người đọc nếu tinh mắt và bản thân tôi, là một ngừoi sáng tác, tôi luôn ý thức về cách thức sáng tạo của mình để không bị lặp lại hay đi vào lỗi mòn cũ. Thế giới đã có nhiều thành công lớn lao rồi, và cũng vì có nhiều cột mốc đỉnh cao, nên những giá trị mới khó mà vượt qua và họ có thể tìm đến sự liên quan như thế trong nghệ thuật mà nghệ thuật đâu chỉ có văn chương như chính nó. Phim ảnh từ các tác phẩm văn học rất nhiều. Kịch bản phim rất gần với văn học vì đó là ngôn ngữ đầu tiên bằng hình ảnh, hướng tới các gía trị nhân văn. Các câu chuyện của kịch bản có thể kéo dài như những tiểu thuyết, có thể là một khúc ngắn tuỳ theo thể loại phim và bản thân điện ảnh cũng mở rộng phạm vi của nó cùng với âm nhạc, hay thời trang chứ không đơn giản là một bộ phim thô cứng theo đúng motip này, hay trường phái kia…; giữa văn chương và kịch bản chỉ khác nhau về cách thức trình bày theo lối thông thường. Một kịch bản theo các phần cảnh khác nhau cũng như các chương hồi, trích đoạn của tiểu thuyết…. Vậy tại sao lại không thể chứ nếu một lần khác, trao cho đạo diễn A hay biên kịch B, cả cuộc đời sáng tạo phim dựa trên các tác phẩm kịch bản như văn học. Và chị có thấy, văn chương là lĩnh vực nghệ thuật duy nhất được trao giải cùng với các môn khoa học cơ bản khác, bởi thế, văn chương đã trở thành tính đại diện của các nghệ thuật khác liên quan.

bài đã đăng của Như Quỳnh de Prelle


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch