Trang chính » Dịch Thuật, Phỏng vấn, Sang Việt ngữ, Văn Chương Phùng Nguyễn Email bài này

Nhà thơ Wislawa Szymborska: Kiến Tạo Một Nền Thi Ca Phổ Quát Giữa Những Rối Loạn Chính Trị


♦ Chuyển ngữ:
2 bình luận ♦ 3.10.2016

*nguồn: Tạp chí Văn Học Nghệ Thuật Liên Mạng (VHNT)  #240 – Oct. 22, 1996, cung cấp bởi nhà văn Nguyễn Phước Nguyên. BBT Da Màu cập nhật và nhuận sắc Oct. 03, 2016.

(Trước năm 2000, Dean E. Murphy là trưởng văn phòng của tờ LA Times ở Warsaw, Ba Lan. Cuộc đối thoại của ông với Wislawa Szymborska mang tựa “Wislawa Szymborska: Creating Poetry Out of Chaos,” xuất hiện trên báo LA Times ngày 13 tháng 10 năm 1996, được thực hiện bằng tiếng Ba Lan và chuyển dịch qua Anh ngữ bởi Ela Kasprzycka.)

                            wislawa szymborska -poet - Nobel 1996

Nhà thơ Wislawa Szymborska (1980)
ảnh Wojciech Plewiński / Forum

Zakopane, Ba Lan

Ba tuần trước đó, nhà thơ Wislawa Szymborska rời căn apartment với hai phòng khiêm nhường của bà ở vùng phía Nam thành phố Krakow để xa lánh sự ồn ào hỗn độn của việc sửa chữa nhà cửa đang diễn ra ở khu chung cư. Bà âm thầm tìm đến khu nghỉ mát ưa thích của các nhà văn nhà thơ Ba Lan trong vùng núi non thanh tịnh Zapokane, chiếm ngụ một căn phòng nhỏ — không có cả phòng tắm hay điện thoại — ở tầng hai của khu hội quán dành cho các nhà sáng tác văn học.

Bà lão hồi hưu Szymborska với mái tóc bạc búi thành lọn vốn yêu mến sự cô độc của mình và những ngày tháng trôi lặng lẽ, đang làm dở bài thơ mới nhất. Mọi sự có vẻ tiến triển như dự định, bà nói, cho đến ngày 3 tháng 10 năm 96, khi “thế giới bỗng như đổ ập xuống” trên người bà!

Hôm đó chính là ngày Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển ở Stockhom công bố rằng nhà thơ ít được biết đến Szymborska đã đoạt giải Nobel Văn Chương 1996.

Giải thưởng đã là một ngạc nhiên không những cho Szymborska mà còn cho cả hầu hết mọi người ở Ba Lan, không phải vì bà được xem như là không xứng đáng nhưng chính vì thơ của bà mang tính phổ quát hơn là (bị) chỉ đạo trong những chủ đề chính trị hầu đã trở thành một đặc tính của nền thi ca Ðông Âu kể từ Ðệ Nhị Thế Chiến.

Không giống như nhà thơ Ba Lan đoạt giải Nobel Văn chương mới đây nhất — Czeslaw Milosz vào năm 1980 (là năm xảy ra cuộc khởi nghĩa của công nhân Ba Lan ở xưởng đóng tàu Gdansk), Szymborska không phải là một người phản kháng dưới thời Cộng Sản; và ngay cả thời điểm của vinh dự này (giải Nobel) cũng chẳng trùng hợp với một biến cố quan yếu nào trong lịch sử của Ba Lan. Và cũng không giống như thi sĩ Zbigniew Herbert, người được dư luận cho rằng có nhiều triển vọng nhất trong cuộc chạy đua tranh giải văn chương năm nay, thơ của Szymborska được ngưỡng mộ nhiều nhất do “văn phong trau chuốt, đẽo gọt tinh tế” của bà, như Hàn Lâm Viện Thụy Ðiển đã nêu ra, chứ không phải vì những ẩn dụ chính trị nặng nề, tẻ ngắt.

Không hẳn là Szymborska, năm nay 73 tuổi, đã hoàn toàn tránh khỏi móng vuốt chính trị trong suốt 50 năm làm bạn với chữ nghĩa. Trên thực tế, chính trị đã cung cấp một hậu cảnh bất biến cho những tác phẩm của bà ngay từ lúc khởi đầu văn nghiệp. Một phần lớn những bài thơ đầu tiên của Szymborska tôn vinh chủ nghĩa Cộng Sản — thời kỳ u ám mà bà hiện đang chối bỏ — nhưng bà đã dành nhiều thì giờ trong giai đoạn sau đó của văn nghiệp để phát hành những ấn phẩm đã giúp xếp loại bà vào hàng ngũ chống Cộng của những tư tưởng gia cấp tiến. Trong thời kỳ “quân quản” ở những năm đầu của thập kỷ 1980, thơ của bà được ấn hành dưới một tên giả trong mạng xuất bản “chui” và lưu vong của văn học Ba Lan. Nhưng ngay từ khi đoạn tuyệt với chủ nghĩa Stalin, Szymborska đã cương quyết xa rời chiều hướng sáng tác theo khuynh hướng tư tưởng chỉ đạo, thay vào đó, bà dựa vào năng lực quan sát của chính mình để tạo tác các chủ đề.

Là một quả phụ đơn chiếc, Szymborska không xem trọng những cơ hội xuất hiện trước quần chúng, và bà từ chối đọc thơ của mình trước đám đông. Mối liên hệ chính của bà với thế giới bên ngoài là mục “Non-Compulsory Reading,” (“Đọc Không Cưỡng Ép”) – một tiết mục thường xuyên trên báo do bà phụ trách. Tuy vậy, trong khung cảnh thuần khiết của trại sáng tác ở Zapokane, tuần vừa qua bà đã nói chuyện cởi mở và thân tình về sự nghiệp văn chương và gánh nặng của việc danh vọng đến đột ngột.

Sau đây là phần phỏng vấn của Dean Murphy (DM) với Wislawa Szymborska (WS):

DM: Tại sao khái niệm “riêng tư” lại vô cùng quan trọng đối với bà?

WS: Nếu không, tôi sẽ không viết được! Tôi không thể hình dung bất cứ nhà sáng tác nào lại không phấn đấu cho sự bình an và tịch mịch của họ. Bất hạnh thay, thi ca không được sinh ra trong sự ồn ào, trong đám đông hỗn tạp, hay trên xe đố. Phải có bốn bức tường vây, và phải biết chắc là điện thoại sẽ không reo. Sáng tạo là như thế đó!

DM:  Một số bài thơ của bà có tính hướng nội, một số khác thể hiện rõ những tuyên ngôn chính trị. Bà có xem làm thơ là một sứ mạng?

WS:  Tôi không tin là tôi có một sứ mạng nào đó. Ðôi khi tôi có nhu cầu tinh thần để nói về những điều khá đại thể của thế giới, đôi khi về những điều riêng tư. Tôi thường viết cho một cá nhân, mặc dù tôi vẫn muốn có nhiều độc giả cá nhân như vậy. Có vài nhà thơ sáng tác cho đám cử tọa đông đảo trong những đại sảnh, nhờ vậy họ có thể sinh tồn qua cái gì đó có tính tập thể. Tôi thì lại mong mỗi độc giả có được mối quan hệ song phương với từng bài thơ của tôi.

DM: Có phải thơ của bà là một bày tỏ của sự phù phiếm?

WS: Nếu ông cho rằng đó là một hình thức của phô trương, có lẽ đúng vậy. Tôi chưa hề thực sự nghĩ đến điều đó một cách nghiêm túc, nhưng đi kể lể với người không quen về cảm xúc của mình thì có phần nào giống như đem linh hồn mình rao bán. Về mặt khác, điều này mang đến niềm hạnh phúc lớn lao! Có những bất hạnh xảy đến trong cuộc đời tất cả chúng ta. Bất kể mọi sự, khi những điều khủng khiếp như thế xảy ra cho một thi sĩ, ít nhất nhà thơ này có thể mô tả những nỗi bất hạnh đó.  Ở một phương diện nào đó, có nhiều người khác đã bị trừng phạt phải cưu mang nỗi bất hạnh trong câm nín.

DM: Một vài nhà phê bình cho rằng thơ của bà “xa vắng” và “lãnh đạm,” trong khi bà cho rằng chúng “kín đáo” và “riêng tư.” Liệu có thể là cả hai?

WS: Mỗi chúng ta đều có một bản năng rất phong phú và có thể nhìn ngắm sự vật một cách khách quan — từ một khoảng cách — và trong cùng một lúc, cũng có điều chủ quan để nói về chúng. Tôi đang cố gắng nhìn vào thế giới, và nhìn vào chính tôi, từ những góc độ khác nhau. Tôi nghĩ rằng nhiều nhà thơ sở hữu lưỡng tính này.

DM: Có sự đặc thù Ba Lan trong thơ của bà không? Liệu thơ của bà có còn giống như vậy nếu bà sinh ra ở một nơi khác?

WS: Tôi không biết. Nhưng tôi thực muốn được sống đời sống của nhiều người khác, rồi đem so sánh chúng với nhau!

DM: Bà thích nhất bài thơ nào của mình?

WS: Bài thơ tôi ưa thích là bài mà tôi dự tính viết vào lúc đó. Tôi phải thích bài thơ ấy thì mới chịu ngồi xuống viết chứ! Khi bài thơ góp mặt với đời, in trong một cuốn sách, tôi để mặc nó tự lo liệu lấy mình.

DM: Tại sao bà làm thơ?

WS: Nó xảy đến, vậy thôi. Có lẽ tại bầu không khí trong gia đình tôi. Ðó là một týp gia đình “trí thức.” Chúng tôi đề cập rất nhiều đến sách vở. Chúng tôi đọc nhiều, nhất là thân phụ tôi. Tôi bắt đầu làm thơ khi mới được 5 tuổi. Nếu tôi làm được một bài thơ – thơ con nít — khiến cha tôi thích, ông sẽ móc túi cho tôi tiền. Tôi không nhớ rõ là bao nhiêu, nhưng số tiền rất là lớn đối với tôi hồi đó.

DM: Trong những năm khởi đầu, bà theo trường phái hiện thực xã hội, ca ngợi chủ nghĩa Cộng Sản. Tại sao?

WS: Thật là khó giải thích! Bây giờ người ta không hiểu được bối cảnh thời đó. Tôi đã thực sự muốn cứu rỗi nhân loại, nhưng tôi đã chọn đường lối tệ hại nhất. Tôi đã làm như vậy vì tình yêu đối với con người. Rồi sau tôi hiểu ra rằng mình không nên yêu Loài Người, mà tốt hơn nên chỉ ưa thích mọi người. Ưa thích chứ không yêu. Tôi không yêu nhân loại, tôi ưa thích mỗi cá nhân. Tôi cố tìm hiểu mọi người, nhưng tôi không thể cho họ sự cứu rỗi.

Ðó là một bài học nặng nề cho tôi. Ðó là lỗi lầm của thời tuổi trẻ. Lỗi lầm xuất phát từ thiện tâm, và bất hạnh thay, rất nhiều nhà thơ cũng đã lầm lẫn như vậy. Sau này họ phải vào tù vì những thay đổi trong tư duy. Tôi may mắn thoát khỏi tù tội bởi vì tôi không có được bản sắc của một nhà hoạt động chính trị.

DM: Phong trào cách mạng Ðoàn Kết đã thay đổi thơ của bà như thế nào?

WS: Nó đã không ảnh hưởng đến sự sáng tác của tôi. Bắt đầu những năm 1954-55 (sau cái chết của Joseph Stalin), tôi đã bắt đầu suy nghĩ khác đi –cùng một cách nghĩ như hiện tạị. Kể từ đó, tôi chưa hề thay đổi cách nhìn của mình đối với thế giới bên ngoài. Sau tất cả những lỗi lầm, sau tất cả những điều tôi đã trải qua trong những năm đầu thập kỷ 1950, tư tưởng của tôi đã thay đổi hẳn. Ðời sống của tôi như là một công dân Ba Lan đã có những thay đổi quan trọng kể từ phong trào Ðoàn Kết, nhưng như là một nhà thơ thì chưa.

DM: Vài nhà phê bình đã ghi nhận rằng nền độc tài chuyên chính gây hứng khởi cho một nền văn học đồ sộ tại Ðông Âu, trái lại nền dân chủ thì chưa có được khả năng đó. Bà chỉ mới xuất bản có mỗi một cuốn sách kể từ những biến đổi [về cơ chế chính trị] trong năm 1989. Có liên hệ gì với nhận xét trên?

WS: Nhất định là không. Cứ mỗi 6, 7 năm, tôi chỉ xuất bản một tuyển tập. Tôi vẫn luôn luôn làm việc như vậy. Và tôi vẫn viết về những điều khác nhau — cùng một cung cách tôi bắt đầu từ những năm 1950.

DM: Bạn hữu của bà bảo rằng bà có óc khôi hài cao độ, vốn thường phản ảnh trong thơ của mình. Óc khôi hài có tầm quan trọng ra sao trong công việc sáng tác?

WS: Không phải là tôi khoe khoang, nhưng hình như tôi có một chút năng khiếu khi nói về tình bằng hữu. Ðương nhiên là tôi đang nói về việc  kết bạn với từng cá nhân. Tôi khó có thể hình dung ra một tình bạn chỉ hoàn toàn dựa trên tri thức — Tôi nghĩ rằng ngay từ lúc khởi đầu, tình bạn có nghĩa là không những chỉ chia sẻ với nhau những ưu tư, mà còn cả những nụ cười.

DM: Bà có phấn đấu để đưa tiếng cười vào trong thơ của mình?

WS: Ðiều đó đến một cách tự nhiên. Tôi không cố tình làm như vậỵ Tuy nhiên, đôi khi tôi cũng có sáng tác những bài thơ chỉ để làm cho người khác cười vui. Thí dụ như tôi viết thư theo thể thơ vè năm câu(limerick) của Ăng lê mà tôi rất ưa thích, những người bạn tôi viết trả lời theo cùng thể thơ này.

DM: Bà đánh giá cao sự khôi hài, nhưng bà cũng sáng tác những bài thơ buồn thảm. Thể loại nào thích hợp với bà hơn?

WS: Ðiều giải hai thể loại này cũng dễ thôi. Ta không thể chỉ có một cảm xúc duy nhất đối với thế giới. Ði vào cuộc phiêu lưu mà tôi gọi là đời sống này, đôi khi ta nghĩ đến như là niềm tuyệt vọng, và đôi khi như một hạnh ngộ. Ðôi khi động cơ cho thi ca là cơn mê hoặc bởi những sự vật chung quanh ta. Lúc còn nhỏ tôi chẳng bị điều gì làm cho ngạc nhiên, vậy mà bây giờ tôi lại ngạc nhiên về hầu như mọi điều. Những vật nhỏ nhặt tôi nhìn thấy, một chiếc lá hay một nụ hoa, làm tôi kêu lên, “Tại sao như thế này! Cái gì vậy?” Hiếu kỳ là một động cơ khác [cho thi ca]. Tôi tò mò về con người, về cảm xúc của họ, những gì họ đã trải qua, ý nghĩa của đời sống này là gì. Những ngạc nhiên thú vị, sự hiếu kỳ và nỗi buồn phiền, tất cả cùng đến với nhau cho chính tôi.

DM: Một vài bài thơ của bà chứa đựng nỗi bi quan về hiện tình thế giới. Bà không có con cái; phải chăng tương lai quá u ám cho con cháu chúng ta?

WS: Thực ra tôi muốn biết đã có bao nhiêu người trên thế giới lúc tôi mới sinh ra, và hiện nay có bao nhiêu người. Tôi nghi rằng nhân số trên toàn thế giới đã gia tăng gấp đôi. Ðây là điều tôi vô cùng quan tâm. Tôi ra đời trong một thành phố nhỏ cạnh Poznan, nơi có chiếc hồ lớn. Người ta đến đó câu cá, và ta có thể bơi thuyền trong hồ. Bây giờ chiếc hồ trở thành nhỏ xíu. Cỏ dại mọc đầy trong đó. Một ngày nào đó hồ sẽ cạn queo! Cứ nghĩ đến trên thế giới có bao nhiêu chiếc hồ cạn queo như vậy — và sẽ luôn luôn có thêm nhiều người — rồi ta sẽ bắt đầu cảm thấy không được thoải mái cho lắm. Có nhiều người bảo: “Cứ sinh đẻ cho nhiều vào, trái đất có thể nuôi hết tất cả.” Tôi không đồng ý với điều này. Chúng ta đã biết có bao nhiêu người chết vì thiếu dinh dưỡng và vì những căn bệnh lẽ ra đã bị tiêu diệt. Tôi  không thể nói về những điều này với óc khôi hài.

DM: Liệu bà có nhấn mạnh những quan tâm nêu trên trong vị trí của người thắng giải Nobel?

WS: Tôi cũng chưa biết. Tôi chưa có thì giờ suy nghĩ kỹ càng về những điều mình muốn nói. Không có cả thì giờ để suy nghĩ. Tôi cần khoảng bốn ngày bình yên và tĩnh mịch tuyệt đối để tập trung tư tưởng.

DM: Có lẽ bà sẽ đưa ra một quan điểm cá nhân? Bà có một triết lý về đời sống hay không?

WS: Không. Tôi nghĩ “nó” đến một cách tự nhiên. Tôi biết, hoặc nhiều hoặc ít, điều nào phải điều nào quấy. Tôi không hề nói những điều tôi làm là đúng, nhưng tôi biết khi tôi làm điều gì sai.  Tôi nhận thức được điều đó. Tôi có một lương tâm.

DM: Bà có óc quan sát kỳ diệu. Ðiều này đến từ đâu?

WS: Tôi không thể hỏi một họa sĩ tại sao lại vẽ như thế này mà không như thế kia. Tôi không thể hỏi một nhạc sĩ tại sao âm nhạc của ông ta bỗng dưng thăng hoa. Tôi biết họ không thể giải thích được.  Tôi cũng vậy. Có thể đó là thiên bẩm. Nhưng, tất nhiên là phải trau dồi một chút.

DM: Bà làm thơ như thế nào? Sử dụng máy điện toán?

WS: Không bao giờ với máy điện toán. Tôi cần một liên hệ trực tiếp giữa bộ óc và bàn tay. Tôi không phải là mẫu người hiện đại. Tôi là một người cổ lỗ — Tôi làm thơ với cây bút mực.

DM: Viện Hàn Lâm Thụy Ðiển ghi nhận rằng số lượng tác phẩm của bà khá khiêm nhường. Tại sao bà không sáng tác nhiều hơn?

WS: Ðôi khi tôi để qua một bên một việc [đang làm dở] và bắt đầu một công việc khác. Ðôi khi tôi suy nghĩ về hai ba bài thơ cùng lúc. Họ bảo tôi có chừng hai trăm bài thơ. Thực ra tôi đã sáng tác nhiều hơn thế. Tôi viết nhiều hơn tôi xuất bản. Ông xem, tôi còn có cả cái thùng rác này nữa. Nếu tôi viết cái gì đó vào buổi tối, tôi xem lại vào ngày hôm sau, có khi bài thơ yên nghỉ … trong thùng rác, có khi nó được may mắn hơn.

DM: Liệu bà có khuyến khích những người tuổi trẻ làm thơ?

WS: Mỗi người phải tự quyết định về quá trình mạo hiểm này. Trong một giai đoạn nhất định nào đó của đời sống, khi bắt đầu lìa xa tuổi ấu thơ, người ta bước vào cái thế giới của hiểm nguy và của trách nhiệm cá nhân, và không làm sao tránh được nó. Thử làm thơ xem sao. Có thể sẽ là những bài thơ chẳng ra gì, và bị vất bỏ. Hoặc có thể nhà thơ sẽ thành công.

bài đã đăng của Dean Murphy


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    DM: Bạn hữu của bà bảo rằng bà có óc khôi hài cao độ, vốn thường phản ảnh trong thơ của mình. Óc khôi hài có tầm quan trọng ra sao trong công việc sáng tác? (DM)

    The Nobel Prize in Literature 1996 was awarded to Wislawa Szymborska “for poetry that with ironic precision allows the historical and biological context to come to light in fragments of human reality”.

    The Nobel Prize in Literature 1996 đã được tặng thưởng cho Wislawa Szymborska ” vì nền thi ca với sự sắc bén mang tính trào phúng cho phép ngữ bản thuộc nhân học phơi bày ra ánh sáng những mảnh đời thường của con người”.

    Tôi có thử dịch mấy bài thơ của WS theo tinh thần nhận xét về thi ca của bà như trên. Những bài thơ có tính trào lộng của WS đọc rất thích. Sự trào lộng không đơn thuần là chọc cười. Nó có một ý hướng rõ ràng. Cái hay của WS là mô tả khôi hài một cách sâu sắc nhưng dễ dàng và phô bày một quan điểm có thể hoàn toàn khác. Nói kiểu WS: ” but it’s not the case with me”, nhưng mà chuyện đó không có tôi.

    True love. Is it really necessary?
    Tact and common sense tell us to pass over it in silence,
    like a scandal in Life’s highest circles.
    Perfectly good children are born without its help.
    It couldn’t populate the planet in a million years,
    it comes along so rarely.

    Let the people who never find true love
    keep saying that there’s no such thing.

    Their faith will make it easier for them to live and die.

    (True Love, Wislawa Szymborska)

    Mối tình thiệt. Nó có cần thiết lắm không?
    Sự khéo xử và lẽ thường nói với ta hảy bỏ qua nó trong im lặng.
    Như chuyện xấu trong những vòng lẩn quẩn của cuộc Đời.
    Những đứa bé hoàn hảo được sinh ra không cần sự trợ giúp của nó.

    Nó đã không thể an cư cho địa cầu trong hàng triệu năm dài,
    nó đến tháp tùng quả thật hiếm hoi.

    Hảy để cho những ai chưa từng tìm thấy mối tình thiệt
    tiếp tục nói rằng chả có cái vụ đó bao giờ.

    Niềm tin sẽ khiến con người sống đời và tạ thế dễ dàng hơn.

  • black raccoon viết:

    The Nobel Prize in Literature 1980 was awarded to Czeslaw Milosz “who with uncompromising clear-sightedness voices man’s exposed condition in a world of severe conflicts”.

    Wislawa Szymborska làm phong phú (và đẹp) những mảnh đời thường bằng câu thơ. Czeslaw Milosz mạnh mẽ hơn, không thoả hiệp, cất lên tiếng nói của con người trong một xả hội mà sự sống bị xung đột nặng nề. Họ không làm gì hơn ngoài chức phận của văn chương muôn thuở: đứng về phía kẻ yếu, kẻ bị áp bức, người dân thường, con người.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch