Trang chính » Biên Khảo, Phỏng vấn, Tư Liệu Email bài này

Trò chuyện với nhà văn Phạm Phú Minh (phần 2)

TDN: Anh cho biết tiếp cách điều hành tờ báo. Cũng xin hỏi rõ: trong việc điều hành và chọn lựa bài vở, anh hoàn toàn tự quyết định hay phải qua Ban Điều Hành của công ty Người Việt (và nhật báo Người Việt)? Nhân tiện, xin anh ghi lại cho vài chi tiết sau (một cách tổng quát): anh đã tổ chức hay bảo trợ tổ chức bao nhiêu lần ra mắt sách và hội thảo, nói chung là các sinh hoạt văn hóa, xã hội? Và Thế Kỷ 21 đã đứng ra xuất bản bao nhiêu đầu sách?

PPM: Về “khung” tổ chức, chúng ta thấy có in trên báo Thế Kỷ 21 một Hội Đồng Quản Trị khoảng 7, 8 người. Tùy thời gian số người này có thể thay đổi, có khi người này ra, người khác vào, nhưng trong đó luôn luôn có các vị như Đỗ Ngọc Yến, Đỗ Quý Toàn, Hoàng Ngọc Tuệ, Phạm Phú Minh… Đó là một hội đồng có tính cách tượng trưng, để cho thấy Thế Kỷ 21 có một tập thể độc lập coi ngó chứ không phải phụ thuộc vào báo Người Việt. Trong thực tế, hội đồng đó không làm việc thường xuyên, người được chỉ định hoặc bầu ra để làm chủ nhiệm hay chủ bút quyết định mọi việc trong việc điều hành tờ báo.

Riêng tôi từ 1995 bắt đầu sát cánh với Điểu trong việc lo bài vở, và từ đầu năm 1997 thì một mình tôi lo cho đến số cuối cùng. “Lo” đây là toàn quyền trong việc chọn lựa bài, thêm mục này, bớt mục kia, tìm ra và quyết định những người hợp tác mới, có sáng kiến làm những số báo có chủ đề đặc biệt. Nói chung, toàn bộ nội dung của tờ báo là do một mình tôi trách nhiệm. Người tham gia sát cánh với tôi nhất là Đỗ Quý Toàn như một cây bút chủ lực về bình luận thời sự chính trị, và giữ một mục nhiều người đọc là Sổ Tay, gom những bài bình luận do Toàn viết đã đăng trên báo Người Việt suốt tháng qua, sửa chữa lại cho gọn và làm nên mục này. Toàn và Điểu (mất năm 1999) là những người hay góp ý về nội dung lẫn hình thức của tờ báo.

Trong tất cả các anh em, tôi là người duy nhất làm việc full time cho Thế Kỷ 21. Tôi làm việc tại nhà, không có văn phòng tại báo Người Việt. Sau khi Điểu mất thì tôi tham gia thêm công việc của đài phát thanh VNCR, viết bài, đọc bài, và vào thời gian cuối, làm Tổng giám đốc.

Điều tích cực nhất cho bản thân tôi từ khi tôi lãnh trách nhiệm làm báo Thế Kỷ 21 là sự quan hệ xã hội. Rất nhanh tôi có được một mạng lưới rất tin cậy từ những người cộng tác, hầu như khắp thế giới. Tôi cho việc này là cái được lớn nhất cho cả cuộc đời tôi, đôi khi làm tôi ngạc nhiên. Từ những vị trí thức mình nghe tiếng đã lâu như Tôn Thất Thiện, Nguyễn Ngọc Bích, Trần Huy Bích, Phạm Cao Dương, Võ Phiến, Phạm Duy, Nguyễn Gia Kiểng, Thụy Khuê … tự nhiên đến một lúc nào đó bỗng thành những người bạn tâm giao; các người cầm bút cùng lứa với mình, hoặc trẻ hơn như các anh em đi từ Hà Nội đang ở Đông Âu trở nên thân thiết thì rất đông; đặc biệt các gia đình như Phạm Quỳnh, Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Trương Bảo Sơn, Le Mur Nguyễn Cát Tường… thì tuy tôi mới quen biết trong thời kỳ làm báo Thế Kỷ 21, nhưng ngay lập tức cảm thấy gần gũi quen biết nhau như từ lâu lắm rồi, đến độ coi nhau gần như bà con; một số các cây bút trẻ như Nguyễn Văn Thực (Na Uy), Tôn Nữ Thu Nga, Hoàng Quân (Đức)… đã đến với Thế Kỷ 21 và coi tôi như một người bạn lớn tuổi.

Trong một chuyến đi du thuyền với bạn bè trên biển Baltic, tôi lên bến Oslo (Na Uy) được hai vợ chồng nhà văn Tâm Thanh-Khánh Hà đón ở bến tàu để đưa đi chơi. Buổi trưa về nhà anh chị thì được gặp các bạn văn cư ngụ ở Oslo Nguyễn Văn Thực, Trương Kim Anh, Song Chi cùng nhau ăn uống. Trong bữa ăn, Nguyễn Văn Thực nói với mọi người một câu khiến tôi sửng sốt: “Không có anh Phạm Phú Minh thì cũng không có Nguyễn Văn Thực.” Thực giải thích ngay: “Anh Minh đã đăng các sáng tác của tôi trên báo Thế Kỷ 21, nhà xuất bản Thế Kỷ của anh đã ấn hành hai cuốn sách của tôi.” Lúc đó tôi mới hiểu ảnh hưởng sự phổ biến bài vở của một tác giả trẻ trên Thế Kỷ 21 có tầm quan trọng như thế nào. Tối hôm đó trở lại tàu tôi kể lại với các bạn cùng đi câu nói của Nguyễn Văn Thực, thì anh Nguyễn Tường Thiết lại làm tôi sửng sốt hơn nữa khi thốt ra: “Tôi cũng thế, không có anh thì không có tôi.” Các câu nói đó chỉ để khẳng định một điều: tờ báo Thế Kỷ 21 quả là có ảnh hưởng khá quan trọng đối với uy tín của các cây bút cộng tác.

Không có mạng lưới quen biết được thành hình một cách rất tự nhiên do việc làm báo thì coi như tôi không thể nào làm thành công trong việc làm báo nói chung, hoặc khi thực hiện những số báo đặc biệt, hay lớn lao hơn, tổ chức các buổi tưởng niệm, triển lãm, hội thảo .… Cái mà tôi gọi là “mạng lưới” đó thật ra là một khối tinh thần, một tình thân thiết, tin cậy xuất hiện giữa tôi và một số rất đông người trong giới văn hóa. Dĩ nhiên là qua tờ báo, nhưng đôi khi tôi thấy tờ Thế Kỷ 21 chỉ là một cái cớ, một chất xúc tác trực tiếp, còn cái duyên chữ nghĩa, duyên văn nghệ, văn hóa giữa mình và họ dường như đã tồn tại sẵn đâu tự bao giờ…

Trở lại mấy câu hỏi của Nho về các buổi ra mắt sách, các chương trình hội thảo, triển lãm, các số báo đặc biệt và việc xuất bản sách của Thế Kỷ 21. Đó là các mảng khác nhau về tính chất và tầm cỡ tổ chức.

Về sinh hoạt ra mắt sách, thực ra tôi rất ít khi tổ chức. Người khác tổ chức và mời mình phát biểu thì nhiều. Có thời gian anh em ta viết sách rất hăng, và trong chỗ bạn bè mình phải nhận lời mời phát biểu cũng hơi dồn dập. Cũng có trường hợp họ đưa sách đọc trước, mình thấy không thích hợp để phát biểu, phải từ chối. Các buổi ra mắt sách là loại sinh hoạt nhỏ, gọn, ảnh hưởng trong xã hội không lớn, nhưng nó hâm nóng hoạt động văn học nghệ thuật trong cộng đồng.

Không thể nhớ hết đã phát biểu bao nhiêu lần ra mắt sách, nhưng nhớ một số bài phát biểu mà chính mình và tác giả cuốn sách đều hài lòng. Ví dụ bài nói về cuốn Thơ Tuyển Bốn Mươi Năm 1969-2009 của Trần Mộng Tú; bài điểm cuốn Hồi ký của Vũ Quốc Thúc (tác giả ở Pháp nhưng nhờ nhà xuất bản tổ chức ra mắt sách tại báo Người Việt, Nam California, Hoa Kỳ. Xong việc, tôi gửi bài phát biểu qua Pháp cho tác giả đọc, được trả lời: Tôi đang bệnh, nhưng đọc bài của anh tôi hết bệnh)…

TDN: Trong số nhiều sinh hoạt mà anh đứng ra, trực tiếp hay gián tiếp, tôi có tham dự và làm thuyết trình viên vài lần. Gây ấn tượng cho tôi nhiều nhất là cuộc hội thảo về Tự Lực Văn Ðoàn và Văn Học Miền Nam. Riêng anh, (những) lần sinh hoạt nào khiến cho anh mãn nguyện nhất?

 

PPM: Hai cuộc hội thảo sau đây để lại cho tôi nhiều ấn tượng tích cực nhất:

Ngày Phạm Quỳnh: Đối với tôi, Phạm Quỳnh gần như là một nhân vật huyền thoại. Tổ chức Ngày Phạm Quỳnh (tháng 5, 1999) và làm số báo Thế Kỷ 21 về Phạm Quỳnh là những việc tôi cho là cần thiết để chiếu rọi ánh sáng vào nhiều nơi còn khuất lấp trong cuộc đời cũng như trong cái chết của ông.

Trước ngày hội thảo tôi có một buổi gặp gỡ các người con của học giả Phạm Quỳnh là chị Phạm Thị Hảo (con gái thứ năm của học giả, đến từ Maryland), chị Phạm Thị Hoàn (con gái thứ tám, đến từ Paris), anh Phạm Tuân (con trai út, cũng đến từ Maryland). Buổi trò chuyện này được công ty điện toán Kicon quay phim và đưa lên mạng lưới Internet toàn cầu. Ngoài những kỷ niệm êm đềm trong gia đình do bà Hoàn và ông Tuân gợi lại, bà Phạm Thị Hảo đã kể chuyến đi tìm hài cốt của cha vào năm 1956 do chính bà thực hiện. Lần đầu tiên sự việc này được người trong gia đình thuật lại, khiến nhiều người rất xúc động.

Tôi xin trích một đoạn thư của anh Phạm Tuân gửi ban tổ chức sau khi Ngày Phạm Quỳnh kết thúc:

Là người con của gia đình, sau khi dự Ngày Phạm Quỳnh về lại Maryland, tôi còn cảm thấy bàng hoàng, xúc động trước những sự việc xẩy ra, với những gì các anh chị bên ấy đã làm… Ngày 8 tháng Năm 1999 là một ngày khó quên, ngày mà chúng tôi, những hậu duệ của cố học giả Phạm Quỳnh mong mỏi, chờ đợi từ hơn một nửa thế kỷ! Với ‘Ngày Phạm Quỳnh’ cha tôi đã sống lại trước lịch sử! (…)

Chẳng nói nhiều, các anh chị cũng thừa hiểu chúng tôi cảm kích, tri ơn công việc của các anh chị sâu xa đến chừng nào.” (Phạm Tuân – Silver Spring, MD).

clip_image002

Từ trái: Phạm Tuân, Phạm Thị Hoàn, Phạm Phú Minh, Phạm Thị Hảo và Tôn Nữ An (cháu ngoại Phạm Quỳnh) trong buổi trao đổi tại Kicon, 5.1999.

Triển lãm và Hội thảo về báo Phong Hóa Ngày Nay và Tự Lực Văn Đoàn: Đã diễn ra trong hai ngày 6 và 7 tháng 7 năm 2013 tại báo Người Việt, Nam California. Từ mười năm trước tôi đã làm số báo Thế Kỷ 21 đặc biệt và xuất bản một cuốn sách về Nhất Linh. Rồi đến năm 2011 cùng với một số anh chị em sưu tầm và số hóa xong báo Phong HóaNgày Nay. Vào mùa hè năm 2012 anh Nguyễn Tường Thiết cho tôi biết vào tháng 7 năm 2013 bà con Nguyễn Tường sẽ tề tựu về Little Saigon để làm đám giỗ kỷ niệm 50 năm Nhất Linh qua đời (7/7/1963 – 7/7/2013), tôi bỗng nảy ra ý “phải làm một cái gì đó” nhân dịp này. Đây là lần đầu tiên sáng kiến tổ chức do một mình tôi nghĩ ra, những lần khác là do gợi ý và cùng bàn bạc với một số bạn bè.

Thế hệ Hậu duệ của nhóm Tự Lực Văn Ðoàn
Hậu duệ của thế hệ Tự Lực Văn Ðoàn trong ngày hội thảo tại Nhật Báo Người Việt.
Từ trái: Bác Sĩ Nguyễn Tường Giang (con trai nhà văn Thạch Lam), nhà văn Doãn Quốc Sĩ (con rể nhà thơ Tú Mỡ), ông Trần Khánh Triệu (con nuôi nhà văn Khái Hưng), nhà văn Phạm Thảo Nguyên (con dâu nhà văn Thế Lữ), nhà văn Nguyễn Tường Thiết (con trai nhà văn Nhất Linh), bà Minh Thu (con gái nhà văn Hoàng Ðạo).
(Hình: Triết Trần/Người Việt)

Như mọi người đã thấy, đây là một công cuộc sinh hoạt triển lãm và hội thảo về văn học có quy mô lớn nhất từ trước đến nay tại hải ngoại. Cuốn Kỷ Yếu và bộ DVD về cuộc hội thảo đã ghi lại diễn tiến suốt hai ngày. Tôi nghĩ tầm vóc cuộc triển lãm và hội thảo cùng số người tham dự đông đảo một cách khác thường xứng đáng với tầm quan trọng của Tự Lực Văn Đoàn và ảnh hưởng của nó đã tạo được trong xã hội.

KyYeuHoiThaoTLVD-Cover

Cuộc hội thảo Văn học Miền Nam do anh Nguyễn Hưng Quốc đứng ra tổ chức năm 2014 tôi cũng rất tâm đắc, vì cũng là mảng văn học bị cộng sản vùi dập, chúng ta cùng ngồi lại đặt để lại giá trị tự thân của nó.

VHMN image

TDN: Ngoài phần làm báo, tổ chức sinh hoạt văn học nghệ thuật, anh còn đứng ra xuất bản một số tác phẩm có tính chất đặc biệt, chẳng hạn như tuyển tập Võ Phiến, truyện của Nguyễn Bình Phương và một vài tác giả khác. Tập kỷ yếu Tự Lực Văn Đoàn cũng rất công phu, sẽ trở thành một tài liệu văn học quý giá sau này. Với riêng cá nhân tôi, tác phẩm gây nhiều ấn tượng nhất là Nghệ Thuật tạo hình Việt Nam của Huỳnh Hữu Ủy. Một, đó là công trình biên khảo hội họa duy nhất tính cho đến nay về hội họa Việt Nam; và hai, Ủy là bạn thân của tôi, chúng tôi đã sống qua cả một thời nhiễu nhương từ khi còn mài đũng quần trong lớp đệ thất cho đến nay khi ra hải ngoại và theo dõi rất sát, rất kỹ con đường viết lách của Ủy. Trong lời đề tựa cho cuốn sách, anh cho biết “chi phí in ấn khá cao” khiến cho việc in tác phẩm này mất nhiều thời gian và cần sự giúp đỡ của nhiều người có thiện chí với nghệ thuật. Cho nên, khi cầm cuốn sách trên tay, độc giả “cảm thấy được sức nặng của bao khó nhọc, bao quyết tâm và bao tấm lòng.”

Nhưng nói chung, dù là làm gì và làm cho ai, tôi thấy trong đó có tấm lòng của anh đối với văn học nghệ thuật Việt Nam, đúng không? Đó có phải là động lực thúc đẩy anh làm việc? Hay có yếu tố nào khác?

 

PPM: Đang làm báo, sao lại nhảy vào việc xuất bản?

Mọi chuyện tình cờ thôi. Tháng 7 năm 2002 tôi thực hiện số đặc biệt về Nhất Linh, khá tốt, với sự yểm trợ tài liệu của cô Kim Anh con ông Trương Bảo Sơn từ Canada, và Nguyễn Tường Thiết từ Seattle mà tôi mới quen biết. Số báo đó bán chạy, một thời gian ngắn là tuyệt bản, đó là một hiện tượng hiếm có trong làng báo. Nhiều người gửi thư về tòa soạn hỏi mua, vì địa phương của họ không còn số nào. Đến một lúc tòa soạn cũng hết luôn, tôi nghĩ phải làm một cuốn sách, chứ có ai đi “tái bản” một số báo bao giờ. Thế là tôi bắt tay làm cuốn Nhất Linh Người Nghệ Sĩ Người Chiến Sĩ, với bài vở lấy từ số báo cũ cộng thêm một số bài viết mới. Vì tài liệu về Nhất Linh phong phú và thú vị quá nên tôi quyết định làm một cuốn sách thật đẹp, in màu trên giấy láng. Được cái, tuy nhà xuất bản là Thế Kỷ (do Điểu sáng lập, đã xuất bản một số sách), nhưng tất cả kinh phí in ấn lần này đều do Người Việt đài thọ hết.

 

clip_image004 clip_image006 clip_image008 clip_image010

Đến Tuyển Tập Võ Phiến cũng thế, tôi đứng ra chủ trương nhưng nhật báo Người Việt lo chuyện in ấn bên Đài Loan, theo chỉ dẫn của chị Trương Anh Thụy in tại nhà in quen, do một người Tàu Chợ Lớn quản lý. Tôi giới thiệu nhà in này cho một số bạn bè, từ đó Song Thao cho đến hôm nay vẫn còn in Phiếm với ông Tàu Chợ Lớn này.

Sau vụ này tôi “đỡ đầu” việc xuất bản sách của một tác giả mới của Thế Kỷ 21, là Nguyễn Văn Thực bên Na Uy, quyển Người Thích Nhìn VúBên Giòng Sông Hằng. Rồi đến sách của Nguyễn Đức Tường, Tà Áo Văn Quân.

Cuốn Nghệ thuật tạo hình Việt Nam của Huỳnh Hữu Ủy thoạt đầu tôi cũng có ý định tự mình xuất bản, nhưng sau thấy quy mô cuốn sách lớn quá so với sức của mình, tôi phải chia sẻ công việc và trách nhiệm cho nhiều người mới thành được. Nhờ sự tháo vát của lớp trẻ thuộc hội VAALA (Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ) mà Y Sa, con của Lê Đình Điểu, là người đứng đầu, từ sắp xếp lại nội dung, tìm nhà in bên Đại Hàn, vận động tài chánh cho đầy đủ sách mới xong (phải có số tiền 20 ngàn đô la mới bắt đầu được, trong đó tôi kiếm được 10 ngàn). Hội VAALA cũng do anh em Người Việt thành lập vào đầu thập niên 1990, sau khi Điểu lâm bệnh nặng và qua đời thì Hội được chuyển lại cho lớp người trẻ.

Riêng cuốn Xe Lên Xe Xuống của Nguyễn Bình Phương tôi in năm 2011 khi không còn tạp chí Thế Kỷ 21 nữa, mà đã bắt đầu thời kỳ Diễn Đàn Thế Kỷ (một tờ báo mạng do tôi phụ trách từ năm 2010). Một người quen với tôi ở Hà Nội trình bày với tôi Nguyễn Bình Phương vừa viết một cuốn sách rất đặc biệt, có nhu cầu xuất bản ở hải ngoại vì trong nước chắc chắn bị cấm. Thời gian này tôi không có ý định làm xuất bản nữa, nhưng khi nghe như vậy, tôi bảo gửi bản thảo cho tôi, đọc xong tôi quyết định xuất bản ngay. Cũng hơi liều, lần này in sách phải lấy tiền nhà mà trả chứ Diễn Đàn Thế Kỷ không có đồng xu nào. May mà cũng thu được vốn, và gửi sách thay nhuận bút cho tác giả đầy đủ.

Quyển cuối là Kỷ Yếu hội thảo Tự Lực Văn Đoàn, lấy tiền bá tánh mà in (mượn, hoặc tặng), rồi cũng in được đàng hoàng và trả hết nợ.

Tôi in một quyển sách khi nào tôi thấy cuốn đó cần in hay đáng in, chỉ có hai tiêu chuẩn đó thôi. Khi lời khi lỗ, khi vận động người khác yểm trợ chi phí, nhưng hình như không lúc nào tôi có cảm giác được “lời” về tiền bạc. Ví dụ cuốn Kỷ Yếu sau khi thu hồi được vốn, có ai hỏi, tôi tặng chứ không bán nữa (trừ các nhà sách).

Nhân đây tôi xin nói thêm về một sinh hoạt văn hóa khác do tôi sáng lập năm 2003 còn hoạt động tới ngày nay, đó là cuộc Thi Vẽ Thiếu Nhi nhân dịp Tết Trung Thu. Năm đó ngoài việc làm báo Thế Kỷ 21, tôi còn lo đài phát thanh VNCR, có lẽ vì công việc hằng ngày nhộn nhịp mà tôi nảy ra ý tổ chức cuộc thi vẽ này. Ngay lần tổ chức đầu tiên tại báo Người Việt vào dịp Tết Trung Thu năm 2003, cuộc thi vẽ đã đạt quy mô lớn với khoảng 300 thí sinh thiếu nhi và thiếu niên, và có tiếng vang rất tốt về phẩm chất cũng như là một sinh hoạt có ý nghĩa trong cộng đồng. Các năm tiếp theo thì hội VAALA đều đặn phụ trách tổ chức tổng cộng đã được 12 lần, chỉ có Trung Thu năm nay 2016 thì tạm nghỉ một năm vì Hội bận quá nhiều việc khác.

TDN: Hà nội trong mắt tôi, một bút ký nhẹ nhàng nhưng sâu lắng và thấm thía. Tôi cũng đã từng ra Hà Nội nhiều lần và viết về Hà Nội như anh, qua bài “Lô Sơn Yên Tỏa.” Tôi tìm thấy rất nhiều điều tương đắc. Mấy chục năm sau, tuy bây giờ Hà Nội đã thay đổi nhiều, nhưng những nét chính, sản phẩm của một chế độ chính trị hà khắc, dường như vẫn thế. Tôi ghi lại vài đoạn:

– “Chỉ tiếc khi nhìn ngôi sao trên đỉnh tháp Rùa thì trí tưởng tượng của tôi về câu chuyện con rùa đòi thanh gươm của Lê Lợi không thể nào hoạt động được, nó tê cứng như con chuột bị con rắn thôi miên vậy. Tôi tự hỏi có phải trong trường hợp nào cũng cần phải đem cái hiện tại đè lên trên cái cổ truyền như thế không. Thỏa mãn một nhu cầu nhất thời có khi lại làm hại một sự thành tựu đã lâu đời.”

– “Công thức sống tại thành phố này là: tôi là trung tâm, cái gì không phải tôi chỉ là phụ. Mọi cái xoay chung quanh là để phục vụ cho tôi, tôi tìm mọi cách khai thác cho mình tất cả những gì có thể khai thác được trong tầm tay. (…) Còn nếu cố tìm một chữ để diễn tả chung lối sinh hoạt của dân Hà Nội thì tôi thấy không chữ nào hơn là chữ “tùy tiện.” Từ việc lưu thông trên đường, đến mua bán, đến lấy nước, tắm giặt… tất cả đều theo một nguyên tắc: làm theo cách nào tiện lợi cho mình nhất thì làm.”

Một đoạn trong bài “Chùa là cái Thiện của làng”:

– “Tức là người dân trong xã hội miền Bắc không những bị ngăn chặn thông tin với thế giới bên ngoài mà còn bị ngăn chận với thế giới bên trong của họ: họ thiếu tôn giáo, thiếu hẳn sự thể nghiệm, sinh hoạt cái tâm thức vô cùng sâu thẳm và phong phú vốn con người ai cũng có.”

HN Trong Mat Toi cover


PPM
: Không ngờ Nho đọc lại “Hà Nội trong mắt tôi,” tôi rất cảm động…

TDN: Tôi đọc cuốn này lâu lắm rồi, từ khi mới qua Mỹ, sách do Nguyễn Mộng Giác gửi tặng. Và mới đọc lại đây.

PPM: Tôi viết bài Hà Nội trong mắt tôi tại Sài Gòn sau khi đi Hà Nội chơi trong một tháng mùa hè năm 1989. Một tháng ở nhà ông anh ruột, đảng viên, trung tá, nhưng thời anh tôi còn đi học tại trường Lê Khiết, Quảng Ngãi (1948-52) vẫn còn chịu ảnh hưởng của hai ông anh rể đều là Quốc Dân Đảng, nên cái nhìn của ông anh về mọi sự khá quân bình và hiểu biết chứ không giáo điều như những kẻ ít học hoặc bị bưng bít. Ngay cả bà chị dâu, tốt nghiệp kỹ sư dệt tại Liên Xô, cũng có cái nhìn thoáng, và đặc biệt bà ấy ghét Tố Hữu thậm tệ.

Chính hai ông bà rủ tôi đi xem vở kịch Trái Tim Chó tại nhà hát lớn Hà Nội, xem xong bà có vẻ bị sốc có lẽ vì không hiểu hết ý nghĩa sâu xa của kịch bản, cho mãi khi đọc bài Hà Nội trong mắt tôi thì thắc mắc của bà mới được giải tỏa. Bây giờ cả hai ông bà đều đã quy tiên, và tôi thấy cảm tình của tôi đối với ông anh tập kết và chị dâu rất sâu đậm.

Nhờ ở Hà Nội một thời gian lâu và được gặp gỡ tương đối nhiều giới qua vợ chồng ông anh, tôi đã quan sát được những điều như Nho mới trích dẫn. Hà Nội bây giờ thì chắc bề ngoài thay đổi nhiều lắm rồi, những cái ngô nghê như ngôi sao trên đỉnh tháp Rùa hẳn là đã được dẹp bỏ, nhưng lắm điều đã gắn chặt vào tâm tính, tâm hồn người dân miền Bắc của thời xã hội chủ nghĩa khắc nghiệt bây giờ cũng không cách nào gột rửa một cách nhanh chóng được. Những thứ mà tôi gọi là “gắn chặt” ấy không nằm trong ý thức hệ cộng sản đâu, tôi nghĩ hầu hết dân miền Bắc giờ này, với nhiều mức độ khác nhau tùy trình độ, đều đã ngộ ra lý thuyết cộng sản là thứ dỏm. Cái còn dính mãi trong tâm trí họ là hậu quả của cuộc sống kinh tế chỉ huy, là một cuộc sống vừa bị đè nén vừa nghèo đói của thời xã hội chủ nghĩa. Nó đã tạo nên trong con người sống thời đó một loại bản tính thứ hai, và mãi đến ngày hôm nay vẫn còn phảng phất nơi họ như một thứ bản năng. Nếu so sánh thì thấy người miền Nam khác hẳn, không hề có những đặc tính như vậy, mà tôi nghĩ phải trải qua những năm tháng cực khổ thiếu thốn và bị đè nén như thế nào những dấu vết như thế mới hằn đậm nét lên tâm tính của con người. Dĩ nhiên đây chỉ là nhận định tổng quát của tôi, nhưng có nguồn gốc từ những quan sát cụ thể từ nhiều cá nhân mà tôi tiếp xúc. Ít nhiều ai trong xã hội đó đều bị vướng vào cái mà tôi tạm gọi là bản tính thứ hai ấy.Dĩ nhiên không phải là lỗi ở họ, mà ở chỗ chế độ khắc nghiệt mà họ đã sống.

Phần tâm linh cũng bị méo mó sau thời gian sống trong xã hội miền Bắc: nó mang tính thực dụng rõ rệt. Chính quyền sau mở cửa càng tiếp sức để làm hư hỏng tín ngưỡng bằng những “lễ hội” đầy mê tín với mục tiêu rõ rệt là kiếm tiền. Trong Hà Nội trong mắt tôi, tôi chỉ quan sát lớp người cũ chưa ra khỏi ảnh hưởng của những năm cấm đoán tôn giáo nghiệt ngã, vừa nhân danh xã hội chủ nghĩa vừa lý do chiến tranh. Hồi đó chưa có những hiện tượng lễ hội hoành tráng nhưng rỗng tuếch về ý nghĩa như sau này.

TDN: Tôi ra miền Bắc nhiều lần, bon chen kiếm sống, đi nhiều nơi, nhiều vùng khác nhau (anh có thể đọc thấy qua những bài ký đăng trên Thế Kỷ 21 và in lại trong Loanh quanh những nẻo đường) nên nhận thấy cái chế độ chính trị “hà khắc” này thoát thai từ ý thức hệ Cộng Sản, khiến cho nó “hà khắc” còn hơn cái hà khắc của một bạo chúa ngày xưa. Chính cái ý thức hệ này, khi mang ra áp dụng, tạo ra những biến tướng, những dị bản trong tâm lý người dân, lắm khi người ta không tìm thấy sự liên hệ. Hồi đó, khoảng năm 1983, có lần tôi đi tàu lửa, xuống ga Vinh, chứng kiến cảnh hàng chục người vây quanh đánh đập liên tục và không thương tiếc một cậu thiếu niên chỉ vì bắt gặp cậu ta ăn cắp một cái trứng gà, trong lúc những người khác chứng kiến một cách khoái trá. Mới nhìn, ta thấy có vẻ như chứng tỏ những người đó rất ghét cái ác, cái bất lương. Thực ra, tôi nhìn thấy có vẻ như họ thiếu cái ‘thiện” thông thường, trả thù cái “hà khắc” bằng sự hà khắc với nhau. Một cách giải tỏa tâm lý.

Nhưng thôi, hãy trở lại chuyện văn chương. Hầu như tất cả các hoạt động của anh đều dính líu trực tiếp đến văn chương. Và anh viết văn. Rất văn. Nhưng trông bộ anh không quan tâm đến chuyện sáng tác mấy. Truyện không thấy viết. Thơ không hề thấy. Sau Hà Nội trong mắt tôi, tập hợp những bài viết in rải rác đó đây, về sau này, anh viết khá nhiều: giới thiệu sách, những bài bút ký, những bài điểm sách, giới thiệu sách hay những bài tản mạn khác về văn học, văn hóa, chính trị…Nhiều bài đọc rất thấm, chẳng hạn bài “Vang bóng một thời sắp qua”.

Anh quan niệm MÌNH như thế nào? Và anh nhìn văn chương như thế nào?

PPM: Chuyện tôi không viết văn thì rất rõ, nhưng Nho là người đầu tiên phát giác là tôi không hề sáng tác. Tôi tự biết điều đó từ lâu. Truyện ngắn đầu tiên và cuối cùng tôi viết là đăng trên báo xuân của trường Chu Văn An niên khóa 1959-60, khi tôi học Đệ Nhất C ở đó. Tôi không bao giờ làm thơ. Nói chung, tôi không có năng khiếu sáng tạo. Những gì tôi viết thiên về nhận xét, bình phẩm một cái gì đó, ngay cả ở các du ký. Khuynh hướng ấy nếu đẩy cao một chút nữa thì có thể là nhà phê bình, nhưng vì tôi không học cao về lý thuyết văn chương, nên chỉ làm người điểm sách. Mình biết cái tầm của mình chỉ ngang đó.

Những bài có chút trình độ “văn” của tôi chính là các tùy bút, vẫn chứa nhiều nhận xét, bình phẩm, ít khi mang được tình cảm của mình vào. Thì cũng có lúc cảm khái, chẳng hạn khi thấy cả một thế hệ của nhà văn miền Nam sắp đi qua, ghi xuống một chút tình cảm xúc động. Chút ít như vậy thôi. Hình như ngòi bút của tôi lý trí nhiều hơn tình cảm, và thiếu chất tài hoa. Trong các bài thi thời trung học không bao giờ tôi chọn luận đề văn chương, mà chỉ viết về “nghị luận luân lý” hoặc cái gì tương tự. Cái “tôi” viết lách tóm lại chỉ có bấy nhiêu.

TDN: Tôi chẳng “phát giác” cái gì cả. Chưa hề đọc được sáng tác nào của anh thì bảo anh chưa hề sáng tác, thế thôi. Một cách hỏi để được trả lời ấy mà.

Ngược lại với nhận xét của anh về mình, tôi nhận thấy những bài viết của anh, chất văn rất nhiều, lại đậm đà hơn nhờ những suy gẫm. Có thể nói là một loại văn-triết. Văn lai triết. Loại văn lai lai này khiến nó trông có vẻ …nghị luận, nói theo kiểu của anh. Thì tránh sao được. Bao năm lặn sâu vào những suy tư triết học làm sao không “méo mó nghề nghiệp”. Chả thế mà nhìn sự vật bao giờ cũng nhìn qua lăng kính của những cảm nhận của một người suy tư. (Tôi cũng học triết, nên có người chê tôi là cách viết văn của tôi khi nào cũng mang tính lý sự.) Văn triết cũng là văn. Nhưng nhất định không phải là nghị luận luân lý. Những bài viết của anh đậm đà chất tùy bút. Nó lang bang, nhưng không lang bang …một cách vô định. Này nhé,

Nhưng các đám mây tím ấy mang một vẻ đẹp kỳ lạ. Cao mà không ngạo, tím mà thanh thoát, như một lời hẹn hò mà không mong sự tương phùng. Nó là một nỗi bâng khuâng. Nó đưa người ta trong một chốc lát vào một tâm cảnh huyền hoặc tựa hồ trong dáng vẻ và màu sắc ấy có chất ma túy nhẹ và loãng nhưng đủ gây một ma lực khiến bâng khuâng, tưởng như trong ấy cảnh và người của một kiếp xa xôi nào đấy, nhưng lâng lâng niềm vui chờ mong của một cuộc hẹn hò mãi mãi.” (“Hoa tím bâng khuâng,” Phạm Xuân Đài)

PPM: Cám ơn Nho…

TDN: Ngoài việc điều hành trang mạng Diễn Đàn Thế Kỷ, anh còn dự tính gì cho những hoạt động tương lai?

PPM: Ngoài chuyện làm báo, hiện nay tôi đang viết hồi ký. Đó không phải là một “dự định” mà là một việc tôi đã bắt đầu làm khá lâu rồi, có thể từ mươi năm nay, nhưng còn mịt mù không biết bao giờ thì xong. Vì thế cuốn hồi ký ấy cũng có thể coi là một công việc của tương lai.

Tôi viết không liên tục, thường hay bỏ dở dang khi bận những việc khác. Có dạo Thơ Thơ khuyên tôi một ý rất hay, là đừng viết hồi ký theo lối biên niên, mà theo từng sự việc nổi bật trong đời. Theo lời khuyên ấy tôi đã viết cho Da Màu bài Tết năm Đinh Hợi-1947, là cái tết cuối cùng ở làng trước khi gia đình tôi đi tản cư. Tính tôi hay bỏ dở dang công việc lắm, khi qua cơn hào hứng ban đầu tôi xao lãng dần, có khi quên phứt luôn. Một số bài du ký tôi đăng trên Thế Kỷ 21 trước đây cũng ở trong tình trạng dở dang như vậy. Được cái báo một tháng mới ra một lần nên độc giả cũng chẳng để ý, mà chính tôi cũng chẳng để ý, coi như quên luôn, coi như bài ấy đã kết thúc rồi. Rồi cũng xong.

Vì thế “dự án lớn” hồi ký đời tôi không biết có dấu chấm hết trước khi tôi chết không, dù là viết theo biên niên hay theo sự kiện. Dù năm nay tôi đã 78 rồi tôi cũng không cảm thấy cần phải nhanh với chứ vội vàng lên với chứ chút nào hết. Mọi việc vẫn tà tà theo cái cách của tôi, tới đâu thì tới.

Việc viết hồi ký là thiết thân với mình mà tôi còn cà rề như vậy, huống chi các việc khác liên quan đến những vấn đề như văn học, chính trị, xã hội… thì tôi càng thấy “lỏng lẻo” lắm, vì cảm nhận rất rõ lực bất tòng tâm rồi. Có lẽ chỉ còn một việc mà tôi cho là rất đáng làm bây giờ, đó là nghiên cứu kinh Phật. Đôi khi tôi tự hỏi, đến khi nào thì trí tuệ và tâm linh mới nhập được làm một đây ?!

TDN: Mừng anh! Hy vọng điều này sẽ giúp anh luôn luôn tìm thấy bình an trong tâm hồn.

Nhưng trước khi chấm dứt câu chuyện, xin hỏi anh một câu hỏi có hơi riêng tư một chút. Tên anh là Phạm Phú Minh, “Phạm Phú” ở đây có liên hệ gì đến nhân vật Phạm Phú Thứ trong lịch sử?

PPM: Tôi là cháu cố trực hệ (ba đời) của ông Phạm Phú Thứ, người làm phó sứ cho phái bộ Phan Thanh Giản đi sứ qua Pháp năm 1863 dưới thời vua Tự Đức.

TDN: Thì ra thế! Là hậu duệ của một nhân vật lịch sử, anh có cảm tưởng gì đặc biệt về ông cụ cố?

PPM: Làm cháu của một danh nhân thì luôn luôn có một niềm vinh dự, nhưng nhiều khi cũng… bứt rứt. Tôi có một bà cô ruột (chị của cha tôi), một lần trước 1975, khi ấy cô đã ngoài tám mươi, đã hỏi tôi rằng: “Như anh Hiển của con, qua Pháp đi học đậu được bằng cấp như thế, thì đã bằng ông cố ngày xưa chưa?” Cô của tôi, một bà già không biết chữ suốt đời lo việc tằm tang, tại sao đã hỏi tôi một câu như thế? Rõ ràng là trong tâm hồn cô tôi luôn luôn có sự theo dõi, so sánh và mong ước đám con cháu được lừng lẫy. Nhưng một mảnh bằng tiến sĩ trên đất Pháp mà đem so sánh với sự nghiệp của ông cố tôi, thì quả thật khó quá!

Theo tôi, ảnh hưởng quan trọng nhất của tổ tiên đối với con cháu là việc tạo lập nên một nề nếp trong đời sống. Nếu một nhân vật trong quá khứ đã đánh dấu được một thành công nổi bật nào đó về nhân cách, về tài năng, về đức độ, về học vấn thì cả gia tộc được hưởng trực tiếp nề nếp tinh thần của một cách sống, cách ứng xử cho hợp với đạo đức và danh dự mà chúng ta gọi là gia phong. Một nhân vật sáng chói của một giòng họ lúc nào cũng như hiện diện để nhắc nhở con cháu một điều gì đấy, luôn luôn khiến mình phải cảnh giác không phạm phải những điều không xứng đáng. Đó là cái tôi cảm thấy rõ rệt nhất trong đời tôi, với tư cách là cháu của cụ Phạm Phú Thứ, một nhân vật lịch sử.

(Thực hiện qua email, từ tháng 6/2016 đến tháng 9/2016)

bài đã đăng của Trần Doãn Nho


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch