Trang chính » Nhận Định, Quan Điểm Email bài này

người đàn bà nơi thâm khuê đã bị tuyệt chủng?

chốn thâm khuê

Khi tôi còn học cấp hai tại Gò Công, Việt Nam, trong giờ luận văn, Cô giáo đã đọc một câu văn từ một bài viết của cô bạn cùng lớp để ‘làm mẫu’ vì theo Cô, câu văn ấy không chính xác. Bạn tôi đã viết như thế này, “Người phụ nữ Việt Nam là cái bếp.”

Văn chương hậu 1975 còn nhiều cái cười ra nước mắt khác, mà ‘đỉnh cao trí tuệ’ là những tác phẩm của Bút Tre. Tôi cho rằng cái thế hệ bo-bo của chúng tôi không chỉ đói cơm đói cá, mà đói nhất là văn chương chữ nghĩa. Khi binh lửa tạm kết thúc, thì hỏa lò rực lên, ngốn lấy những tinh hoa văn hóa và những áng văn chương mẫu mực của tiếng Việt. Hỏa lò ấy cũng ngốn mất cái khả năng suy nghĩ và diễn đạt của các ‘thế hệ hòa bình’ sinh sau chiến tranh. Để chúng tôi không chỉ còi cọt về thể chất, mà còm cõi trong tư duy và kệch cỡm trong khả năng ngôn ngữ.

Tôi nhớ đến câu chuyện này, vì cô bạn học của tôi có ý mà bất thành văn, muốn nói mà không đủ từ ngữ để diễn đạt. Ở giai đoạn đầu thập niên 1980, Việt Nam vẫn còn là một xã hội theo tư tưởng Khổng giáo hơn là so với ở năm 2014 hiện nay. Bạn tôi muốn nói rằng, người phụ nữ Việt Nam phải chịu trách nhiệm bếp núc trong gia đình, không được tham gia vào xã hội bên ngoài như giới mày râu.

Nhà thơ Nguyễn Bính, trong bài thơ “Nhớ,” đã diễn đạt cái tách biệt trong không gian xã hội giữa nam và nữ trong câu, “Anh muôn quán trọ, em thâm khuê.” Nếu ngày xưa, nữ tính được thể hiện trong văn chương qua hình ảnh người phụ nữ trong cái kín cổng cao tường, thì trong xã hội Việt Nam cận đại, người phụ nữ vẫn bị ràng buộc trong giềng mối tam cương ngũ thường.

Từ “Chinh Phụ Ngâm Khúc” cho đến những bài nhạc vàng, chúng ta vẫn chứng kiến một hình ảnh người phụ nữ Việt Nam nép sau rèm, cửa đóng then cài, miệt mài nơi hậu phương, sống trong quan niệm tam tòng tứ đức. Ngay cả ở thập niên1960, nhiều phụ huynh đã không muốn cho con gái đi du học ở ngoại quốc, như trường hợp của gia đình Tiến sĩ Võ Kim Sơn (Giáo sư hưu trí, CSU Fullerton, Hoa Kỳ) hay cô Tuyết Pluss (cư dân của thành phố Sion, Quận Valais, Thụy Sĩ) mà họ đã hồi tưởng khi tôi phỏng vấn họ vào năm 2000 và 2007.

Bên cạnh đó, tuy đoàn Nữ Quân Nhân đã có đóng góp đáng kể cho xã hội trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, con số này vẫn rất nhỏ so với đại đa số phụ nữ Việt cùng thời. Hơn nữa, cho dù phụ nữ có tham gia vào những lãnh vực xã hội bên ngoài gia đình, họ vẫn giữ trách nhiệm chống mũi chịu sào trong công việc gia đình. Và do đó, ‘lệnh ông không bằng cồng bà,’ vì người phụ nữ đã qua bao thời đóng vai trò nội tướng.

Từ một nghĩa đen của ‘thâm khuê’ dành cho phụ nữ thượng lưu và trung lưu thời phong kiến, phụ nữ Việt Nam ở hậu bán thế kỷ 20 vẫn còn trong ‘thâm khuê’ vì những quy định xã hội về giới tính và vai trò phụ nữ trong gia đình. Nhưng ngưỡng cửa thế kỷ 21 đã mở ra nhiều con đường mới cho họ, cả những cơ hội mới lẫn những thử thách mới trong một thế giới hậu hiện đại. Tuy vậy, vẫn có nhiều phụ nữ không có quyền được chọn lựa hướng đi cho đời mình, mà vẫn phải ‘tam tòng:’ theo hoàn cảnh cá nhân, theo áp lực kinh tế toàn cầu, và theo những nhu cầu sinh tồn cấp thiết của gia đình mình.

 

‘thâm khuê’ thâm độc

“Công anh bắt tép nuôi cò,
Cò khôn cò lớn cò dò lên cây”

Câu ca dao trên ví von cái nỗi niềm của một anh chàng mất cả chì lẫn chài. Tội cho anh, yêu nhiều mà chẳng được bao nhiêu. Bỏ công cho lắm thì cũng chỉ được một mớ bòng bong cay đắng khi con cò vỗ cánh bay đi.

Thời nay, không cần phải đợi ngày ‘cò khôn cò lớn’ thì cò mới phụ anh, mà có những con cò đã có dự tính dò lên cây trước khi khôn lớn, để giăng bẫy đưa anh vào tròng yêu đương để lấy tép. Chuyện trai gái, lúc đang say đắm thì có Trời cản cũng không buông. Chỉ khi anh ngồi một mình hụt hẫng với mối tơ vò, thì anh mới biết, có ân hận thì cũng đã quá muộn màng.

Trong những phim truyện tình cảm xã hội thực hiện tại Việt Nam và được chiếu trên các đài truyền hình Việt ngữ tại Nam California và các nơi khác trong những năm gần đây, những câu chuyện tình sinh viên vẫn phản ánh cái cảnh ‘bắt tép nuôi cò’ này. Chẳng hạn chuyện một anh sinh viên đang yêu đã cầm cái đồng hồ gia bảo, lấy tiền mua xe gắn máy cho người yêu có phương tiện đi lại. Vậy mà, xoay đi ngoảnh lại, người yêu tỉnh rụi bỏ anh ra đi với một người đàn ông khác đã có gia đình vợ con, và quan trọng hơn hết, người đàn ông đó có bạc có tiền.

Một cô sinh viên tại một trường đại học ở Nam California đã giăng bẫy để đưa một thanh niên cùng trường vào một mối tình ‘cò’ như trên. Cô khẳng định với một người bạn, “Thời buổi này mà còn lý tưởng giúp người giúp đời như ổng thì… hão huyền quá! Ổng không phải là mẫu người để tao lấy làm chồng, nhưng bây giờ tao muốn xài đỡ cho tới khi tao chuyển trường.”

Ban đầu, bạn bè ai cũng vui cho hai người, có đôi có cặp. Nhưng khi biết được dã tâm của cô ta, thì bạn bè hết sức bất bình, dù chẳng ai dám mở miệng can gián anh bạn của mình. Có người hỏi, “Thằng ni hắn tốt rứa, ai nhờ chi hắn cũng giúp, răng con ni phải dụ hắn làm người yêu làm chi? Không làm người yêu của hắn thì có nhờ chi hắn cũng giúp mà!”

Nhưng đối với cô sinh viên kia, thì cái chính là làm sao điều khiển hoàn toàn và thống trị đời sống của đối tượng, dù như cô nói, “Chỉ xài một năm, để có bạn trai với đời, và để có người sai vặt.” Còn chuyện lâu dài? “Bộ tao điên hay sao? Phải lo cho tương lai của tao chớ! Yêu làm gì cho mất công!” Khi cô nói như vậy, không biết cô có bao giờ nghĩ đến tương lai của ‘người tình một năm’ của mình không? Anh chàng sẽ ra sao khi bị cô hất cẳng sau một năm cúc cung tận tụy ‘bắt tép nuôi cò’ đây?

Một số bạn gái trong nhóm lại nhận xét một chiều, cho rằng dù sao đi nữa, thì khi chia tay, cô sinh viên lắm mưu nhiều chước này cũng là người thiệt thòi. “Mình là con gái, mình phải bênh con gái. Con trai dù sao thì qua một cuộc tình vẫn không bị ảnh hưởng, con gái thì dù sao cũng mất mát.” Ý cô bạn này nói về cái trong trắng của một đời con gái, nghĩ rằng, cho dù không đi xa đến chuyện giao hợp, thì chỉ chuyện ôm ấp hôn hít cũng tổn hại đến trinh tiết phái nữ.

Nhưng tôi đặt vấn đề ngược lại: Còn với anh chàng si tình khờ khạo kia thì sao? Tôi nghĩ, chuyện trong trắng không chỉ là chuyện ‘độc quyền’ của phái nữ. Những người đàn ông có tư cách, có tự trọng, thì cũng có cái tạm gọi là trinh tiết của họ, không chỉ riêng phụ nữ mới có. Cái trinh tiết ở đây là trong tư tưởng, trong cách suy nghĩ và hành xử, trong sự tôn trọng đối với chính mình và với người khác phái.

Nếu cô gái ấy đã chủ động, muốn quen ‘ngắn hạn’ mà không nói rõ với đối phương, và lấy danh nghĩa tình yêu để bóc lột sức lực và sự quan tâm chăm sóc của anh này, thì chính cô ta đã đem sự trong trắng của mình – nếu có, về mặt tinh thần hay thể chất – ra để làm sự trao đổi cho mục đích mình muốn. Nếu có trách, thì trách anh chàng kia quá lụy tình, không được sáng suốt, đem thân ra làm lao dịch, chưa suy nghĩ trưởng thành, và chưa phát triển bản lãnh của một người đàn ông để biết chân biết giả.

Khi bắt đầu yêu, có lẽ đa số những người yêu song phương đều yêu với cả tấm lòng, cho dù họ có thể đi đến hết con đường với người tình của mình hay không. Khi chọn bước vào một cuộc tình, cho dù đôi bên gặp hoàn cảnh éo le ngoài ý muốn đi nữa, thì có lẽ người trong cuộc vẫn mong có một kết cuộc lâu dài.

Trong lãnh vực tình cảm, người ta không thể cân-đo-đong-đếm những gì hai người trao cho nhau, không phải chuyện 50/50, vì tình yêu đích thực thì tự bản thân nó là một sự tận hiến. Nhưng đồng thời, khi yêu, thì người ta cũng cần có sự công bằng, không thể chỉ nhận mà không trao đi. Vả lại, người ta có thể cho mà không có tình yêu, nhưng khi đang yêu thì không ai cưỡng được cái thao thức muốn trao đi tất cả cho người mình yêu.

Nên việc lên kế hoạch để ‘yêu’ và làm yêu làm sách, và quy định rõ cho chính mình để chỉ yêu một năm rồi cắt đứt như cô sinh viên nói trên, thì có lẽ là một trường hợp khá hy hữu. “Thâm khuê” của cô gái này quả thật là một thẳm cung thâm độc.

 

cái tinh hoa của tâm hồn phụ nữ

Có một cô gái mới vào đời, muốn ‘lấy kinh nghiệm,’ nên dự tính quen càng nhiều anh càng tốt, quen không cần nghĩ chuyện lâu dài, không bận tâm chuyện cưới hỏi. Quen nhiều anh, để biết cuộc đời, để tận dụng cái tuổi xuân của mình mà thâu tóm cái khôn cái dại của phái nam.

Khi mới nghe qua, tôi cũng ngại cho cô ấy, tuy mới ngoài hai mươi, mà đã toan tính tinh xảo quá. Thiết nghĩ, cái đẹp của tâm hồn một con người, giống như hương thơm, cần được trân trọng giữ gìn. Trong tương quan hằng ngày, một người chỉ biết trục lợi, nắm đầu nắm cổ kẻ khác cuối cùng cũng chỉ héo hắt trong thù hằn, thất vọng, cô đơn, vì không ai dại gì mà chấp nhận cái tham sân si vô tận của họ. Rồi lòng tham không đáy kia một ngày sẽ kéo cô ta xuống vực, vì tham thì thâm. Chính cô ấy sẽ phải đối diện với cái tham sân si của mình, với cái vũng lầy hôi hám của lòng ích kỷ và lợi dụng.

Khi bước vào đời sống hôn nhân, chính cái tinh hoa của tâm hồn nữ tính là chìa khóa để giữ hạnh phúc lứa đôi, để soi rọi ba sinh hương lửa. Nếu ánh ngọc ấy hoen ố vì những mưu mô hơn thua của đời người, thì còn gì để tỏa sáng khi đường đời tăm tối? Nếu tâm hương đã mất vì những trục lợi tham ô, thì còn gì để giải hóa những phút giây tân toan của đời thường?

Nhưng nói cho cùng, thì có nhiều thiếu nữ, tuy được Trời ban cho cái hạnh cái duyên, nhưng lại không coi trọng cái ‘mai cốt cách, tuyết tinh thần’ ấy, mà lại dồn sức rèn đục ‘khí giới phái nữ’ – cho dù đó là cái yếu đuối thể chất để dựa dẫm người khác phái, hay là cái ngây ngô giả tạo – để bóc lột tình cảm và tâm huyết của phái mày râu. Khi hùng hục rèn đao đúc kiếm để sát đoạt phái nam, thì họ đã tự hủy đi cái duyên cái hạnh của mình, vốn là cốt lõi của một con người.

Cuối cùng, thì tuy anh có mất mát những con tôm con tép mà anh đã bỏ công bắt để nuôi cò, nhưng cái mất ấy cũng chỉ là thứ yếu. Về phần mình, thì cò đánh mất cái thiêng liêng nhất của một con người: cái nhân bản, cái tự trọng, cái tư cách.

 

thâm khuê = âm tính

Theo tôi, thâm khuê, tuy là một hình ảnh ẩn dụ cổ xưa, nhưng lại nói lên một sự thật bất biến. Tạo hóa đã sinh ra người phụ nữ với cái âm tính ẩn và nhu, cũng có thể được gọi là một ‘thâm khuê’ vậy. Trong quan hệ giao cấu, cái ‘thâm khuê’ được thể hiện rõ ràng nhất trong cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Ở Việt Nam ngày hôm nay, ‘thâm khuê’ gần như bị tuyệt chủng, vì tình trạng phụ nữ và thiếu nữ xuất ngoại đi lấy chồng, đi xuất khẩu lao động, hay đi xuất khẩu tình dục. Tình trạng nữ thiếu nam thừa lên đến mức báo động, nên hiện nay, phụ nữ nào sinh con gái lại được Nhà nước thưởng tiền mặt. Hiện trạng này tưởng chừng như khó xảy ra ở một nước mà người dân trước nay vẫn chuộng có con trai nối dõi, như người ta vẫn nói trước đây, “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô.” Các học giả khắp nơi cũng đã phân tích tình trạng ‘gendercide’ ở Trung Hoa và những nước có truyền thống trọng nam khinh nữ trong nhiều năm qua.

Và nếu ta nhìn vào câu thơ của Nguyễn Bính, thì ‘quán trọ’ đã đi vào ‘thâm khuê’ khi phụ nữ Việt bôn ba trên bản đồ thế giới để buôn gánh bán bưng hay đi làm thuê trong các hãng xưởng ở nước ngoài; hay ‘thâm khuê’ đã đến ngụ ở ‘quán trọ’ trong trường hợp các cô hành nghề mãi dâm. Một lần đi chợ ở khu Little Saigon, tôi nghe một người đàn ông trung niên nói với một anh thanh niên:

– Mày đừng mơ tưởng chuyện về Việt Nam cưới vợ mà làm gì! Con gái nhà lành bên đó, nếu có, thì cũng đi lấy chồng Việt kiều hay ngoại kiều hết rồi. Con gái đẹp cũng không còn, vì đã qua Mã Lai hay Singapore làm điếm. Bây giờ về Việt Nam mà kiếm được một con vợ đàng hoàng, được mắt thì còn khó hơn lên trời!

Trong hoàn cảnh xã hội bần cùng và ngõ cụt kinh tế ở quê nhà, nhiều thiếu nữ Việt rất trẻ đã chọn cách mưu sinh của Đạm Tiên, đem ‘thâm khuê’ của mình đi xuất khẩu trong các dịch vụ và thương mại tình dục. Tuy tôi kịch liệt phản đối cái quan niệm ‘hồng nhan bạc mệnh,’ tôi vẫn phải như Tố Như, thốt lên trước hoàn cảnh của những cô gái lầu xanh thời nay của đất nước tôi, “Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung!”

Nếu thâm khuê ngày nào là một thực trạng tĩnh (buồng kín, đời sống cố định của phụ nữ trong gia đình và về mặt địa lý), thì hôm nay, thâm khuê đã đi vào trạng thái động (đời sống nhiều di chuyển về địa lý, những ý nghĩa mới của thâm khuê). Cũng như những khái niệm giới tính khác, thâm khuê đã đi vào những chân trời mới, những thực tế mới, những hình thức mới. Thâm khuê đã ‘di dân’ vào quỹ đạo tư tưởng và xã hội toàn cầu hóa, nhưng sức mạnh của thâm khuê là ở chỗ giữ được nét đẹp và giá trị văn hóa của mình.

 

sức sống của cái duyên

Tại sao tôi lại nói đến cái duyên ở đây? Hình như thế giới vẫn đồng ý với nhau ở một điểm: một người đàn bà có duyên vẫn đáng yêu hơn một người đàn bà đẹp. Một người đàn bà đẹp chỉ tạo được sự chú ý chóng qua ở người đối diện, nhưng một người đàn bà có duyên thì có uy lực chiếm ngự tâm hồn đối phương. Cái đẹp chỉ có khả năng gây chú ý, nhưng cái duyên thì ngang nhiên giữ trái tim người đối diện lại với mình.

Thâm khuê, trong nhiều ý nghĩa, cũng hàm ẩn cái duyên của người phụ nữ. Cái e thẹn của một thiếu nữ mới lớn đã chẳng làm xao xuyến bao trái tim nam nhân hay sao? Cái rụt rè của nụ hôn đầu, cái rạo rực của tình yêu đầu đời, há chẳng phải đến từ cái đằm thắm dịu dàng của cái duyên ư? Cái đêm động phòng hoa chúc – vì cớ gì mà người ta tốn bút mực vì nó đến như vậy?

Nếu quy chuyện nam nữ về chuyện tình yêu, thì cái nhu vẫn là cái điểm mạnh của phụ nữ. Nhu mà cương, dịu dàng như mạch nước nhưng lại làm thắm rừng xanh, nhẹ nhàng như cơn gió nhưng có thể xuyên qua núi vượt qua đồi. Chính vì cái nhu của âm tính trong trời đất, mà cái cương của dương tính mới hiện hữu, và ngược lại. Âm dương không tách biệt, nhưng lại có tính chất và vai trò minh định.

Nếu quy chuyện nam nữ về chuyện gia đình, thì ‘mười thương’ nói lên một cái duyên được dàn trải trong mọi phạm trù của đời sống một người phụ nữ. Hơn nữa, tôi lại nhớ đến bài danh ca tuyệt vời của Trầm Tử Thiêng, “Một Đời Áo Mẹ Áo Em,” và cảm kích vị cố nhạc sĩ tài ba này đã thâu tóm không biết bao nhiêu là nét duyên của người phụ nữ Việt xuyên suốt dòng lịch sử dân tộc.

Cái duyên của nữ giới, cho dù ở trong thời đại nào đi nữa, vẫn có một cái gì đó rất chung, vẫn là một di sản được truyền qua từng thế hệ. Giữ được cái duyên, là giữ được giá trị của một tâm hồn nữ tính, giữ được nét đặc thù của một người phụ nữ Việt Nam, giữ được cái ‘thâm khuê’ trong ý nghĩa tinh hoa nhất của nó. Cũng giống như hạt lúa hạt gạo, mà Thạnh Lam ví von là ‘hạt ngọc của trời đất,’ cái duyên của người phụ nữ Việt là mùa lúa thơm, nuôi dưỡng gia đình xã hội cho dù ở chân trời góc bể nào.

 

nữ tính không chết

Tuy thâm khuê đã phải dạn dày sương gió, đã phải tần tảo giữa đời, nhưng thâm khuê vẫn có đó, vẫn thích ứng với những tình huống mới. Người ta có thể cởi trần tất cả, nhưng vẫn không thể tìm được một nữ tính khỏa thân. Người ta có thể đào sâu đến tận cùng địa tầng của suy tư tình cảm, vẫn không hiểu thấu nữ tính trong từng người phụ nữ. Người ta có thể chà đạp thân xác người phụ nữ, nhưng vẫn không thể giết được một ‘thâm khuê’ ở bên trong.

Trong nghệ thuật thứ bảy, cơ thể của cả nam lẫn nữ đều được khai thác triệt để, đưa xúc giác lên màn bạc, trang giấy, màn hình kỹ thuật số. Cảm xúc được vồ lấy, đưa vào phim, làm thành truyện. Nhục cảm được lăng xê, được diễn đạt nhiều cách trên màn bạc, mỗi thời một kiểu, mỗi văn hóa một cách.

Nhưng cho dù người ta có làm gì đi nữa, thì cũng giống như những chiều kích khác của kinh nghiệm con người – như tình yêu chẳng hạn – thì nữ tính vẫn là một thế giới huyền bí, tuy minh mà ẩn, tuy tỏ mà vẫn lung linh nhiều ánh ngọc lạ.

Giữa những hoàn cảnh mới của thế kỷ 21, người phụ nữ ở khắp nơi đối diện với cả những cơ hội hiếm hoi lẫn những thách đố khôn lường. Người phụ nữ Việt, trong hoàn cảnh thực tế của đời sống hôm nay, chắc chắn đã ra khỏi thâm khuê, túa đi trên vạn nẻo đường đời. Sống trong thâm khêu không còn là một chọn lựa cho họ, và có lẽ họ cũng không muốn chọn lựa đó giữa khung cảnh thế giới ngày nay. Nhưng cái thâm khuê vẫn là một cõi riêng của họ, không đơn thuần ở những ý nghĩa cổ xưa như trước đây, mà là một cõi riêng của tư duy và tình cảm, của một đời sống nội tâm để quân bình với những giao tế với xã hội chìm nổi bên ngoài.

Trong nhiều hoàn cảnh, người phụ nữ phải chết đi, để tiếp tục sinh tồn. Chết ở đây, không có nghĩa là tận cùng. Sinh ký, tử quy. Chết để quay về với chính mình, và để tái sinh. Chết trong hoàn cảnh cũ, trong tư duy cũ, để đầu thai – trong cùng một kiếp – vào một nhân diện mới.

Ở đây, tôi muốn nói đến cái chết như sự dứt khoát với chính mình khi người phụ nữ bước vào một giai đoạn mới, một khung cảnh mới của cuộc đời. Khi một cô gái bắt đầu yêu, thì cái thơ dại của tâm hồn sẽ nhường chỗ cho cái lãng mạn, cái bạo dạn, cái háo hức của tình yêu. “Cô bé tóc đuôi gà” sẽ chết, để cho bình minh của một tâm hồn thiếu nữ nhạy cảm, tình tứ, say đắm được ló dạng.

Đối với tôi, khi yêu, thì mạng sống của mình không còn chỉ thuộc về bản thân mình, vì bây giờ đã có một đối tượng trực tiếp liên quan đến sự sinh tồn của mình. Khi bước vào hôn nhân hay một sự kết hợp lâu dài, thì nửa cái mạng của mình đã thuộc về người phối ngẫu. Và khi chuẩn bị làm cha mẹ, thì cả cái mạng của mình thuộc về thai nhi trong bụng, không chỉ vì chín tháng mười ngày mang nặng đẻ đau, mà vì mình quy hướng đời mình theo một ý nghĩa và mục đích sống mới.

Như vậy, cũng có nghĩa là ‘chết’ đến ba lần chứ chẳng chơi. Chết một lần để yêu, chết lần nữa để khơi màu hạnh phúc gia đình, và chết thêm lần nữa để được sống hai lần trong chính mình và trong đứa con của mình. Tôi nghĩ, Xuân Diệu đúng được một nửa khi ông nói, “Yêu là chết ở trong lòng một ít, Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu.” Tình yêu đơn phương thì có thể chết trong lòng một ít. Chứ tình yêu song phương thì chết cả hồn lẫn xác, như con nhộng hóa bướm, biến hình. Và chết không chỉ một lần.

Chết, nhưng cần dốc hết cả tâm lực, trí lực, và sinh lực để ‘chết’ cho người mình yêu và cho một đời sống mới. Có lẽ tại vậy mà trong ngôn ngữ hằng ngày, người Việt chúng ta thường nói, “Thương muốn chết!” chăng? Hay như câu ca dao, “Thò tay mà ngắt cọng ngò, Thương em đứt ruột giả đò làm ngơ” thì tình yêu được diễn tả một cách hết sức thể lý, để bày tỏ một cái gì đó ngoài khả năng diễn đạt của ngôn từ.

Như mạch nước, người phụ nữ chảy qua những nẻo đời trong thế kỷ 21. Có lúc, họ phải ồ ạt như thác lũ để vượt ghềnh. Có lúc, họ phải âm ỉ lan trên những cánh đồng lồi lõm. Có lúc, họ phải nhẹ nhàng lướt qua những vùng đất hôi thối, ô nhiễm. Để không vẩn đục. Có khi họ sẽ phải chết, để tiếp tục sống, để tái sinh.

Người phụ nữ đã bước ra khỏi thâm khuê, và đưa thâm khuê đi vào giữa lòng thế giới, trong nhiều hình thức và ý nghĩa khác nhau. Thâm khuê ấy đã biến thiên, phản ảnh cái trong cái đục của bao bến nước ở năm châu bốn bể mà người phụ nữ Việt Nam đã cập vào. Trong hoàn cảnh nào đi nữa, thâm khuê vẫn là nữ tính, vì – như tà áo dài Việt Nam – cái thâm khuê ấy tuy hiển hiện, mà vẫn e dè kín đáo, e ấp giữ lại một cõi riêng cho chính mình.

Viết từ thâm khuê của tâm hồn.

bài đã đăng của Trangđài Glassey-Trầnguyễn


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch