Trang chính » Biên Khảo, Phỏng vấn, Tư Liệu Email bài này

Trò chuyện với nhà văn Phạm Phú Minh (phần 1)

Lời Giới thiệu của Trần Doãn Nho (TDN): Tôi quen nhà văn Phạm Phú Minh (PPM – bút hiệu Phạm Xuân Đài) qua Thế Kỷ 21, tờ tạp chí tôi cộng tác từ lúc anh làm chủ bút cho đến số cuối cùng. Có một khoảng thời gian, anh mời tôi vào Ban Biên Tập cùng với một số nhà văn nhà thơ khác. Ngoài việc đóng góp bài vở khá thường xuyên, trong một vài số đặc biệt, tôi cộng tác với anh Minh để thực hiện. Như số về Hồ Hữu Tường, tôi là người trực tiếp đến nhà người con gái của Hồ Hữu Tường, chị Hồ Huệ Tâm, đang dạy ở đại học Harvard, để thu thập một số tài liệu và thực hiện cuộc phỏng vấn. Hay số đặc biệt về Trần Văn Tuyên. Vị cựu phó thủ tướng này có cô con gái ở cùng thành phố với tôi, tôi liên lạc với cô để tìm thêm tài liệu. Hà Nội trong mắt tôi, tác phẩm đầu tay của anh do nhà văn Nguyễn Mộng Giác biếu tôi, là một trong những tác phẩm đầu tiên mà tôi được đọc khi ra hải ngoại. Cái tựa đề khá nhạy cảm này cộng với bút danh Phạm Xuân Ðài mới mẻ khiến cho tập bút ký này trở thành “vấn đề” lúc mới phát hành, gây xôn xao trong cộng đồng người Việt tại một vài nơi, kể cả ở Boston, nơi tôi định cư, khi tác giả đến đây trong một lần ra mắt sách. Nhưng rồi mọi chuyện ổn thỏa khi người ta biết về tác giả và đọc nội dung tác phẩm.

 

clip_image002

Tại buổi Hội thảo Văn Học Miền Nam (Quận Cam, California, ngày 6 & 7 tháng 12/2014)
(từ trái sang phải): Trần Doãn Nho,Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Hoàng Nam, chị Nguyễn Đức Tùng, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Đức Tùng, Phạm Phú Minh, Phùng Nguyễn

Bài viết mới nhất của Phạm Phú Minh, “Vang bóng của một thời sắp qua[1] (tháng 4, 2016), lược qua sinh hoạt của giới cầm bút hải ngoại và sự ra đi của những cây bút trong vòng vài năm vừa qua. Bài viết ngắn nhưng gây cho tôi một nỗi bâng khuâng lạ lùng. Chỉ trong một thời gian ngắn, hải ngoại mất đi một số khuôn mặt văn học nghệ thuật quan trọng. Nguyễn Mộng Giác (7/12) vừa ra đi chưa nguôi niềm nuối tiếc thì đến Nguyễn Xuân Hoàng (9/14). Rồi Võ Phiến (9/15). Rồi đột ngột Phùng Nguyễn (11/15). Rồi Đinh Cường (8/1/16). Và gần đây nhất, Tạ Chí Đại Trường (3/16). Ðọc xong bài viết, tôi email ngay cho Phạm Phú Minh.

Trần Doãn Nho (TDN): Anh Minh, tôi vừa đọc bài viết “Vang bóng của một thời sắp qua.” Cảm thấy thấm thía. "Những mất mát dồn dập mấy năm gần đây nhắc nhở chúng ta rằng mỗi lớp người đều đóng vai trò trong thời của mình. Một thời đại đi qua bao giờ cũng với những bước chân tiệm tiến, và trong cái cảm thức mất mát, chuyển giao, chuyển tiếp từ từ ấy, hình như ai cũng thấy nhu cầu bắt chước Nguyễn Tuân để vẽ nên cái “vang bóng một thời.Một thời Việt Nam Cộng Hòa nối dài trong giới văn nghệ đã để lại cái gì đáng kể nhất? Đó chính là văn hóa hành xử: tự trọng, tử tế và rất mực thương yêu tương kính nhau.”

Chao ơi, vang bóng một thời? Anh Minh ơi, có thật là thế hệ chúng ta sắp “vang bóng một thời”?

Phạm Phú Minh (PPM): Quả là tôi có cảm khái ngậm ngùi về tình trạng giới văn nghệ hải ngoại rơi rụng liên tục. Nhưng mình cũng thấy một thời đại có trôi qua thì cũng một cách từ từ thôi, với số lượng sáng tác của lớp già xem như đã ngừng, lớp trẻ hơn thì lai rai…Trong khi đó lớp thế hệ thứ hai ngày càng vững vàng. Kể ra thì chính thế hệ này coi như đang thay thế hẳn lớp trước rồi chứ còn gì nữa. Măng đã mọc và lớn rồi, thì tre già đến lúc nói lời từ giã thôi.

TDN: Ở quận Cam, còn những ai thuộc thế hệ cũ, anh Minh? Đỗ Quý Toàn, Du Tử Lê, Viên Linh, Trúc Chi, Doãn Quốc Sỹ, Nhã Ca, Trần Dạ Từ …? Và ở các nơi khác? Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp, Tuý Hồng, Trùng Dương …? Còn thế hệ hai, theo anh, là những ai? Mới đây, đọc đoản văn “Áo khăn ngày cũ" của Trần Mộng Tú. Nhà thơ soạn lại áo khăn những người đã khuất và nhớ những kỷ niệm ngày xưa của người thân, thật bùi ngùi. Văn chương của người đã khuất cũng là một loại áo khăn ngày cũ, đọc lại biết bao cảm khái!

PPM: Tháng 5/2016 vừa rồi, anh chị Đặng Tiến từ Pháp qua Hoa Kỳ chơi, chúng tôi có gặp nhau trong mấy lần hội họp bạn bè. Như Nho biết, Đặng Tiến cũng là một người cầm bút thuộc lớp "cũ", nhưng vẫn hăng hái đề cập một số việc muốn làm, mặc dù sức khỏe coi bộ cũng không tốt lắm. Lớp tuổi sinh cuối thập niên 1930, đầu 40 thì một số vẫn còn viết, như Đỗ Quý Toàn, Du Tử Lê, Viên Linh…. Anh chị Trần Dạ Từ – Nhã Ca vẫn bận rộn với tờ nhật báo Việt Báo của họ. Trùng Dương thỉnh thoảng vẫn tự lái xe từ Oregon xuống Orange County thăm anh em, và vẫn còn viết những bài tường trình kèm hình ảnh về một số sinh hoạt đặc biệt về văn hóa, chính trị của cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ. Anh Trúc Chi còn khỏe mạnh lắm, vẫn ngao du sơn thủy, nhưng viết rất ít. Anh Doãn Quốc Sỹ đang ở với con cái tại vùng này, so với hồi thuyết trình trong hội thảo Tự Lực Văn Ðoàn thì nay yếu đi nhiều, nhất là không còn sáng suốt nữa. Lớp trẻ như Đặng Thơ Thơ, Đinh Từ Bích Thúy, Lê Đình Nhất Lang vân vân, nói chung là nhóm Da Màu, thì tôi nghĩ là họ đang tự khẳng định một cách chắc chắn. Lớp này thì thuộc hẳn thế hệ thứ hai rồi.

TDN: Mới đây, gặp Trần Trung Đạo, nghe nói anh vừa quy y?

PPM: Thầy Thích Như Điển làm lễ quy y cho tôi hồi cuối tháng 3/2016, đặt pháp danh cho tôi là Thiện Văn 善聞. Tôi nói đùa sau buổi lễ rằng tôi vừa được cấp passport cho chuyến ra đi dài sẽ tới. Nhưng tôi cảm nhận một điều rất rõ là tôi đổi khác rất nhiều sau khi quy y, có một sự chuyển hóa sâu trong tâm thức mà chính mình cũng không ngờ.

TDN: Pháp danh anh là “Thiện Văn”. Nghĩa là gì?

PPM: Là lắng nghe điều thiện. “Văn” đây có nghĩa là nghe. Thoạt đầu tôi tưởng “Văn” là văn chương, sau được thầy giảng “Thiện Văn” là lắng nghe điều Thiện. Ngẫm lại cũng đúng, pháp danh đâu phải là một lời chúc nghề nghiệp, mà là một lời khuyên, lời nhắc nhở cách sống hợp với đạo lý. Phải biết lắng nghe, thu thập, tích lũy những gì tốt đẹp.

TDN: Tôi tưởng anh đã phải quy y từ lâu rồi chứ! Dù sao, cũng mừng anh ngộ được đạo. Cũng hơi trễ đó nhé.

PPM: Nói "ngộ được đạo" thì không biết đâu là sớm đâu là trễ. Trên con đường thăm thẳm trải nhiều kiếp, có thể có lúc mình đã ngộ rồi, có thể cũng có lúc mình đã đọa xuống một tầng rất thấp, rồi ngoi từ từ lên. Cứ nhìn kiếp này thì thấy quá khứ của mình cũng trùng trùng nghiệp quả, tốt xấu lẫn lộn. Và khi cái duyên đã tới, thì bước lên được một bậc thang — là lễ quy y vừa rồi. Cứ hãy cho đó là một bước tích cực, còn lại mọi chuyện tiến hay lui, là do mình.

TDN: Nghe như một sư ông giảng đạo! Mà thôi, ta hãy trở lại chuyện đời.

Theo tôi nghe thì hồi trước, hình như anh Minh học Triết, sau đó lại học Quốc Gia Hành Chánh, vì muốn làm quan. Thế mà sau này, sang đây lại là nhà văn kiêm nhà hoạt động văn hóa, lại còn là chủ báo, giám đốc đài truyền hình. Do thời thế hay do yêu thích văn hóa, văn chương? Tôi cũng lạ, nhưng không lạ như anh. Tôi học ban B, khá toán. Thế mà lên đại học, lại thích triết. Xong triết lại không theo triết, chỉ dùng triết mà bàn về văn chương. Trước 1975, hoạt động chính trị chuyên nghiệp, là thành viên tích cực của một đảng phái quốc gia, có tham vọng làm “lớn” (!) Nhưng sau khi qua đây rồi, bỏ hẳn sinh hoạt chính trị, chỉ chuyên chú văn chương. Có những điều chính mình thay đổi mà mình không ngờ được. Riêng anh thì sao?

PPM: Hóa ra Trần Doãn Nho hiểu "tiểu sử" của tôi rắc rối hơn chính nó rất nhiều. Tôi là dân ban C, sau khi đậu tú tài thì đi đâu bây giờ? Sư phạm là gần nhất, thi thử vài môn, tôi nhớ là Triết và Anh văn, đậu cái nào thì đi cái nấy. Sau đó, đậu vào Triết. Tốt nghiệp, ra đi dạy, thì có cơ hội hoạt động với đám bạn cũ mới trong chương trình Hè 1965 như Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Đoàn Viết Hoạt, Đỗ Quý Toàn, Hà Tường Cát, Trần Đại Lộc, Phan Văn Phùng.… rồi khẳng định luôn hoạt động thanh niên như một phương cách của giáo dục. Tổng Trưởng Văn Hóa Giáo Dục Trần Ngọc Ninh của thời ấy đồng ý quan niệm giáo dục này, mở rộng cửa cho sinh hoạt thanh niên vào trường học. Tôi không học Quốc Gia Hành Chánh. Sở dĩ tôi về làm cho Dân Vận là do biệt phái từ Giáo Dục, khi Lê Đình Điểu thỏa thuận với Hoàng Đức Nhã nắm Dân vận quốc nội (Nguyễn Ngọc Bích nắm quốc ngoại). Vụ biệt phái này đưa mình vào tù sau biến cố 75.

Trong biến cố 1975 một số bạn bè trong nhóm chúng tôi đã kịp di tản ra nước ngoài, trong đó có Đỗ Ngọc Yến, sang Mỹ thành lập báo Người Việt từ năm 1978. Một số anh em trong nhóm đi nước ngoài, dù có cư ngụ tại Nam California hay không, đều dưới hình thức này hay hình thức khác góp sức với Yến xây dựng tờ báo này. Từ đó mỗi khi có người trong nhóm từ Việt Nam thoát ra được đều có khuynh hướng gia nhập tập thể Người Việt. Đến lượt tôi cũng vậy, qua Mỹ định cư theo diện H.O. thì tấp vô báo Người Việt như là một chuyện đương nhiên. Thậm chí khi tôi còn ở tù, anh em đã cho tôi một số cổ phần trong công ty đó rồi. Nói vậy để Nho thấy cái nhóm anh em kết lại từ 1965 vẫn coi như có sợi giây vô hình ràng buộc nhau, như trong cùng một đảng vậy, dù chưa bao giờ lập đảng. Cái “đảng” ấy, có tên là Anh Em, nghe nặng tình cảm.

Và tấp vô Người Việt thì còn con đường nào khác ngoài việc làm báo? Cứ vậy, nghề dạy nghề, nhưng tôi cũng thấy cái căn bản triết học từ những năm sư phạm là nền tảng cho mọi hoạt động, kể cả viết lách của tôi.

Nhưng ảnh hưởng lớn nhất cả đời tôi là tư tưởng Phật giáo, mặc dầu cuối đời mới làm lễ quy.

 clip_image004

Phạm Phú Minh cắt bánh sinh nhật khi báo Thế Kỷ 21 bước vào năm thứ chín, tổ chức vào ngày 12 tháng Mười năm 1997

TDN: Anh thuộc loại đa tài. Viết văn, làm báo, tổ chức các sinh hoạt văn hóa. Có lẽ sinh hoạt văn chương, văn hóa quận Cam mà thiếu anh thì thiếu nhiều lắm. Làm chủ hai tờ báo, đứng ra tổ chức trực tiếp hay gián tiếp hàng chục buổi ra mắt sách và các sinh hoạt văn hóa như hội thảo về Tự Lực Văn Đoàn, về Văn học Miền Nam, về Võ Phiến, về Nguyễn Mộng Giác .… Anh dám đoạt giải là một trong những người năng động nhất trong các sinh hoạt văn hóa ở quận Cam. Cuộc đời anh quả là đầy những hữu ích. Tôi đoán là anh yêu thích văn hóa hơn là sinh kế.

PPM: "Anh thuộc loại đa tài," câu của Nho làm tôi rất thích thú nhưng cũng rất ngạc nhiên. Vì chưa bao giờ tôi nghĩ mình là người "có tài" thôi, chứ khoan nói là nhiều tài. Bây giờ tâm sự một chút với Nho. Thời còn trẻ tham gia hoạt động với anh em, cái món tôi dốt nhất, sợ nhất là tổ chức. Bày ra một việc gì, tôi không biết phải bắt đầu từ đâu, ăn nói trước công chúng thì không suông sẻ, hay sợ hãi vu vơ. May là tôi ở giữa một đám bạn rất giỏi, những Lê Đình Điểu, Trần Đại Lộc, Đỗ Quý Toàn, Phan Văn Phùng, Hà Tường Cát .… đều là những tay mà sinh hoạt nào họ cũng có thể tổ chức dễ dàng.

Khi mở ra Chương Trình Phát Triển Thanh Niên Học Đường(CPS) mùa hè 1966, anh em đặt tôi phụ trách việc gì Nho biết không? Trưởng ban Tài chánh! Một người tốt nghiệp ban Triết lo về tài chánh! Tôi phải vừa học vừa làm, cuối cùng chi tiêu 20 triệu cho trại công tác năm ấy cũng hoàn tất tốt đẹp. Đó là cái "tài" đầu tiên của tôi: không có ai làm thì mình làm, rồi cuối cùng cũng tạm coi là hoàn thành nhiệm vụ. Nhưng cũng phải nhớ ơn chị Nguyễn Thị Cẩm Hường, một giáo sư Anh văn, lúc đó là Tổng Thủ quỹ đã góp công rất lớn điều hành tốt đẹp quỹ này.

Khi ra nước ngoài năm 1992 cũng vậy, anh em giao cho tôi điều hành tờ Thế Kỷ 21 xuất bản từ năm 1989, một tờ báo đã ổn định, sáng lập bởi Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Đỗ Quý Toàn .… Tôi chỉ là người thừa hưởng những thành tựu của bạn bè, phát triển tờ báo theo đường hướng đã định từ trước. Chính trong việc làm báo Thế Kỷ 21 mà tôi dần dần thoát ra khỏi trạng thái thụ động vốn là bản chất của tôi. Tôi bắt đầu có những sáng kiến và sự quyết định của riêng tôi, mở những mục mới cho báo, làm những số báo đặc biệt, tổ chức hội thảo với nhiều loại đề tài .… Chính tôi cũng ngạc nhiên về khả năng mới mẻ này của mình, nhưng nhìn lại thì tôi hiểu là phải như thế thôi. Bạn rất thân của tôi, chuyên viên tổ chức trại và các sinh hoạt từ trước đến nay là Trần Đại Lộc qua đời năm 1997, rồi đến Lê Đình Điểu 1999, một cách vô thức tôi tự thay thế họ tổ chức các sinh hoạt văn hóa cho nhóm Người Việt.

Với hội thảo và triển lãm về Phạm Quỳnh mà tôi phối hợp với chị Thụy Giao, một nhà báo từ San Jose, tổ chức năm 1999, tôi tự tin hẳn, và không sợ về vấn đề tổ chức nữa. Sự biến chuyển ngay từ bản thân đó khiến tôi phải hiểu thế này: tôi là một người dự trữ của nhóm Người Việt, để thay thế cho những tay chuyên về hoạt động tổ chức sẽ mất sớm. Sẵn cái trớn đó, tôi tổ chức các sinh hoạt khác mà Nho đã biết, tương đối thoải mái dễ dàng, khiến chính tôi cũng lấy làm ngạc nhiên.

Thành ra tôi không bao giờ nghĩ mình có tài, là một ý nghĩ rất thành thật. Tôi là người bị (hay được) ép buộc hay đào luyện bởi tình thế với một ý thức trách nhiệm rõ rệt, chứ bản chất của mình thì không có một khả năng, hoặc một thiên hướng tự thân. Đi sâu vào mỗi sinh hoạt thì "ở trong còn lắm điều hay" nhưng tổng quát thì như thế.

TDN: Khi nói tài, theo tôi, là nói đến những gì người ta đã thực hiện được, đã thể hiện ra bằng công việc. Để có một thành tích nào đó, ai mà chẳng trải qua những cái "dốt", cái "sợ"… Điều hành một tờ báo như Thế Kỷ 21 trong cả 10 năm, để lại một số lượng bài vở đủ mọi mặt, từ văn hóa, văn học, chính trị, xã hội, tôn giáo, thông tin sinh hoạt.… Đó là một tờ báo bách khoa, một dấu ấn lớn của sinh hoạt văn hóa hải ngoại. Đó còn là nơi xuất hiện biết bao nhiêu khuôn mặt cũ, mới.

Đọc lại Thế Kỷ 21 có thể nói là nhìn lại diện mạo của cái "vang bóng" khá lạ lùng của một VNCH nối dài. Tôi chỉ mong có được một chút "ép buộc" như anh mà đâu có được. Anh có còn nhớ anh lo cho tờ báo bao nhiêu năm? Bao nhiêu số báo? Đã tạo ra bao nhiêu tên tuổi?

 

clip_image006 clip_image008 clip_image010 clip_image012

Các bìa báo Thế Kỷ 21: Số Ra Mắt; Tranh bìa Thái Tuấn (2000; Tranh bìa Nguyễn Đồng cho số đặc biệt Phan Thanh Giản; số đặc biệt Hoàng Đạo với tranh bìa của Đặng Thơ Thơ

PPM: Tờ Thế Kỷ 21 ra đời vào tháng 5 năm 1989, lúc bấy giờ tôi còn ở Việt Nam. Tôi đến Mỹ vào cuối năm 1992, và bắt đầu vào làm báo này đầu năm 1993, lúc đó chủ nhiệm là Lê Đình Điểu, chủ bút là Vương Hữu Bột (tức Đỗ Quý Toàn), tổng thư ký là Nguyễn Xuân Hoàng. Trong thực tế, chỉ một mình Lê Đình Điểu lo mọi chuyện, vì Nguyễn Xuân Hoàng bận làm tổng thư ký cho nhật báo Người Việt, còn Đỗ Quý Toàn ở tuốt bên Canada. Thời gian này tôi tập sự với Lê Đình Điểu. Cho đến số tháng 9/1993 thì tôi được phong làm phụ tá cho chủ bút Đỗ Quý Toàn. Tháng 11, 1995 lên chức Tổng thư ký tòa soạn (thay cho Nguyễn Xuân Hoàng). Từ năm 1997, làm chủ nhiệm, với chủ bút vẫn là Đỗ Quý Toàn. Rồi từ khoảng đầu thế kỷ 21, Đỗ Quý Toàn thôi làm chủ bút, tôi thay thế mãi cho đến khi tôi nghỉ sau khi làm xong số 223, tháng 11 năm 2007, và tờ báo cũng không còn là của Người Việt nữa, nhưng sau mấy số cũng đóng cửa luôn. Trong số cuối này (số 223) có một truyện ngắn của Trần Doãn Nho, Một chút Việt Nam. Tuy chức vụ thì lung tung như thế nhưng trong thực tế thì Lê Đình Điểu lo mọi chuyện cho tờ báo cho đến cuối năm 1995 thì tôi lo, vì Điểu bận điều hành đài phát thanh VNCR từ giữa năm 1995. Như vậy coi như tôi điều hành mọi chuyện cho Thế Kỷ 21 từ đầu năm 1996 cho đến 2007, tổng cộng là 155 số trên tổng số 223 số.

TDN: Trong trên hai trăm số báo, về mặt xã hội, chính trị, sử, đời sống, khoa học, anh có còn nhớ những ai đã cộng tác và họ thuộc thành phần nào không? Và riêng về mặt văn chương (biên khảo, sáng tác…), anh còn nhớ thuộc thành phần, thế hệ nào? Có ai trong nước cộng tác? Có bao nhiêu số có chủ đề đặc biệt?

PPM: Hỏi như vậy là buộc tôi phải nhìn lại “lịch sử” của tờ báo. Cũng là một việc tốt.

Nhìn lại số đầu trước tiên, gọi là Số Ra Mắt, thay vì gọi số 1. Nó có một Hội Đồng Chủ Biên, với Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Phạm Quốc Bảo, Nguyễn Xuân Hoàng v.v… Chủ biên là Nguyễn Xuân Hoàng, phụ tá là Hoàng Khởi Phong. Với một nhóm gọi là Biên Tập (không có chữ Ban) khá đông người, xin ghi ra một số: Bùi Bích Hà, Bùi Bảo Trúc, Bùi Vĩnh Phúc, Cao Xuân Huy, Đặng Phùng Quân, Lê Tất Điều, Lưu Trung Khảo, Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Mộng Giác, Thế Giang, Trần Thanh Hiệp, Phạm Cao Dương v.v…; và một nhóm Cộng Tác: Mai Thảo, Võ Phiến, Phạm Công Thiện, Phạm Duy, Đào Trung Đạo, Nguyễn Tất Nhiên v.v…

Sở dĩ tôi phải đi lại từ đầu, để cho Nho thấy khi khởi sự, Thế Kỷ 21 đã có một dàn nhân sự viết lách khá hùng hậu. Nó đã khởi đi như thế. Đến số 2 thì thấy Chủ nhiệm kiêm Chủ bút là Đỗ Ngọc Yến. Số 3 lại đổi mới: Chủ nhiệm Đỗ Ngọc Yến, Chủ bút Vương Hữu Bột (Đỗ Quý Toàn), Chủ biên Văn học Nguyễn Xuân Hoàng, Chủ biên Biên khảo Lê Đình Điểu. Như tôi đã đề cập ở trên, thay đổi vị trí cho hợp lý thôi, thực tế Lê Đình Điểu làm mọi việc. Bốn năm sau số ra mắt (tháng 5, 1989) tôi mới gia nhập vào làm việc biên tập lẫn trị sự, và sáu năm sau, từ đầu năm 1996, tôi mới thật sự “nắm” tờ báo. Dĩ nhiên sáu năm sau thì người cộng tác bài vở có thêm bớt so với lúc ban đầu. Những vị như Nguyễn Tất Nhiên, Phạm Duy, Mai Thảo, Lưu Trung Khảo, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Hoàng v.v… hầu như không còn đóng góp bài vở nữa, một số vì có tờ báo riêng của họ. Một số cây bút cũ tiếp tục, cộng với nhiều cây bút mới đóng góp thường xuyên:

– Về bình luận thời sự kinh tế chính trị: Ngô Nhân Dụng, Tôn Thất Thiện, Nguyễn Quốc Khải, Nguyễn Mạnh Hùng, Lê Mạnh Hùng, Đinh Xuân Quân, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Xuân Nghĩa, Cổ Lũy…

– Về biên khảo (lịch sử, văn hóa, văn học…): Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Lê Văn Lân, Trương Bảo Sơn, Trần Gia Phụng (Canada), Trần Anh Tuấn, Trần Kiêm Đoàn, Tôn Thất Thiện (Canada), Vũ Thư Hiên (Pháp), Đoàn Thanh Liêm, Trần Hữu Thục, Trần Ngọc Ninh, Nguyễn Hưng Quốc (Úc) Nguyễn Văn Tuấn (Úc), Trần Từ Mai (tức Trần Huy Bích), Trần Ngươn Phiêu, Ngô Thế Vinh, Nguyễn Hoài Vân (Pháp), Nguyễn Duy Chính, Phan Quốc Sơn, Như Phong Lê Văn Tiến, Cung Tiến, Thụy Khuê (Pháp), Trần Đông Phong, Nguyễn Hữu Chi (Canada), Đặng Tiến (Pháp), Vũ Quốc Thúc (Pháp), Trần Minh Tùng, Tiêu Dao Bảo Cự (Việt Nam), Hà Sĩ Phu (Việt Nam), Nguyễn Minh Cần (Nga), Huỳnh Hữu Ủy, Võ Phiến, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Lâm Lễ Trinh, Lê Xuân Khoa, Nguyễn Mạnh Hùng, Lê Mạnh Hùng (Luân Đôn), Đoàn Viết Hoạt, Phạm Đỗ Chí, Từ Trì (Pháp), Lưu Văn Vịnh, Phan Thanh Tâm, Nguyễn Hữu Chung (Canada), Nguyễn Gia Tiến (Thụy Sĩ), Nguyễn Quốc Trị, Bùi Hạnh Nghi (Đức), Quỳnh Giao, Lữ Phương (Việt Nam), Trần Trung Đạo, Đào Trung Đạo, Nguyễn Huệ Chi (Việt Nam), Phạm Công Thiện, Thang Ma v.v…

– Về sáng tác (thơ, văn): Trần Mộng Tú, Trần Hồng Châu, Tạ Tỵ, Dương Kiền (Na Uy), Võ Phiến, Cung Tích Biền (VN), Trần Doãn Nho, Hồ Minh Dũng, Hồ Phú Bông, Lý Thừa Nghiệp (Úc), Chu Vương Miện, Trần Vấn Lệ, Nguyễn Tường Thiết, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Lê Hồng Hưng (Hòa Lan), Kiệt Tấn (Pháp), Trần Yên Hòa, Song Thao (Canada), Hồ Đình Nghiêm (Canada), Hoàng Chiều Nhân (Canada), Lưu Văn Vịnh, Nguyễn Hiền (Hòa Lan), Vũ Thư Hiên (Pháp), Lê Lô, Từ Thức (tức là Trần Công Sung, Pháp), Trần Bang Thạch, Trang Châu (Canada), Trần Huy Sao, Tôn Nữ Thu Nga, Luân Hoán (Canada), Lê Minh Hà (Đức), Trần Ngọc Tuấn (Tiệp), Phạm Thị Hoài (Đức), Hòa Đa, Lê Tất Điều, Nguyễn Ái Nhân, Nguyễn Thị Kim (VN), Phan Lạc Tiếp, Hà Kỳ Lam, Hoàng Khởi Phong, Sơn Diệm Vũ Ngọc Ánh, Hồng Khắc Kim Mai, Trần Quán Niệm, Tường Linh (VN), Mạc Phương Đình, Nguyễn Đức Tường (Canada), Bùi Bích Hà, Xuân Đỗ, Du Tử Lê, Hoàng Quân (Đức), Nguyễn Văn Thực (Nguyễn Văn Thà -NaUy), Tâm Thanh, Khánh Hà (Na Uy)… Còn nhiều, không thể kể hết được.

Nói chung, những người đóng góp bài vở cho Thế Kỷ 21 (không kể các tác giả đã qua đời mình đăng lại tác phẩm của họ như Nhất Linh, Khái Hưng, Hồ Hữu Tường, Tạ Ký…) mà tôi liệt kê tên ở trên phần lớn đều là những tên tuổi nhiều người biết, đọc qua là biết thành phần xã hội và thành tích của họ. Có thể nói là những tên tuổi nặng ký, không chỉ riêng trong giới cầm bút hải ngoại, mà là của Việt Nam.

Nhưng tôi sẽ rất thiếu sót nếu không nhắc tới các họa sĩ đã đóng góp tài hoa của mình để giúp cho phần mỹ thuật của tờ báo. Trước hết là đôi nghệ sĩ Nguyễn Đồng-Nguyễn Thị Hợp, suốt 18 năm từ số đầu tiên cho đến số cuối cùng của Thế Kỷ 21 đã giữ công việc trình bày bìa báo và đóng góp các minh họa cho các trang trong. Họa sĩ Ngọc Dũng và Vũ Thái Hòa (Pháp) ngay trong những số đầu tiên đã đóng góp nhiều hình vẽ trang trí (vignette), các năm sau có các họa sĩ Thái Tuấn, Đinh Cường gửi tranh đóng góp rất tích cực lâu dài. Các họa sĩ cũng nhiều lần gửi hình chụp các bức tranh quan trọng của mình để làm bìa báo. Thời đó, thập niên cuối của thế kỷ 20, quý vị họa sĩ đều gửi họa phẩm trên giấy, bằng đường bưu điện. Về hý họa, các số đầu thường có tác phẩm ký tên Gúc và Kúm (cho tới nay tôi cũng chưa được biết quý vị này là ai), rồi đến họa sĩ Hiếu Đệ cộng tác một thời gian. Họa sĩ Babui Mamburao vẽ hý họa cho Thế Kỷ 21 trong mười mấy năm liền cho đến ngày báo đóng cửa.

Lục báo cũ riết mấy hôm nay tôi cũng thấy thấm mệt rồi. Về những số báo đặc biệt thì tôi nhớ đâu nói đó thôi nhé: Võ Phiến; Khái Hưng; Phạm Quỳnh; Hồ Hữu Tường; Nhất Linh; Hoàng Đạo; Thạch Lam; Phan Thanh Giản; Nguyễn Gia Trí; Thanh Tâm Tuyền; Trần Văn Tuyên; Từ Chung; Vũ Hoàng Chương; Hà Nội; Sài Gòn; Hội thảo Văn Học Hải Ngoại: Thành Tựu và Tiềm Năng; Cải cách ruộng đất; Sông Cửu Long. Có thể còn, nhưng ít và không quan trọng. Muốn xem lại Thế Kỷ 21 một cách nhanh chóng, Nho có thể vào mục Thư Viện trên Người Việt Online, tìm Thế Kỷ 21 bấm xem là tiện nhất.

TDN: Trong dịp lục tìm lại báo cũ để nói chuyện với anh, tôi tò mò đọc lại nhiều số Thế Kỷ 21 và với con mắt tương đối khách quan, tôi đã gặp những số báo rất hay. Càng về sau hình như càng hay. Tôi bỗng nhớ đến lời Đỗ Quý Toàn nói hôm tôi tới thăm tháng 7/2016 vừa rồi: “Công lớn của ông Minh là thời gian làm báo Thế Kỷ 21, cho đến số cuối cùng.” Theo tôi, đó là một cái nhìn sâu sắc và toàn diện.

PPM: Cám ơn Nho, cám ơn Đỗ Quý Toàn. Nghe lời khen, tôi thực sự ngạc nhiên. Tôi nghĩ là quý vị sẽ nói công của tôi là tổ chức các cuộc triển lãm và hội thảo, với nhiều thành công vang dội trong xã hội …. nhưng Nho và Toàn chỉ nhắc tới Thế Kỷ 21. Mà nghĩ cho cùng, tổ chức triển lãm hội thảo là công tác nổi, chính làm báo mới là công việc âm thầm mà có ảnh hưởng lâu dài.

TDN: Đúng thế, anh Minh. Theo tôi, có thể nói tạp chí Thế Kỷ 21 là “hơi thở” của miền Nam thời VNCH. Không chỉ là vì Thế Kỷ 21 có mặt của nhiều, rất nhiều những nhân vật đã từng góp phần xây dựng và duy trì chế độ miền Nam về mặt chính quyền cũng như về mặt văn hóa xã hội, mà còn vì cái cách thể hiện, tính chất văn hóa, sự thảo luận nghiêm túc, đứng đắn và lương thiện. Nó cho thấy, những người thua cuộc chỉ “thua cuộc” chứ không thua về chính nghĩa, không thua về văn hóa, về tính nhân bản, về sự tự do cũng như về mặt trí tuệ. Những bài viết trong Thế Kỷ 21 không có cái ngậm ngùi của những kẻ lưu vong, cũng không có cái hằn học của những kẻ thất cơ lỡ vận, hay đổ lỗi cho “ai đó”, mà tràn đầy niềm tin ở một nước VN sẽ được phục hồi. Là một chủ biên, anh có nhận thấy như thế không?

Thế Kỷ 21 cũng còn là “hơi thở” của hải ngoại, về phương diện văn chương, chính trị, tranh đấu cũng như về phương diện đời sống. Nhiều mặt sinh hoạt phong phú của đồng bào hải ngoại cũng như các sự kiện chính trị, xã hội trên thế giới đã được đưa vào. Từ chuyện lạm dụng tình dục trẻ em của một số cha cố ở Hoa Kỳ, cải cách ruộng đất ở miền Bắc, kỷ niệm 40 năm vụ thảm sát Mậu Thân của Cộng Sản Việt Nam, vụ Khủng Bố 9/11 Hoa Kỳ, những tiết lộ mới về cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm, đại hội điện ảnh Việt Nam quốc tế, những khám phá của khảo cổ học về Thánh kinh, Cộng Sản Việt Nam phá bia tưởng niệm thuyền nhân tỵ nạn ở Galang và Bidong. Vân vân. Cũng ghi nhận phần sách báo trong tháng, nơi Phạm Xuân Đài đã rất công phu và đầy thiện chí giới thiệu những sách mới. Không phải chỉ là những dòng giới thiệu khô khan, mà là những bài điểm sách nho nhỏ, để giúp độc giả có một cái nhìn về tác phẩm, chứng tỏ người đọc đã bỏ ra thì giờ và công sức, chứ không chỉ “làm cho có”. Anh đã làm công việc này như thế nào?

PPM: Hai đoạn viết về "hơi thở" của Nho rất hay, đó là những nhận xét rất sắc sảo của một cái nhìn khách quan và trí tuệ. Các nhận xét vừa rồi của Nho lâu nay tôi chỉ cảm nhận một cách mơ hồ, bây giờ mới có người phân tích một cách rành mạch. Tôi sẽ dựa vào các nhận xét ấy để khai triển thêm, vì mình là người trong cuộc, bây giờ có một cái nhìn vô tư của "người ngoài" thì dễ cho mình nhìn lại mọi chuyện hơn.

Người thực hiện tờ báo cứ lo cắm cúi làm, có khi không ý thức hết những điều như Nho nhận xét, nhưng khi đọc thì thấy rất đúng, rất phục. Nếu Nho định gợi ý cho tôi đưa ra những nhận xét tổng quát của mình về tờ Thế Kỷ 21 thì tôi nghĩ chỉ cần khai triển hai đoạn vừa nói là cũng đủ vinh dự cho Thế Kỷ 21 lắm rồi. Còn nếu đi sâu vào từng vấn đề của tờ báo, về từng số báo thì lúc đó lại là những công phu khác, phức tạp hơn.

PPM: Buổi sáng nay tôi ngồi xem lại những số báo Thế Kỷ 21 đầu tiên, bắt đầu từ tháng 5-1989. Thời gian đó tôi mới ra tù được hơn một năm, mùa hè 1989 tôi lần đầu tiên đi Hà Nội, để rồi về viết Hà Nội Trong Mắt Tôi. Thời đó anh em ở Mỹ bắt đầu giao động một cách phấn khởi vì những biến chuyển ở Nga và Đông Âu. Những anh em cốt cán của báo Người Việt như Đỗ Ngọc Yến, Lê Đình Điểu, Đỗ Quý Toàn, Hoàng Ngọc Tuệ v.v… bàn với nhau: nhật báo Người Việt là cơ quan thông tin cho cộng đồng, đồng thời cũng là nơi làm ra tiền để nuôi sống anh em. Cần phải có thêm một tờ tạp chí để nói lên ước vọng, lý tưởng đối với đất nước Việt Nam. Vì thế Thế Kỷ 21 ra đời đúng vào giữa năm 1989.

Tại sao lấy tên Thế Kỷ 21?

Đỗ Ngọc Yến, người đứng đầu nhóm, viết bài mở đầu cho Số Ra Mắt, với nhan đề: "Thập niên 90: bước chuyển tiếp đưa Việt Nam vào thế kỷ 21". Vậy Thế Kỷ 21 coi như là mục tiêu mà tờ báo nhắm tới. Thập niên 90 là 10 năm rèn dũa, chuẩn bị chào đón thế kỷ mới, mà mọi người coi sẽ là sân khấu chính cho quá trình đổi mới và xây dựng Việt Nam.

TDN: Thì ra thế! Xin anh tiếp…

PPM: Qua những số báo mở đầu, với những cây bút uy tín từ trước 1975 ở Việt Nam: Đỗ Quý Toàn, Phạm Cao Dương, Trần Thanh Hiệp, Võ Phiến, Phạm Duy, Mai Thảo, Nguyễn Mộng Giác, Phạm Công Thiện, Hà Thúc Sinh, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Ngọc Bích, Lê Đình Điểu…; cộng với các cây bút mới nổi ở hải ngoại như Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Bá Trạc, Trần Mộng Tú, Trần Diệu Hằng, Đỗ Kh., Hoàng Mai Đạt… đã tạo ngay tức khắc những số báo nặng ký. Rất trí tuệ. Rất điềm tĩnh. Không hô khẩu hiệu. Không nặng cảm tính. Nghĩa là rất trưởng thành, có trình độ và viễn kiến cao.

Khi tôi bước vào tòa soạn Thế Kỷ 21 trên đường Moran thì tờ báo được ba tuổi rưỡi.

Bây giờ tôi nói qua về việc điểm sách. Lê Đình Điểu là người sáng lập ra mục Sách Báo Trong Tháng, khi tôi vào làm thì đã có mục này, viết khá kỹ. Tôi vốn thích đọc sách, nên xin giữ một chân, mỗi tháng góp nhận xét cho vài ba tác phẩm. Từ đó các bài điểm sách của tôi được nhiều người thích, và dần dần tôi là người duy nhất phụ trách mục đó.

Nhưng làm một mình thì đó là công việc nặng nhọc, trung bình mỗi tháng tôi phải đọc khoảng 10 cuốn sách. Dĩ nhiên không thể đọc hết tất cả các trang của một cuốn sách, nhưng phải tới một mức nào đó để có thể có nhận xét riêng về văn phong, kỹ thuật và câu chuyện trong sách hầu có thể trình bày trong ít chục dòng. Mỗi lần viết điểm một quyển sách tôi như đang sáng tác một cái gì đó, cũng phải động não, rút ruột để nhận định rồi lựa một cách viết cho phù hợp. Nói chung là nặng nhọc, tuy chỉ viết một đoạn ngăn ngắn trong một mục cuối cuốn báo.

Tôi nhớ thời ấy có lần Khánh Trường tới nhà tôi chơi, khen phần điểm sách của Thế Kỷ 21, cho là khá so với một số các tạp chí khác. Cùng trong nghề, Khánh Trường cười cười: Tay nào viết giới thiệu sách cũng vậy, lật sách coi có lời Tựa không, không có thì hơi buồn. Vì có lời Tựa thì công việc rất nhanh, chỉ cần trích vài ba nhận xét (và khen ngợi) của người khác bỏ vào bài là coi như xong (tôi cũng có dùng “phương pháp” này, nhưng ý của tôi mới là ý chính). Một độc giả ở Texas, anh Thiện Ý (thỉnh thoảng cũng có viết bài cho Thế Kỷ 21) đề nghị tôi tập họp những bài điểm sách để in thành sách. Nhưng tôi thấy chưa tới mức đó, các bài viết tuy có kỹ nhưng chưa đạt đến chỗ phê bình sách. Tôi tự thấy mình chưa có trình độ của một nhà phê bình, chỉ nhận xét với tư cách một người đọc sách bình thường, nói ra cảm nghĩ và một số nhận xét của mình cốt chỉ để giới thiệu sách mới cho độc giả tờ báo của mình thôi. In thành sách phải ở một trình độ khác.

Phạm Công Thiện, vốn từ trước chưa quen biết gì với tôi hết, cũng vì đọc Thế Kỷ 21 mà tìm đến nhà tôi chơi mà thành bạn. Có lần Thiện nói đại ý thấy được tấm lòng của tôi qua những bài điểm sách. (Tôi không nhớ mình có điểm cuốn nào của Phạm Công Thiện không).

Khi viết điểm sách, tôi có một quan điểm chung thế này: phải gắng tìm ra ưu điểm để khen, không đào bới khuyết điểm để chê, trừ một số trường hợp cần thiết. Tôi nghĩ đã bỏ nước ra đi tị nạn xứ người, đã lo làm lụng cực nhọc để sống mà còn chịu khó bỏ công viết lách, in sách thì đã là một việc đáng khen, nên khuyến khích. Nên hầu hết bài nào tôi cũng có ý kiến tích cực. Một hôm có một phụ nữ gọi tôi, xưng là độc giả Thế Kỷ 21, trách tôi đã làm cho bà ta mua lầm một quyển sách quá dở, chỉ vì những lời khen của tôi trong bài điểm sách.

Nhưng cũng có lần vì tôi chê một quyển sách mà ông tác giả gần như mở một cuộc bút chiến với tôi!

(Xin xem tiếp phần 2)


[1] Xem ở: http://phamxuandai.blogspot.com/2016/04/vang-bong-cua-mot-thoi-sap-qua.html

bài đã đăng của Trần Doãn Nho


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch