Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn, Văn Chương Phùng Nguyễn Email bài này

Kino


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 4.10.2016

Lute-and-White-Snake-hokusai
Katsushika Hokusai (1760 – 1849), Bạch xà và đàn tỳ bà của nữ thần Biện Tài Thiên
mực màu trên tranh lụa treo cuộn (thời Edo, 1847)
Freer/Sackler Museum (Washington DC)

 

*Chuyển ngữ từ bản dịch Anh ngữ của Philip Gabriel trên Tạp chí New Yorker tuần lễ Feb. 23 – March 2, 2015
(Với lời cảm ơn và niềm tưởng nhớ đến Phùng Nguyễn, người đã mang tôi đến với tác phẩm này – HN)

Người đàn ông luôn ngồi ở ghế cuối quầy. Ấy là khi nó còn trống, nhưng hầu như lúc nào nó cũng trống. Quán rượu ít khi đông khách, và chỗ ngồi ấy khuất nhất, ít thoải mái nhất. Cầu thang phía sau khiến trần nhà nghiêng và thấp, vì vậy đứng lên ở chỗ đó dễ bị cụng đầu. Người đàn ông cao lớn, nhưng vì lý do nào đó, lại ưa cái chỗ chật hẹp ấy.

Kino nhớ lần đầu tiên người đàn ông đến quán rượu của mình. Dáng vẻ anh bắt mắt Kino ngay lập tức – cái đầu cạo trọc hơi xanh, vai rộng nhưng mảnh dẻ, tia mắt sắc sảo, gò má cao, trán rộng. Anh khoảng độ hơn ba mươi tuổi, khoác chiếc áo đi mưa dài màu xám, mặc dù hôm ấy không mưa. Thoạt tiên, Kino cho anh là yakuza (1), và cẩn thận dè chừng. Lúc ấy là bảy giờ ba mươi một buổi tối lạnh lẽo giữa tháng Tư, và quán rượu trống không. Người đàn ông chọn chỗ ngồi ở cuối quầy, cởi áo khoác, gọi một ly bia với giọng nhỏ nhẹ, rồi lặng lẽ đọc một cuốn sách dày. Sau nửa giờ, uống xong ly bia, anh giơ tay lên vài phân để ra dấu cho Kino đến, và gọi một ly whisky. "Nhãn hiệu nào?" Kino hỏi, nhưng người đàn ông nói nhãn hiệu nào cũng được.

"Loại Scotch bình thường thôi. Ly hai ngụm. Nhờ anh bỏ thêm cùng lượng nước và một ít nước đá.”

Kino rót ít rượu White Label vào một cái ly, thêm cùng lượng nước và hai viên nước đá nhỏ xinh xắn. Người đàn ông nhấp một ngụm, xem xét kỹ ly rượu, và nheo mắt. "Được đấy".

Anh đọc sách nửa giờ, rồi đứng dậy và trả tiền mặt. Anh đã tính toán chính xác để không có tiền thối. Kino thở phào nhẹ nhõm khi anh vừa ra khỏi cửa. Nhưng người đàn ông đi rồi mà sự hiện diện của anh vẫn còn. Trong lúc Kino đứng sau quầy, anh thỉnh thoảng liếc nhìn chỗ người đàn ông đã ngồi, nửa chờ đợi anh vẫn còn đấy, giơ tay một vài phân để gọi thức gì đó.

Người đàn ông bắt đầu đến quán rượu của Kino thường xuyên. Một lần, nhiều nhất là hai lần mỗi tuần. Lúc nào anh cũng gọi bia trước, rồi whisky. Đôi khi anh sẽ xem xét thực đơn của hôm ấy trên bảng đen và gọi một bữa ăn nhẹ.

Người đàn ông hầu như không bao giờ nói một lời. Anh luôn đến khá sớm vào buổi tối, một cuốn sách kẹp dưới cánh tay, cuốn sách anh sẽ đặt trên quầy. Khi nào anh chán đọc (ít ra Kino đoán rằng anh đã chán), anh sẽ rời mắt khỏi trang sách và ngắm nghía các chai rượu xếp hàng trên những ngăn kệ trước mặt anh, như thể đang xem xét một dãy những động vật nhồi da khác thường từ những vùng đất xa xôi.

Tuy thế, một khi Kino đã quen với phong thái của người đàn ông, anh không bao giờ cảm thấy thiếu thoải mái vì người ấy, ngay cả khi chỉ có hai người họ. Chính Kino cũng không nói nhiều, và không thấy khó giữ im lặng khi ở bên người khác. Trong khi người đàn ông đọc, Kino làm những gì anh sẽ làm nếu anh một mình – rửa chén đĩa, chuẩn bị nước sốt, chọn nhạc để chơi, hoặc lật sơ qua tờ báo.

Kino không biết tên của người đàn ông. Anh ta chỉ là một khách quen hay đến quán, thưởng thức bia và rượu whisky, lặng lẽ đọc, trả tiền mặt, rồi đi. Anh ta không hề phiền ai. Kino cần biết gì hơn nữa cơ chứ?

Hồi đại học, Kino đã là một vận động viên nổi bật trong môn chạy khoảng cách tầm trung, nhưng trong năm thứ ba, anh đã bị rách gân Achilles và phải bỏ ý gia nhập một đội điền kinh doanh nghiệp. Sau khi tốt nghiệp, với đề cử của huấn luyện viên, anh có việc tại một công ty thiết bị thể thao, và đã ở lại đó mười bảy năm. Tại công ty, anh phụ trách việc thuyết phục các cửa hàng thể thao mua thương hiệu giày chạy của mình và các vận động viên hàng đầu thử dùng thương hiệu ấy. Công ty của anh, một công ty cỡ trung bình đặt trụ sở tại Okayama, ít tăm tiếng và thiếu sức mạnh tài chính của Nike hoặc Adidas để thảo các hợp đồng độc quyền với những vận động viên môn chạy tài ba nhất thế giới. Dù thế, công ty chế tạo những đôi giày thủ công tỉ mỉ cho các vận động viên hàng đầu, và khá nhiều người cam đoan cho chất lượng sản phẩm. "Làm việc đàng hoàng sẽ được đền bù " là khẩu hiệu của người sáng lập công ty, và phong cách trầm lặng, phần nào lỗi thời ấy phù hợp với cá tính của Kino. Ngay cả một người ít nói, khó gần như anh cũng có thể bán hàng được. Thực ra, chính vì cá tính ấy mà các huấn luyện viên tin tưởng anh và các vận động viên thích anh. Anh lắng nghe nhu cầu của mỗi vận động viên, và người đứng đầu phía sản xuất chắc chắn sẽ nhận được tất cả các chi tiết ấy. Tiền lương không bao nhiêu, nhưng anh thấy công việc hấp dẫn và khiến anh hài lòng. Mặc dù chính anh không thể chạy được nữa, anh thích nhìn các vận động viên chạy đua vòng quanh sân, dáng dấp mẫu mực hoàn hảo.

Kino bỏ việc không phải vì anh bất mãn với công việc, mà vì anh phát hiện vợ anh đã ngoại tình với người bạn thân nhất của anh trong công ty. Hồi đó Kino thường đi xa nhiều hơn ở nhà tại Tokyo. Anh dồn đầy một túi thể thao lớn những mẫu giày và đi một vòng các cửa hàng thể thao khắp Nhật Bản, cũng như đến các trường đại học địa phương và những công ty tài trợ cho các đội điền kinh. Vợ anh và đồng nghiệp của anh bắt đầu ngủ với nhau trong khi anh vắng nhà. Kino không phải là người dễ nhìn ra manh mối. Anh nghĩ rằng hôn nhân của mình ổn thỏa, và vợ anh không nói hoặc làm điều gì khiến anh nghĩ ngược lại. Nếu anh không tình cờ trở về nhà sớm hơn một ngày sau một chuyến đi làm xa, có thể anh sẽ không bao giờ biết chuyện gì đang xảy ra.

Khi anh trở về Tokyo ngày hôm đó, anh đi thẳng đến căn chung cư của mình ở Kasai, chỉ để thấy vợ và bạn mình trần truồng quấn lấy nhau trong phòng ngủ, trên chiếc giường anh và vợ nằm ngủ. Vợ anh ở phía trên, và khi Kino mở cửa, anh chạm mặt với cô và bộ ngực xinh đẹp của cô đang nảy lên này xuống. Lúc đó anh ba mươi chín tuổi, vợ anh ba mươi lăm. Họ không có con. Kino cúi đầu xuống, đóng cửa phòng ngủ, rời căn chung cư, và không bao giờ quay lại. Ngày hôm sau, anh bỏ việc.

Kino có một người dì không lập gia đình, chị gái của mẹ anh. Kể từ thuở bé, dì đã đối tốt với anh. Trong nhiều năm bà đã có một người bạn trai lớn tuổi hơn ("người tình" có thể là thuật ngữ chính xác hơn), và ông đã rộng rãi tặng bà một căn nhà nhỏ ở Aoyama. Bà sống trên tầng hai của ngôi nhà, và mở một quán cà phê ở tầng trệt. Trước nhà là một khu vườn nhỏ và một cây liễu lớn, với những nhánh lá rũ thấp. Ngôi nhà nằm trong một con ngõ hẹp phía sau Bảo tàng viện Nezu, không hẳn là vị trí tốt nhất để lôi kéo khách hàng, nhưng dì của anh có tài thu hút người khác, và quán cà phê của bà buôn bán cũng khá.

Tuy thế, sau khi bà đến tuổi sáu mươi, bà bị chấn thương lưng, và càng lúc càng khó một mình chăm sóc quán. Bà quyết định chuyển đến một căn chung cư trong khu nghỉ dưỡng ở Cao nguyên Izu Kogen. Bà hỏi Kino :"Không biết liệu có một ngày cháu có thể muốn làm chủ quán chăng?". Đó là ba tháng trước khi anh phát hiện ra chuyện ngoại tình của vợ mình. "Cháu cám ơn dì”, anh bảo bà, “nhưng hiện giờ cháu đang ổn.”

Sau khi anh nộp đơn từ chức tại chỗ làm, anh đã gọi điện cho dì để hỏi xem dì đã bán tiệm chưa. Bà bảo anh tiệm đã được đăng bán với một đại diện bất động sản, nhưng chưa có người nào thực sự muốn mua. Kino nói "Nếu được, cháu muốn mở một quán rượu. Cháu trả tiền thuê cho dì hàng tháng có được không?"

"Nhưng còn công việc của cháu?" bà hỏi.

"Cháu đã bỏ việc mấy ngày trước."

"Không phải vợ của cháu không thích thế à?"

"Có lẽ chúng cháu sắp ly hôn rồi."

Kino không giải thích lý do, và dì của anh không hỏi. Đầu bên kia đường dây im lặng một lúc. Rồi dì của anh ra giá cho thuê hàng tháng, thấp hơn rất nhiều so với dự đoán của Kino. "Cháu nghĩ cháu lo được," anh bảo bà.

Anh và dì không bao giờ nói chuyện nhiều (mẹ của anh không muốn anh gần gũi bà), nhưng duờng như họ vẫn luôn hiểu nhau. Bà biết Kino không phải là loại người bất tín.

Kino dùng nửa số tiền tiết kiệm của mình để biến quán cà phê thành quán rượu. Anh mua bàn ghế đơn giản, và cho đặt một quầy rượu dài chắc chắn. Anh dán giấy tường mới màu êm dịu, mang bộ đĩa nhạc của mình từ nhà đến, và xếp đĩa nhạc lên một ngăn kệ trong quán. Anh có một giàn máy stereo khá – một máy chơi đĩa hiệu Thorens, một máy khuếch âm Luxman, và hai loa JBL nhỏ hai chiều – anh đã mua khi còn độc thân, một món mua sắm khá phung phí vào thời ấy. Nhưng anh vẫn luôn thích nghe những đĩa nhạc jazz xưa. Đó là sở thích duy nhất của anh, một sở thích anh không chia sẻ với ai khác. Ở đại học, anh đứng quầy bán thời gian tại một quán rượu ở Roppongi, vì vậy anh rất thành thạo nghệ thuật pha rượu.

Anh gọi quán của mình là Kino. Anh không nghĩ nổi cái tên nào hay hơn. Tuần đầu tiên anh mở tiệm, anh không có người khách nào, nhưng anh không lo. Dù sao thì anh đã không quảng cáo, hoặc thậm chí treo một tấm bảng hiệu cho bắt mắt. Anh chỉ kiên nhẫn chờ đợi những người tò mò tình cờ biết ra quán rượu trong ngõ này. Anh vẫn còn có một số tiền thôi việc của mình, và vợ của anh đã không yêu cầu bất cứ trợ cấp tài chính nào. Cô đã sống với đồng nghiệp cũ của anh, và cô cùng Kino đã quyết định bán căn chung cư của họ ở Kasai. Kino sống trên tầng hai ngôi nhà của dì anh, và hiện tại, có vẻ như anh tạm đủ sống.

Trong khi anh chờ đợi khách hàng đầu tiên, Kino nghe nhạc anh thích và đọc sách anh vẫn muốn đọc. Giống như mặt đất khô đón mưa, anh để cho cô độc, thinh lặng, và cô đơn thấm đẫm vào mình. Anh nghe rất nhiều bản độc tấu dương cầm của Art Tatum. Không hiểu sao chúng dường như hợp với tâm trạng của anh.

Anh không rõ tại sao, nhưng anh không cảm thấy tức giận hay cay đắng đối với vợ, hoặc người đồng nghiệp cô ngủ cùng. Rõ ràng sự phản bội đã là một cú sốc, nhưng, với thời gian, anh bắt đầu cảm thấy như đấy là chuyện tất nhiên, như đấy là số phận của mình. Rốt lại thì trong đời anh, anh đã không đạt được điều gì, đã hoàn toàn không có thành quả gì. Anh không thể làm cho ai khác hạnh phúc, và, dĩ nhiên, không thể làm cho chính mình hạnh phúc. Hạnh phúc? Thậm chí anh không chắc điều đó có nghĩa gì. Anh cũng không có một ý thức rõ ràng về những cảm xúc như đau đớn hoặc tức giận, thất vọng hay buông xuôi, và chúng cảm thấy như thế nào. Điều anh có thể làm là tạo ra một nơi chốn để trái tim anh – giờ đây nông cạn và nhẹ bỗng – ràng buộc vào được, để nó khỏi lang thang vô định. Quán rượu Kino nho nhỏ trong ngõ này đã trở thành nơi chốn ấy. Và, không hẳn theo dự định, nó cũng trở thành một không gian thoải mái lạ lùng.

Một con mèo hoang, chứ không phải một người, là sinh vật đầu tiên khám phá ra Kino là một nơi thoải mái như thế nào. Một con mèo cái có đuôi dài màu xám rất đẹp. Con mèo ưa một cái tủ chưng bày ẩn vào tường trong một góc của quán rượu và thích cuộn mình ngủ ở đấy. Kino không chú ý nhiều đến con mèo, đoán rằng nó muốn đơn độc. Mỗi ngày một lần, anh cho nó ăn và thay nước của nó, nhưng chỉ thế thôi. Và anh đã xây một cửa thú nuôi nhỏ để nó có thể ra vào như ý.

Con mèo có thể đã mang theo chút may mắn, vì sau khi nó xuất hiện, khách hàng cũng lác đác xuất hiện. Một vài người bắt đầu đến thường xuyên – những người thích quán rượu nhỏ trong ngõ này với cây liễu già tuyệt vời, ông chủ trung niên lặng lẽ, những đĩa nhạc xưa quay trên máy đĩa, và con mèo xám ngủ trong một góc. Những người này đôi khi lại mang thêm khách mới. Chưa thịnh vượng bao nhiêu, ít nhất quán kiếm đủ tiền thuê nhà. Đối với Kino, thế là đủ.

Người đàn ông trẻ tuổi với cái đầu cạo trọc bắt đầu đến quán khoảng hai tháng sau khi quán mở. Thêm hai tháng nữa trước khi Kino biết tên anh ta, Kamita.

Hôm ấy trời mưa nhẹ, kiểu mưa khiến người ta không chắc có thật cần một chiếc dù hay không. Chỉ có ba người khách trong quán, Kamita và hai người đàn ông mặc vest. Lúc đó là bảy giờ ba mươi. Như thường lệ, Kamita ngồi ở ghế cuối quầy, nhấm nháp một ly White Label pha nước và đọc. Hai người đàn ông ngồi ở một bàn, uống một chai Pinot Noir. Họ đã mang theo chai rượu, và hỏi Kino rằng anh có chịu cho họ uống chai rượu trong quán với chi phí mở nút là năm ngàn yen (2) không. Đấy là lần đầu tiên Kino gặp chuyện như thế, nhưng anh chẳng có lý do gì để từ chối. Anh mở chai và bày ra hai ly rượu vang cùng một chén đậu trộn. Không phiền phức bao nhiêu. Tuy nhiên, hai người đàn ông hút thuốc rất nhiều, khiến Kino, người ghét khói thuốc lá, ít thích tiếp họ hơn. Không có gì khác để làm, Kino ngồi trên một chiếc ghế cao và lắng nghe đĩa nhạc Coleman Hawkins với bài "Joshua chiến đấu trận Jericho." (3) Anh thấy phần độc tấu âm trầm của Major Holley tuyệt vời.

Lúc đầu, hai người đàn ông dường như vui vẻ thưởng thức rượu vang cùng nhau, nhưng rồi một sự bất đồng đã phát sinh về một chuyện gì đó – chuyện gì Kino chẳng biết – và hai người đàn ông càng lúc càng nóng nảy hơn. Đến một lúc, một trong hai người đứng lên, nghiêng cái bàn khiến cái gạt tàn thuốc lá đầy vun và một trong hai ly rượu rơi xuống sàn vỡ vụn. Kino vội mang chổi đến quét dọn, rồi đặt một ly rượu và gạt tàn sạch lên bàn.

Kamita – tuy lúc ấy Kino chưa biết tên anh – rõ ràng ghét hành vi của hai người đàn ông. Anh không đổi sắc mặt, nhưng anh cứ gõ nhè nhẹ mấy ngón tay trái lên quầy, như một nhạc sĩ dương cầm kiểm tra các phím đàn. Kino nghĩ, mình phải làm chủ tình thế. Anh đến bên hai người đàn ông. "Tôi xin lỗi," anh lễ độ nói, "nhưng xin phiền hai anh thấp giọng xuống một chút."

Một trong hai ngưởi nhìn anh với ánh mắt lạnh lẽo và đứng lên. Trước đó Kino không nhận ra, nhưng người đàn ông rất to lớn. Anh ta không cao lắm nhưng ngực rộng, hai cánh tay khổng lồ, tạng người như một đô vật sumo (4).

Người đàn ông kia nhỏ hơn nhiều. Gầy và xanh, cái nhìn sắc sảo, kiểu người rất giỏi kích động người khác. Anh ta cũng từ từ đứng dậy, và Kino thấy mình đối mặt cả hai. Rõ là hai người đàn ông đã quyết định nắm cơ hội này để thôi tranh cãi và cùng nhau đối đầu với Kino. Họ kết hợp hoàn hảo, gần như là họ đã âm thầm chờ đợi đúng tình huống này xảy ra.

"Sao hả, anh nghĩ rằng anh có thể chen vào và ngắt ngang chúng tôi?" Người đàn ông to lớn hơn nói, giọng anh ta rắn và trầm.

Hai bộ vest họ mặc có vẻ đắt tiền, nhưng nhìn kỹ hơn mới thấy chúng nhà quê và may xấu. Họ chưa hẳn là yakuza, dù rõ ràng việc làm của họ không phải là việc đáng trọng. Người đàn ông to lớn hơn có mái tóc ngắn sát đầu, trong khi tóc ngưởi bạn đồng hành của anh ta nhuộm nâu và buộc cao kiểu đuôi ngựa sau ót. Kino gồng mình chuẩn bị cho một việc không hay xảy ra. Mồ hôi bắt đầu đổ ra hai nách của anh.

"Xin lỗi," một giọng khác nói.

Kino quay lại và thấy Kamita đang đứng phía sau.

"Đừng đổ lỗi cho nhân viên của quán," Kamita vừa nói vừa chỉ vào Kino. "Tôi là người đòi anh ấy yêu cầu các anh nói nhỏ lại. Tiếng nói lớn làm tôi khó tập trung, không đọc sách được."

Giọng Kamita bình tĩnh hơn, chậm rãi hơn so với bình thường. Nhưng một điều gì vô hình đã bắt đầu dấy động.

"Không đọc sách được," người đàn ông nhỏ hơn lập lại, như thể chắc chắn rằng câu đó không có lỗi ngữ pháp.

"Cái gì, mày không có nhà hử?" Người đàn ông to lớn hơn hỏi Kamita.

"Có chứ," Kamita trả lời. "Tôi sống gần đây."

"Vậy sao mày không về nhà mà đọc?"

"Tôi thích đọc sách ở đây," Kamita nói.

Hai người đàn ông nhìn nhau.

"Đưa cuốn sách đây," người đàn ông nhỏ hơn nói. "Tao đọc cho mày nghe."

"Tôi thích một mình yên tĩnh đọc," Kamita nói. "Và tôi sẽ không thích nếu anh phát âm sai bất cứ từ nào."

"Mày lắm chuyện nhỉ," người đàn ông lớn hơn nói. "Thật là một đứa khôi hài."

"Tên mày là gì hả?" Đuôi ngựa hỏi.

"Tên tôi là Kamita," anh nói. "Nó được viết với bộ chữ ‘thần linh’-kami-và ‘ cánh đồng ‘ –ta-:’ cánh đồng của thần linh ‘. Nhưng nó không phải phát âm là" Kanda,’ như anh có thể đoán. Nó phát âm là ‘Kamita.’"

"Tao sẽ nhớ," người đàn ông to lớn nói.

"Tốt. Ký ức có thể là hữu ích," Kamita nói.

"Thế nào, chúng ta bước ra ngoài chứ?" Người đàn ông nhỏ hơn nói. "Như thế, chúng ta có thể nói chính xác điều chúng ta muốn nói."

"Được thôi," Kamita nói. "Bất cứ nơi nào anh nói. Nhưng, trước khi chúng ta làm thế, anh thanh toán chi phí của anh được không? Anh đâu muốn gây rắc rối cho quán".

Kamita hỏi Kino mang hóa đơn của họ, và để lại chính xác số tiền cho thức uống của mình trên quầy. Đuôi ngựa rút trong ví ra tờ mười ngàn yen và ném nó lên bàn.

"Không cần tiền thối," Đuôi ngựa bảo Kino. "Nhưng sao mày không mua ly rượu vang tốt hơn chứ? Đây là rượu đắt tiền, ly như thế này làm mùi vị nó như nước cống."

"Thật là quán rẻ tiền," người đàn ông to lớn hơn miệt thị nói.

"Đúng thế. Một quán rẻ tiền với khách hàng rẻ tiền, "Kamita nói. "Không hợp với các anh. Hẳn phải có chỗ khác thích hợp hơn. Tuy tôi không biết chỗ đó ở đâu."

"À, mày láu cá nhỉ," người đàn ông to lớn nói. "Mày làm tao phát cười đấy."

"Sau này anh hãy suy nghĩ chuyện đó, và cười nhiều cười lâu nhé," Kamita nói.

"Mày không sai bảo được tao đi đâu cả," Đuôi ngựa nói. Hắn chậm rãi liếm môi, như một con rắn xem xét con mồi của nó.

Người đàn ông to lớn mở cửa và bước ra ngoài, Đuôi ngựa theo sau. Có lẽ cảm nhận được sự căng thẳng trong không khí, con mèo phóng ra ngoài theo họ, mặc dù trời đang mưa.

"Anh có chắc là anh OK không?" Kino hỏi Kamita.

"Đừng lo," Kamita nói, với một nụ cười mỉm. "Anh Kino không cần phải làm gì hết. Cứ ở lại đây. Sắp xong cả rổi."

Kamita đi ra ngoài và đóng cửa lại. Trời vẫn mưa, nặng hơn lúc trước một chút. Kino ngồi xuống một chiếc ghế cao và đợi. Bên ngoài yên ắng lạ lùng, anh không nghe thấy gì. Cuốn sách của Kamita nằm mở trên quầy, như một con chó đã thuần chờ đợi chủ. Khoảng mười phút sau, cánh cửa mở ra, và Kamita bước vào, một mình.

"Anh cho tôi mượn một chiếc khăn được không?", anh hỏi.

Kino đưa cho anh một chiếc khăn sạch, và Kamita lau đầu. Rồi cổ, mặt, và, cuối cùng, cả hai tay. "Cảm ơn anh. Mọi chuyện OK rồi, " anh nói. "Hai người đó sẽ không ló mặt đến đây nữa đâu."

"Đã xảy ra chuyện gì thế?"

Kamita chỉ lắc đầu, như muốn nói, "Tốt hơn là anh không biết." Anh đi đến chỗ ngồi của mình, uống hết phần whisky còn lại, và tiếp tục đọc sách.

Tối hôm đó, sau khi Kamita đã đi khỏi, Kino ra ngoài đi vòng quanh khu phố. Ngõ hẻm vắng vẻ và yên tĩnh. Không có dấu vết đánh nhau, không có vết máu. Anh không thể nghĩ nổi chuyện gì đã xảy ra. Anh trở lại quán để chờ khách hàng khác, nhưng đêm đó không ai đến. Con mèo cũng không quay trở lại. Anh rót cho mình một ít rượu White Label, thêm một lượng tương đương nước và hai viên đá nhỏ, rồi nếm thử. Không có gì đặc biệt, đại loại như dự đoán. Nhưng đêm đó anh cần một ngụm rượu trong ngưởi.

Khoảng một tuần sau vụ đó, Kino ngủ với một người khách nữ. Cô là người phụ nữ đầu tiên anh có quan hệ tình dục với kể từ khi anh bỏ vợ. Cô ba mươi tuổi, hoặc có lẽ già một chút. Anh không chắc cô được gọi là đẹp, nhưng cô có một điều gì độc đáo, nổi bật.

Người phụ nữ đã tới quán rượu nhiều lần, luôn luôn cùng một người đàn ông cùng độ tuổi đeo kính gọng đồi mồi và để râu cằm kiểu hippie. Anh ta có mái tóc rối và không bao giờ đeo cà vạt, vì thế Kino nghĩ anh có lẽ không phải là loại nhân viên công ty điển hình. Người phụ nữ luôn luôn mặc áo đầm bó sát khoe thân hình mảnh mai cân đối. Họ ngồi ở quầy, đôi khi trao đổi một hai chữ thì thầm trong khi họ nhấm nháp rượu pha hoặc sherry (5). Họ không bao giờ ở lại lâu. Kino đoán họ uống rượu trước khi làm tình. Hoặc sau khi làm tình. Anh không biết trước hay sau, nhưng cách họ uống khiến anh nghĩ đến chuyện làm tình. Một cuộc làm tình kéo dài, mãnh liệt. Sắc diện hai người vô cảm lạ lùng, đặc biệt là người phụ nữ, Kino chưa bao giờ thấy cô mỉm cười. Đôi khi cô nói chuyện với anh, luôn luôn về nhạc đang chơi trong quán. Cô thích jazz và cũng sưu tầm đĩa nhạc. "Trước kia cha tôi thường nghe nhạc này ở nhà," cô bảo anh. "Nghe nó nhắc tôi rất nhiều kỷ niệm."

Từ giọng của cô, Kino không biết đấy là những kỷ niệm về âm nhạc hay về cha cô. Nhưng anh không dám hỏi.

Thật ra Kino cố không dây dưa với người phụ nữ quá nhiều. Rõ là người đàn ông không hài lòng lắm khi anh thân thiện với cô. Có một lần anh và người phụ nữ đã nói chuyện lâu – trao đổi thông tin về các tiệm bán đĩa cũ ở Tokyo và cách chăm sóc đĩa nhựa tốt nhất – và sau đó người đàn ông cứ ném về phía anh những cái nhìn lạnh lẽo và ngờ vực. Thường Kino cẩn thận giữ khoảng cách không dây dưa. Không có gì tệ hơn ghen tuông và tự ái, và Kino đã có một số kinh nghiệm khủng khiếp với cả hai. Đôi khi anh nghĩ anh có điều gì khơi dậy khía cạnh đen tối ở những người khác.

Thế nhưng, đêm đó người phụ nữ đến quán một mình. Không có khách nào khác, và khi cô mở cửa, khí lạnh ban đêm len vào. Cô ngồi ở quầy, gọi một ly brandy (6), và yêu cầu Kino chơi đĩa Billie Holiday. "Một đĩa xưa lắc, nếu anh có." Kino đặt một đĩa Columbia trên bàn xoay của máy đĩa, một đĩa với bài "Nghĩ đến Georgia (7)." Hai người lặng lẽ lắng nghe. "Anh có thể chơi mặt kia luôn không?" cô hỏi khi bản nhạc kết thúc, và anh đã làm như cô yêu cầu.

Cô chậm rãi uống hết ba ly brandy, nghe thêm vài đĩa nhạc – “Rạng rỡ ánh trăng” (8) của Erroll Garner, " "Tôi không thể bắt đầu “ (9) của Buddy DeFranco. Thoạt tiên, Kino nghĩ rằng cô đang đợi người đàn ông, nhưng cô không liếc nhìn đồng hồ đeo tay lần nào. Cô chỉ ngồi đó, lắng nghe nhạc, đắm trong suy tưởng, nhấm nháp rượu brandy.

"Hôm nay bạn của cô không đến được?" Kino quyết định hỏi khi giờ đóng cửa gần kề.

"Anh ấy không đến. Anh ấy ở xa lắm, "người phụ nữ nói. Cô đứng dậy và bước đến chỗ con mèo nằm ngủ. Cô nhẹ nhàng dùng đầu ngón tay vuốt lưng của nó. Con mèo tỉnh bơ ngủ tiếp.

"Chúng tôi đang định không gặp nhau nữa", người phụ nữ nói.

Kino không biết trả lời như thế nào, vì thế anh không nói gì, và tiếp tục dọn dẹp sau quầy.

"Tôi không biết phải nói sao," người phụ nữ nói. Cô thôi vuốt ve con mèo và trở lại quầy, gót giày cao gõ lách cách. "Mối quan hệ của chúng tôi không hẳn là…bình thường. "

"Không hẳn là bình thường." Kino lập lại lời cô mà không thực sự nghĩ xem chúng có nghĩa gì.

Cô uống nốt chút rượu brandy còn lại trong ly của mình. "Anh Kino, tôi muốn cho anh thấy một thứ," cô nói.

Thứ gì Kino cũng không muốn nhìn thấy. Anh chắc chắn thế. Nhưng anh không nói nên lời.

Người phụ nữ cởi áo len và đặt nó trên cái ghế. Cô với hai tay sau lưng và cởi khóa kéo áo đầm đang mặc. Cô quay lưng lại phía Kino. Ngay bên dưới khóa cài áo ngực màu trắng của cô, anh nhìn thấy những vết lấm tấm màu than đã mờ nhạt, như những vết bầm tím. Chúng nhắc anh nhớ đến những chòm sao trên bầu trời mùa đông. Một chuỗi những vì sao cạn kiệt mờ tối.

Người phụ nữ không nói gì, chỉ phô lưng trần cho Kino thấy. Như một người thậm chí không thể hiểu ý nghĩa của câu hỏi đặt ra với mình, Kino chỉ nhìn chằm chằm vào những vết trên lưng cô. Cuối cùng, cô cài khóa kéo và quay lại đối diện anh. Cô mặc áo len và sửa lại tóc.

"Đó là những vết bỏng thuốc lá," cô chỉ nói thế.

Kino không biết nói gì. Nhưng anh phải nói điều gì đó. "Ai đã làm cô như thế?" Anh hỏi, giọng khô khốc.

Người phụ nữ không trả lời, và Kino nhận ra rằng mình không mong một câu trả lời.

"Tôi có mấy vết ấy ở những chỗ khác nữa," cuối cùng cô nói, giọng cô không còn chút cảm xúc. "Những chỗ…hơi khó phô bày."

Từ lúc đầu, Kino đã cảm thấy người phụ nữ có điều gì đó khác thường. Một điều gì khơi dậy một phản ứng bản năng, cảnh báo anh không nên dính dáng với cô. Anh vốn là một người thận trọng. Nếu anh thực sự cần ngủ với một người phụ nữ, anh có thể thu xếpvới một người chuyên nghiệp. Và thậm chí không phải anh thích người phụ nữ này.

Nhưng đêm đó cô đang rất muốn một người đàn ông làm tình với cô – và có vẻ như anh là người đàn ông ấy. Mắt cô sâu thẳm, hai đồng tử nở ra rất lạ, nhưng lấp lánh một tia quyết định không chấp nhận lùi bước. Kino không đủ sức để cưỡng lại.

Anh khóa cửa quán, và hai người lên lầu. Trong phòng ngủ, người phụ nữ nhanh chóng cởi y phục, lột bỏ quần áo lót, và cho anh thấy những chỗ hơi khó phô bày. Thoạt tiên Kino không thể nhìn, nhưng rồi bị lôi kéo phải nhìn. Anh không thể hiểu được, cũng không muốn hiểu, tâm trí của một người đàn ông muốn làm điều độc ác đến thế, hoặc của một người phụ nữ tự nguyện chịu đựng nó. Đấy là một cảnh man dại từ một hành tinh cằn cỗi, xa nơi Kino ở nhiều năm ánh sáng.

Người đàn bà nắm lấy tay anh và đưa nó đến các vết sẹo, bắt anh chạm vào từng vết. Có những vết sẹo trên ngực của cô, và cạnh âm đạo của cô. Anh lần theo những vết thâm cứng, như thể anh đang dùng bút chì nối các dấu chấm. Những dấu vết dường như tạo thành một hình thù nhắc anh đến một điều gì đó, nhưng anh không thể nghĩ ra là điều gì.

Họ làm tình trên sàn nhà trải chiếu. Không lời nói, không vuốt ve dạo đầu, thậm chí không có thời gian để tắt đèn hoặc nằm xuống nệm. Lưỡi của người phụ nữ luồn xuống cổ họng của anh, móng tay cô bấu vào lưng anh. Dưới ánh đèn, như hai con thú đói, họ ngốn ngấu xác thịt họ khao khát. Khi bình minh bắt đầu đến bên ngoài, họ bò lên nệm và ngủ, như thể bị lôi xuống bóng tối.

Kino thức dậy ngay trước buổi trưa, và người phụ nữ đã biến mất. Anh cảm thấy như thể anh đã có một giấc mơ rất thực, nhưng dĩ nhiên đấy không phải là giấc mơ. Lưng anh đầy vết trầy xước, cánh tay của anh đầy vết cắn, dương vật của anh thắt đau âm ỉ. Một vài sợi tóc đen dài uốn quanh chiếc gối trắng của anh, và những tấm khăn trải giường có một mùi hương nồng trước đó anh chưa bao giờ ngửi thấy.

Người phụ nữ đến quán nhiều lần sau đó, luôn luôn với người đàn ông để râu cằm. Họ sẽ ngồi tại quầy, nói nhỏ giọng trong khi họ uống một hai ly rượu pha, rồi đi. Người phụ nữ sẽ trao đổi vài lời với Kino, phần lớn về âm nhạc. Giọng cô vẫn giống như trước, như thể cô đã không còn nhớ những gì đã xảy ra giữa họ trong đêm ấy. Tuy thế, Kino có thể nhận ra một tia sáng thèm muốn lóe lên trong mắt cô, như tia sáng lờ mờ sâu dưới một hầm mỏ. Anh chắc chắn thế. Và tia mắt ấy gợi lại mọi thứ một cách sống động – móng tay cô đâm vào lưng anh, dương vật anh đau nhói, cái lưỡi dài trườn lướt của cô, mùi trên chăn gối trong giường của anh.

Trong lúc anh và người phụ nữ nói chuyện, người đàn ông đi với cô cẩn thận quan sát biểu hiện và hành vi của Kino. Kino cảm nhận một điều gì đặc quánh quấn lấy cặp đôi này, như thể có một bí mật sâu xa chỉ có hai người họ biết.

Cuối mùa hè, ly hôn của Kino đã xong, anh và vợ gặp nhau một buổi chiều tại quán của anh, trước khi quán mở cửa, để giải quyết một vài vấn đề cuối cùng.

Những vấn đề pháp lý được giải quyết nhanh chóng, và hai người ký các tài liệu cần thiết. Vợ Kino mặc một áo đầm mới màu xanh, tóc cắt ngắn. Trông cô khỏe mạnh và vui vẻ hơn bao giờ. Cô đã bắt đầu một cuộc đời mới, chắc hẳn trọn vẹn hơn. Cô liếc nhìn xung quanh quán. "Thật là một nơi tuyệt vời," cô nói. "Yên tĩnh, sạch sẽ, và êm ả – rất đúng với con người anh." Một khoảng im lặng ngắn theo sau. "Nhưng không có gì ở đây thực sự làm người ta cảm động": Kino đoán đây là những lời cô muốn nói.

"Em có muốn uống gì không?", anh hỏi.

"Một chút rượu vang đỏ, nếu anh có."

Kino lấy ra hai ly rượu vang và rót ít rượu Zinfandel của Napa. Họ lặng lẽ uống rượu. Họ sẽ không chúc mừng ly hôn của mình. Con mèo đến gần, và thật lạ, nhảy vào lòng Kino. Kino vuốt ve phía sau tai của nó.

"Em cần phải xin lỗi anh," cuối cùng vợ anh nói.

"Vì cái gì?" Kino hỏi.

"Vì đã khiến anh đau lòng," cô nói. "Anh có đau lòng một chút, phải không?"

"Anh đoán thế" Kino nói, sau một lúc suy nghĩ. "Anh cũng là người thôi. Anh đã đau lòng. Nhưng nhiều hay ít thì anh không rõ."

"Em muốn gặp anh và nói xin lỗi."

Kino gật đầu. "Em đã xin lỗi, và anh đã chấp nhận lời xin lỗi của em. Không cần phải bận tâm về chuyện ấy nữa."

"Em đã muốn nói cho anh biết chuyện, nhưng không thể nói nên lời."

"Nhưng thế nào thì chúng ta cũng đến thế thôi, phải không?"

"Em đoán vậy," vợ anh nói.

Kino nhấp một ngụm rượu.

"Chằng phải lỗi của ai," anh nói. "Anh không nên về nhà sớm hơn một ngày. Hoặc anh nên cho em biết anh sắp về. Thế thì chúng ta đã không phải trải qua chuyện ấy."

Vợ anh không nói gì.

"Em bắt đầu hẹn hò anh ta từ khi nào?" Kino hỏi.

"Em nghĩ chúng ta không nên nói chuyện ấy."

"Ý em là anh không biết thì tốt hơn? Có lẽ em đúng," Kino thừa nhận. Anh tiếp tục vuốt ve con mèo đang kêu rù rù trong cổ họng. Lại thêm một chuyện xảy ra lần đầu.

"Có lẽ em không có quyền nói điều này," vợ anh nói, "nhưng em nghĩ anh nên quên đi những gì đã xảy ra và tìm một người mới."

"Có lẽ," Kino nói.

"Em biết phải có một người phụ nữ hợp với anh. Tìm cô ấy chắc không quá khó. Em đã không thể là người ấy với anh, và em đã làm một điều rấr tệ. Em hối hận lắm. Nhưng ngay từ đầu đã có điều gì đó sai lạc giữa chúng ta, như thể chúng ta đã cài nút áo lệch. Em nghĩ rằng anh phải có thể có một cuộc sống hạnh phúc, bình thường hơn."

Cài nút áo lệch, Kino nghĩ.

Anh nhìn chiếc áo đầm mới cô đang mặc. Họ đang ngồi đối diện nhau, vì vậy anh không biết sau lưng áo là nút hay khóa kéo. Nhưng anh không thể không nghĩ đến những gì anh sẽ nhìn thấy nếu anh cởi nút hoặc khóa kéo trên y phục của cô. Thân thể của cô đã không còn thuộc về anh, vì vậy anh chỉ có thể tưởng tượng về nó. Khi anh nhắm mắt lại, anh nhìn thấy vô số những vết cháy nâu sậm quằn quại trên tấm lưng trắng muốt của cô, như một đàn sâu. Anh lắc đầu để xua đi hình ảnh đó, và vợ anh dường như hiểu sai cử chỉ này.

Cô nhẹ nhàng đặt tay lên tay anh. "Em xin lỗi," cô nói. "Em thực sự xin lỗi."

Mùa thu đến, và con mèo biến mất.

Phải mất một vài ngày Kino mới nhận ra nó đã biến mất. Con mèo – vẫn không tên – đến quán khi nó muốn và đôi khi không xuất hiện một thời gian, vì vậy nếu Kino không nhìn thấy nó trong một tuần, hoặc thậm chí mười ngày, anh không thực sự lo lắng. Anh mến con mèo, và con mèo dường như tin cậy anh. Nó cũng giống như một lá bùa may mắn cho quán. Kino có ấn tượng rõ ràng rằng miễn là nó đang ngủ trong một góc thì sẽ không có gì xấu xảy ra. Nhưng khi hai tuần đã qua, anh bắt đầu lo lắng. Sau ba tuần, linh tính của Kino bảo anh rằng con mèo sẽ không trở lại.

Vào khoảng thời gian con mèo biến mất, Kino bắt đầu nhận thấy có những con rắn bên ngoài, gần tòa nhà.

Con rắn đầu tiên anh nhìn thấy màu nâu xỉn và dài. Nó nằm trong bóng râm của cây liễu ở sân trước, trườn đi nhàn nhã. Kino, tay cầm một túi thức ăn, đang mở khóa cửa khi anh nhìn thấy nó. Hiếm khi thấy rắn ở giữa Tokyo. Anh hơi ngạc nhiên, nhưng không lo lắng. Đằng sau tòa nhà của anh là Bảo tàng viện Nezu, với những khu vườn lớn. Không có gì khó hiểu nếu có một con rắn sống ở đó.

Nhưng hai ngày sau, khi anh mở cửa ngay trước buổi trưa để lấy tờ báo, anh nhìn thấy một con rắn khác ở cùng chỗ ấy. Con này màu hơi xanh, nhỏ hơn con kia, và nhìn lầy nhầy. Khi con rắn thấy Kino, nó dừng lại, ngẩng đầu lên một chút, và nhìn anh chằm chằm, như thể nó biết anh. Kino do dự, không biết phải làm gì, và con rắn từ từ hạ đầu xuống, biến mất vào bóng râm. Toàn bộ sự việc khiến Kino phát khiếp.

Ba ngày sau, anh thấy con rắn thứ ba. Cũng dưới gốc cây liễu ở sân trước. Con rắn này nhỏ hơn nhiều so với hai con kia và màu hơi đen. Kino không biết gì về rắn, nhưng với anh con này có vẻ nguy hiểm nhất. Không rõ vì sao nó nhìn như rắn độc. Khi cảm nhận được sự hiện diện của anh, nó lập tức lẩn vào cỏ dại. Ba con rắn trong vòng một tuần, xét thế nào đi nữa cũng là quá nhiều. Một điều kỳ lạ gì đấy đang xảy ra.

Kino gọi điện cho dì của anh ở Izu. Sau khi cho bà biết tin tức về khu phố, anh hỏi bà đã bao giờ nhìn thấy rắn chung quanh căn nhà ở Aoyama chưa.

"Rắn?" Dì anh thốt lên, ngạc nhiên. "Dì sống ở đó rất lâu nhưng không nhớ đã từng nhìn thấy rắn. Dì đang nghĩ phải chăng đấy là một dấu hiệu động đất hoặc cái gì đó. Động vật cảm nhận được thiên tai đang đến và rồi biểu hiện bất thường."

"Nếu thật thế, thì có lẽ cháu nên trữ các thứ cho trường hợp khẩn cấp," Kino nói.

"Đấy có thể là ý hay. Sẽ có ngày Tokyo bị một trận động đất rất lớn."

"Nhưng rắn nhạy cảm với động đất đến thế sao?"

"Dì không biết chúng nhạy cảm với cái gì," dì anh nói. "Nhưng rắn là sinh vật thông minh. Trong truyền thuyết xưa, chúng thường giúp dẫn dắt con người. Tuy nhiên, khi rắn dẫn dắt, không ai biết nó dẫn về hướng thiện hay ác. Trong hầu hết trường hợp, phương hướng ấy có cả thiện và ác."

"Mập mờ," Kino nói.

"Chính thế. Bản chất rắn là mập mờ. Trong các truyền thuyết này, con rắn lớn nhất, khôn ngoan nhất giấu trái tim của nó bên ngoài cơ thể để nó không bị giết. Muốn giết con rắn ấy, phải đi đến nơi ẩn náu của nó khi nó không có đấy, tìm trái tim đang đập, và cắt đôi trái tim ra. Hẳn không phải một việc dễ dàng."

Làm thế nào dì của anh biết những điều này?

"Ngày kia dì đã xem một chương trình trên đài NHK (10) so sánh những huyền thoại khác nhau trên thế giới," bà giải thích, "và một giáo sư của một đại học nào đó đã nói về việc này. TV có thể khá hữu ích – nếu có thời gian, cháu nên xem TV nhiều hơn."

Kino bắt đầu cảm thấy như thể rắn đã bao vây ngôi nhà. Anh cảm thấy sự hiện diện lặng lẽ của chúng. Vào nửa đêm, lúc anh đóng cửa quán, khu phố yên ắng, không có âm thanh nào khác hơn tiếng còi xe cảnh sát đôi khi. Yên ắng đến nỗi anh gần như có thể nghe thấy tiếng một con rắn trườn đi. Anh lấy một tấm gỗ và dùng đinh đóng chặt cánh cửa thú nuôi anh đã xây cho con mèo, để không con rắn nào vào được ngôi nhà.

Một đêm, ngay trước mười giờ, Kamita xuất hiện. Anh uống một ly bia, theo sau là ly rượu White Label thường lệ, và ăn một món bắp cải nhồi. Anh thường không đến trễ đến thế, và ở lại lâu như thế. Thỉnh thoảng, anh ngưng đọc, ngước lên nhìn chăm vào bức tường trước mặt, như thể đang suy ngẫm điều gì đó. Khi sắp đến giờ đóng cửa, anh ở lại, cho đến khi anh là người khách cuối cùng.

"Anh Kino, "Kamita nói khá trịnh trọng, sau khi trả tiền. "Tôi cảm thấy rất đáng tiếc là chuyện đã đến mức này."

"Đến mức này?" Kino lập lại.

"Rằng anh sẽ phải đóng cửa quán. Cho dù chỉ tạm thời."

Kino nhìn Kamita chăm chăm, không biết trả lời như thế nào. Đóng cửa quán?

Kamita liếc nhìn xung quanh quán rượu vắng tanh, rồi quay lại phía Kino. "Anh chưa hiểu tôi đang nói gì, phải không?"

"Tôi không nghĩ tôi hiểu."

"Tôi thực sự rất thích quán này," Kamita nói, như thể tâm sự với anh. "Nó yên tĩnh, nên tôi có thể đọc sách, và tôi thích nhạc chơi trong quán. Tôi đã rất vui khi anh mở quán ở đây. Tuy vậy, thật không may là thiếu một vài thứ."

"Thiếu?" Kino nói. Anh không hiểu điều này có nghĩa gì. Anh chỉ có thể hình dung ra một cái tách trà mẻ một chút trên vành miệng.

"Con mèo xám ấy sẽ không quay trở lại," Kamita nói. "Ít nhất trong lúc này."

"Bởi vì nơi này thiếu một cái gì đó?"

Kamita không trả lời.

Kino nhìn theo ánh mắt của Kamita, và nhìn kỹ chung quanh quán, nhưng chẳng thấy gì khác thường. Tuy nhiên, anh có cảm giác rằng quán trống rỗng hơn bao giờ hết, thiếu sức sống và màu sắc. Một điều gì khác hơn cảm giác vừa-đóng-cửa-nghi-đêm thường lệ.

Kamita lên tiếng. "Anh Kino, anh không phải là loại người muốn làm điều sai trái. Tôi biết điều đó rất rõ. Nhưng nhiều khi, trong thế giới này, chỉ không làm điều sai trái thôi là chưa đủ. Một số người dùng khoảng trống ấy như một loại kẽ hở. Anh hiểu tôi đang nói gì không? "

Kino không hiểu.

"Hãy ngẫm nghĩ kỹ," Kamita nhìn thẳng vào mắt Kino và nói. "Đấy là một câu hỏi rất quan trọng, đáng suy nghĩ cẩn trọng. Mặc dù có thể không dễ tìm ra câu trả lời."

"Ý anh là một chuyện rắc rối nào đó đã xảy ra, không phải vì tôi làm điều gì sai trái, mà vì tôi không làm điều phải? Rắc rối của quán, hay là của tôi? "

Kamita gật đầu. "Anh có thể nói như thế. Nhưng tôi không chỉ trách mình anh đâu, anh Kino. Tôi cũng có lỗi vì đã không nhận thấy điều đó sớm hơn. Lẽ ra tôi phải để ý nhiều hơn. Đây là một nơi thoải mái, không chỉ với tôi mà với mọi người. "

"Thế thì tôi nên làm gì?" Kino hỏi.

"Đóng cửa quán một thời gian và đi xa. Anh không thể làm gì khác vào lúc này. Tôi nghĩ tốt nhất là anh rời đi trước khi trời mưa dầm trở lại. Tôi xin lỗi phải hỏi, nhưng anh có đủ tiền cho một chuyến đi xa không?"

"Tôi đoán tôi có thể tạm đủ một thời gian."

"Tốt. Chuyện sau này thì sau này hãy lo."

"Vậy anh là ai thế?"

"Tôi chỉ là một anh chàng tên Kamita," Kamita nói. "Viết với các bộ chữ kami, ‘thần linh ‘, và ta, ‘cánh đồng’, nhưng không đọc là ‘Kanda’. Tôi đã sống ở đây rất lâu."

Kino quyết định liều hỏi. "Anh Kamita, tôi có một câu hỏi. Lúc trước anh có thấy rắn quanh đây không? "

Kamita không trả lời. "Anh sẽ làm như vầy. Đi thật xa, và đừng ở đâu lâu. Mỗi thứ Hai và thứ Năm nhất định phải gửi một tấm bưu thiếp. Thế thì tôi sẽ biết là anh OK."

"Một tấm bưu thiếp?"

"Bất kỳ loại bưu thiếp nào có hình nơi anh đang ở."

"Nhưng tôi sẽ gừi nó cho ai?"

"Anh có thể gửi cho dì của anh ở Izu. Đừng viết tên anh hoặc thông điệp nào. Chỉ cần viết địa chỉ gửi. Điều này rất quan trọng, anh đừng quên."

Kino ngạc nhiên nhìn anh. "Anh biết dì của tôi?"

"Vâng, tôi biết bà ấy rất rõ. Thực ra, bà ấy đã yêu cầu tôi để ý đến anh, nhất định không để xảy ra chuyện gì. Nhưng xem ra tôi đã không làm được việc."

Người đàn ông này là ai chứ? Kino tự hỏi.

"Anh Kino, khi tôi biết anh có thể trở về tôi sẽ liên lạc với anh. Cho đến lúc đó thì anh đừng về. Anh hiểu chứ? "

Đêm đó, Kino thu xếp cho chuyến đi. Tốt nhất là anh rời đi trước khi trời mưa dầm trở lại. Câu nói quá đột ngột, và anh không hiểu lý lẽ của nó. Nhưng những lời của Kamita có sức thuyết phục kỳ lạ, hơn cả lý lẽ. Kino không nghi ngờ Kamita. Anh nhét một số quần áo và đồ vệ sinh cá nhân vào một túi đeo vai cỡ vừa, cũng cái túi anh đã dùng trong các chuyến đi cho công việc. Khi bình minh đến, anh gắn một thông báo lên cửa trước: "Chúng tôi cáo lỗi, nhưng quán sẽ đóng cửa trong thời gian này."

Thật xa, Kamita đã bảo anh. Nhưng anh không biết anh thực nên đi nơi nào. Anh nên đi về phía bắc chăng? Hay là phía nam? Anh quyết định sẽ bắt đầu bằng cách theo một tuyến đường anh thường đi lúc đang bán giày chạy. Anh lên một chiếc xe buýt tốc hành và đến Takamatsu. Anh sẽ đi một vòng Shikoku rồi qua Kyushu.

Anh thuê phòng trong một khách sạn bình dân gần Ga Takamatsu và ở đó ba ngày. Anh lang thang khắp thành phố và xem vài cuốn phim. Các rạp phim vắng tanh lúc ban ngày, phim nào cũng chán phèo. Khi trời tối, anh trở về phòng của mình và bật TV. Anh theo lời khuyên của dì anh và xem các chương trình có tính giáo dục, nhưng không thu được thông tin nào hữu ích. Ngày thứ nhì ở Takamatsu là một ngày thứ Năm, nên anh đã mua một tấm bưu thiếp tại một cửa hàng tiện lợi, gắn lên một con tem, rồi gửi cho dì anh. Theo lời dặn của Kamita, anh chỉ viết tên và địa chỉ của bà.

"Hãy ngẫm nghĩ kỹ," Kamita đã bào anh. "Đấy là một câu hỏi rất quan trọng, đáng suy nghĩ cẩn trọng." Nhưng, dù anh suy nghĩ cẩn trọng thế nào chăng nữa, Kino vẫn không thể đoán ra vấn đề là gì.

Một vài ngày sau, Kino tạm trú tại một khách sạn bình dân giá rẻ gần Ga Kumamoto, Kyushu. Trần thấp, giường hẹp chật chội, TV bé xíu, bồn tắm tí hon, tủ lạnh nhỏ và tồi. Anh cảm thấy như một chàng khổng lồ lúng túng vụng về. Thế nhưng, ngoại trừ chuyến đi đến một cửa hàng tiện lợi gần đó, anh ở dí trong phòng cả ngày. Tại cửa hàng, anh mua một bình rượu whisky nhỏ, ít nước khoáng, và ít bánh quy nướng để ăn vặt. Anh nằm trên giường đọc sách. Khi anh đã chán đọc, anh xem TV. Khi anh đã chán xem TV, anh đọc.

Lúc đó là ngày thứ ba anh ở lại Kumamoto. Anh vẫn có tiền trong tài khoản tiết kiệm của mình, và nếu anh muốn, anh có thể ở trong một khách sạn khá hơn nhiều. Nhưng anh cảm thấy rằng ngay bây giờ, đối với anh, đây là nơi thích hợp. Nếu anh ở trong một không gian nhỏ như thế này, anh sẽ không phải suy nghĩ vẩn vơ, và tất cả mọi thứ anh cần nằm trong tầm tay. Bỗng dưng anh cảm thấy biết ơn điều ấy. Anh chỉ mong ước chút âm nhạc. Teddy Wilson, Vic Dickenson, Buck Clayton – đôi khi anh tha thiết mong được nghe nhạc jazz thời xưa của họ, với kỹ thuật ổn định, đáng tin cậy và những hợp âm giản dị. Anh muốn cảm nhận niềm vui thuần khiết của họ khi chơi nhạc, sự lạc quan tuyệt vời của họ. Nhưng bộ sưu tập đĩa của anh đang ở xa lắc. Anh hình dung quán rượu của mình, yên vắng từ khi anh đóng cửa. Con hẻm, cây liễu lớn. Những người đọc bảng hiệu anh đã để lại và bỏ đi. Còn con mèo thì sao? Nếu nó trở lại, nó sẽ thấy cánh cửa của nó đã bị đóng gỗ chắn. Và những con rắn có còn lặng lẽ bao vây ngôi nhà?

Đối diện cửa sổ tầng thứ tám của anh là cửa sổ của một tòa nhà văn phòng. Từ sáng đến tối, anh ngắm những người làm việc ở đó. Anh không biết đấy là loại doanh nghiệp nào. Đàn ông đeo cà vạt ra vào, trong lúc phụ nữ gõ bàn phím máy tính, trả lời điện thoại, xếp hồ sơ. Không hẳn là một cảnh khiến người ta chú ý. Nét mặt và quần áo của những người làm việc ở đó bình thường, thậm chí tầm thường. Kino nhìn họ giờ này qua giờ khác chỉ vì một lý do đơn giản: anh không có chuyện gì khác để làm. Và anh bất ngờ, ngạc nhiên, thấy đôi khi trông họ vui như thế nào. Một số người thỉnh thoảng phá lên cười. Tại sao? Làm việc cả ngày trong một văn phòng chán ngắt như thế, với công việc (ít nhất trong cách nhìn của Kino) dường như hoàn toàn tẻ nhạt, tại sao họ có thể làm vậy mà vẫn cảm thấy vui như thế? Phải chăng có một bí mật ẩn khuất ở đó mà anh không thể hiểu?

Đã đến lúc anh lại phải đi. Đừng ở nơi đâu lâu, Kamita đã bảo anh. Nhưng, không rõ vì sao Kino không rời được khách sạn nhỏ và chật chội này ở Kumamoto. Anh không nghĩ nổi anh muốn đi đâu. Thế giới là một đại dương rộng lớn không điểm mốc, còn Kino là một chiếc thuyền nhỏ đã mất biểu đồ và mỏ neo. Khi anh trải bản đồ của Kyushu ra, tự hỏi sẽ đi đâu, anh cảm thấy buồn nôn, như thể bị say sóng. Anh nằm xuống giường và đọc một cuốn sách, thỉnh thoảng nhìn lên để ngắm những người trong văn phòng bên kia đường.

Ngày hôm ấy thứ Hai, nên anh mua một tấm bưu thiếp trong cửa hàng quà lưu niệm của khách sạn có hình Lâu đài Kumamoto, viết tên và địa chỉ của dì anh, và dán một con tem lên. Anh cầm tấm bưu thiếp một lúc, lơ đãng nhìn tòa lâu đài. Một bức ảnh điển hình thông thường trên bưu thiếp: lâu đài cao vút sừng sững trên nền trời xanh và những cụm mây trắng. Dù nhìn bức ảnh lâu bao nhiêu đi nữa, Kino cũng không thể tìm ra điểm nối giữa anh và tòa lâu đài ấy. Rồi, trong một phút bốc đồng, anh lật tấm bưu thiếp và viết một thông điệp cho dì anh:

Dì có khỏe không? Lưng của dì dạo này ra sao? Dì thấy đó, cháu vẫn đi lòng vòng một mình. Đôi khi cháu cảm thấy cháu gần như trong suốt. Như thể nội tạng của cháu thấu rõ giống một con mực tươi vừa mới bắt lên. Còn ngoài ra thì cháu OK. Cháu mong có dịp đến thăm dì. Kino

Kino không chắc điều gì thúc đẩy anh viết. Kamita đã nghiêm cấm điều ấy. Nhưng Kino không đừng được. Mình phải tìm cách trở về hiện thực, anh nghĩ, nếu không mình sẽ không còn là chính mình nữa. Mình sẽ trở thành một người đàn ông không hiện hữu. Và, trước khi anh có thể đổi ý, anh vội vã ra một hộp thư gần khách sạn và luồn tấm bưu thiếp vào trong.

Khi anh tỉnh dậy, đồng hồ cạnh giường chỉ 2 giờ 15. Ai đó đang gõ cửa phòng anh. Không phải là tiếng gõ lớn nhưng chắc gọn, như tiếng nện đinh của một người thợ mộc lành nghề. Âm thanh ấy kéo Kino ra khỏi một giấc ngủ say cho đến khi nhận thức của anh sáng suốt hoàn toàn, thậm chí sáng suốt đến tàn nhẫn.

Kino biết tiếng gõ cửa có nghĩa gì. Và anh biết rằng anh lẽ ra phải ra khỏi giường và mở cửa. Thứ gì đang gõ cửa không đủ sức để mở cửa từ bên ngoài. Cửa phải được mở ra bởi chính tay Kino.

Anh chợt nhận ra chuyến viếng thăm này chính là điều anh mong mỏi, nhưng đồng thời cũng là điều anh e sợ nhất. Đây là sự mập mờ: bám víu vào một khoảng trống giữa hai thái cực. "Anh đã đau lòng một chút, phải không?" vợ anh đã hỏi. "Anh cũng là người thôi. Anh đã đau lòng," anh đã trả lời. Nhưng điều đó không đúng. Ít nhất một nửa là dối trá. Mình đã không đau lòng bao nhiêu khi lẽ ra mình phải đau lòng, Kino thừa nhận với chính mình. Khi mình lẽ ra phải thực đau lòng, mình đã đè nén nỗi đau ấy. Mình không muốn đối mặt với nó, nên mình đã tránh đi. Đó là lý do tại sao giờ đây trái tim mình trống rỗng đến thế. Những con rắn đã nắm lấy chỗ trống ấy và đang tìm cách che giấu những trái tim đập lạnh lùng của chúng ở đó.

"Đây là một nơi thoải mái, không chỉ với tôi mà với mọi người," Kamita đã nói thế. Cuối cùng Kino đã hiểu ý anh.

Kino kéo chăn lên, nhắm mắt lại, và đưa tay bịt tai. Mình sẽ không nhìn, không nghe, anh tự nhủ. Nhưng anh không thể át đi âm thanh ấy. Cho dù anh chạy đến chân trời góc biển và nhét đất sét đầy tai, anh còn sống thì những tiếng gõ ấy sẽ không ngừng theo dấu anh. Nó không phải là tiếng gõ trên cánh cửa trong một khách sạn bình dân. Nó là tiếng gõ trên cánh cửa trái tim anh. Một người không thể thoát khỏi âm thanh ấy.

Không rõ bao lâu sau, anh nhận ra tiếng gõ đã dừng lại. Căn phòng lặng ngắt như mặt khuất của vầng trăng. Tuy thế, Kino vẫn nằm dưới lớp chăn. Anh phải cảnh giác. Sinh vật bên ngoài cửa phòng anh sẽ không từ bỏ dễ dàng thế. Nó không cần vội vã. Trời không trăng. Chỉ có những chòm sao héo úa le lói rải rác trên bầu trời. Thế giới vẫn thuộc về những sinh vật khác thêm một lúc nữa. Họ có nhiều phương cách khác nhau. Họ có thể đạt được những gì họ muốn bằng mọi cách. Cội rễ của bóng tối có thể lây lan khắp mọi nơi dưới mặt đất. Kiên nhẫn, dần dà tìm kiếm những yếu điểm, chúng có thể phá vỡ tảng đá vững chắc nhất.

Cuối cùng, như Kino đoán trước, tiếng gõ lại bắt đầu. Nhưng lần này tiếng gõ đến từ một hướng khác. Gần hơn nhiều so với trước đây. Người gõ ở ngay bên ngoài cửa sổ cạnh giường anh. Bám vào bức tường thẳng đứng của tòa nhà, tám tầng cao, gõ lách cách trên mặt kính hoen nước mưa.

Tiếng gõ cùng nhịp cũ. Hai tiếng. rồi lại hai tiếng. Cứ thế không ngừng. Như tiếng trái tim đập cùng cảm xúc.

Màn cửa không đóng. Trước khi anh ngủ thiếp đi, anh đã ngắm những giọt mưa tạo hình trên mặt kính. Kino có thể tưởng tượng điều giờ đây anh sẽ thấy, nếu anh thò đầu ra ngoài chăn. Không – anh không thể tưởng tượng. Anh phải dập tắt khả năng tưởng tượng. Mình không nên nhìn vào đó, anh tự nhủ. Dù nó trống rỗng thế nào đi nữa, nó vẫn là trái tim mình. Vẫn còn chút hơi ấm con người trong đó. Ký ức, như rong biển quấn quít chất cao trên bãi biển, lặng lẽ chờ thủy triều lên. Những cảm xúc nếu bị cắt sẽ chảy máu. Mình không thể cứ để cho chúng lang thang đâu đó ngoài tầm hiểu biết của mình.

"Ký ức có thể là hữu ích," Kamita đã nói thế. Kino chợt nghĩ: Kamita liên hệ thế nào đấy với cây liễu già trước nhà của anh. Anh không hoàn toàn hiểu lý lẽ của việc này, nhưng khi ý tưởng ấy đến với anh, mọi việc trở nên rành mạch. Kino hình dung những nhánh cây phủ xanh lá trĩu nặng xuống gần mặt đất. Vào mùa hè, chúng mang bóng mát cho khoảng sân. Vào những ngày mưa, những giọt vàng lấp lánh trên những cành mềm của chúng. Vào những ngày gió, chúng đong đưa như trái tim trăn trở, và những con chim nhỏ bay qua, ríu rít với nhau, đáp xuống gọn gàng trên những cành mảnh dẻ, mềm mại rồi lại cất cánh bay lên.

Dưới chăn, Kino cuộn tròn như một con sâu, nhắm mắt thật chặt, và nghĩ đến cây liễu. Anh lần lượt hình dung những sắc thái của nó – màu sắc, hình dáng và chuyển động. Và anh vái van cho bình minh tới. Anh chỉ có thể kiên nhẫn chờ đợi như thế này, cho đến khi ngoài kia trời sáng và những con chim thức dậy, bắt đầu một ngày của chúng. Anh chỉ có thể tin tưởng vào những con chim, vào tất cả các loài chim có cánh và mỏ. Cho đến lúc đó, anh không thể để lòng mình trống trải. Khoảng trống ấy, khoảng chân không nó tạo ra, sẽ thu hút họ vào.

Khi nghĩ đến cây liễu không đủ, Kino nghĩ đến con mèo xám mảnh mai, và ý thích ăn rong biển nướng của nó. Anh nhớ Kamita ở quầy, đắm trong một cuốn sách, những vận động viên chạy trẻ tập luyện gian khổ nhiều lượt trên đường chạy, khúc độc tấu rất hay của Ben Webster trong "Tình yêu của tôi." (10) Anh nhớ vợ mình trong chiếc áo đầm mới màu xanh, mái tóc cắt ngắn. Anh hy vọng cô đang sống khỏe mạnh, hạnh phúc trong ngôi nhà mới của mình. Anh hy vọng cô không có vết thương nào trên người. Cô ấy đã xin lỗi tận mặt mình, và mình đã chấp nhận, anh nghĩ. Mình cần phải học cách không những quên đi mà còn tha thứ nữa.

Nhưng chuyển động của thời gian dường như không được định đúng cách. Sức nặng đẫm máu của ham muốn và mỏ neo han rỉ của hối tiếc đã chặn dòng chảy bình thường của nó. Cơn mưa không dứt, hai kim đồng hồ bối rối, những con chim vẫn còn ngủ say, một nhân viên bưu điện vô danh lặng lẽ phân loại những tấm bưu thiếp, bộ ngực xinh đẹp của vợ anh bật nảy trong không gian, một cái gì đó gõ dai dẳng trên cửa sổ. Tiếng gõ đều đều, như dẫn dụ anh vào sâu hơn một mê cung khêu gợi. Lách cách, lách cách, rồi lại lách cách. "Đừng nhìn đi chỗ khác, nhìn thẳng vào nó," ai đó thì thầm vào tai anh. "Trái tim của anh trông như thế đấy."

Những cành liễu đong đưa trong gió đầu hè. Trong một căn phòng nhỏ tối, đâu đó trong Kino, một bàn tay ấm áp với đến bên anh. Mắt nhắm, anh cảm thấy bàn tay ấy trên tay mình, mềm mại và đầy đặn. Anh đã quên mất điều này, đã xa nó quá lâu. Phải, mình đau lòng. Rất, rất đau lòng. Anh tự nhủ như thế. Và anh khóc.

Mưa vẫn cứ rơi, đẫm ướt thế gian trong một cơn giá rét.

___________________________________

(1) Yakuza: Xã hội Đen Nhật Bản

(2) Yen: tiền Nhật Bản

(3) Joshua Fit the Battle of Jericho: nhạc phúc âm của dân nô lệ da đen Mỹ

(4) Môn đô vật Nhật Bản

(5) Sherry: rượu làm bằng nho trắng, xuất xứ từ Tây Ban Nha

(6) Brandy: rượu mạnh làm bằng nho hoặc trái cây lên men khác, tương tự như cognac

(7) Georgia On My Mind: nhạc của Hoagy Carmichael, lời của Stuart Gorrell

(8) Moonglow: nhạc của Will Hudson và Irving Mills, lời của Eddie DeLange

(9) I Can’t Get Started: nhạc của Vernon Duke, lời của Ira Gershwin

(10) NHK (Nippon Hōsō Kyōkai – 日本放送協会 ): đài truyền hình lớn nhất của Nhật Bản

(11) My Romance: nhạc của Richard Rodgers, lời của Lorenz Hart

bài đã đăng của Haruki Murakami


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch