Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn, Văn Chương Phùng Nguyễn Email bài này

“RICK”

 

green run down bus


1.

Dù đã xế chiều, không khí trong công viên vẫn còn nóng nực. Trên chiếc băng gỗ đặt dưới tàng cây du râm mát, lão già Mễ Ramon ngồi đối diện Quảng, cặp mắt nhỏ hấp háy nhìn ra bãi cỏ xanh rực nắng. Lão là học viên của lớp huấn nghệ miễn phí dành cho người lớn nơi Quảng làm phụ giáo. Lão Ramon đưa tay chộp một miếng khoai tây chiên thái mỏng thồn vào mồm, tợp một hớp bia, hỏi:

“Chú mày hôm nay không phải đi học sao?"

Quảng có cho lão biết là anh đang theo học lớp tối ở trường Đại Học Cộng Đồng của thành phố.

"Không. Hôm nay thứ Sáu, không có lớp. Còn ông?"

"Tao nghỉ… lâu rồi. Tao ăn tiền trợ cấp tàn phế lao động. Bây giờ ‘chúng nó’ bắt tao đi học để kiếm nghề khác."

"Chúng nó?"

"Thì sở Lao Động chớ còn ai nữa! Mẹ nó, mấy bài toàn khó quá tao học không vô!"

Thấy lão cằn nhằn, Quảng vừa buồn cười vừa tội nghiệp cho lão. Ai đời tiếng Anh thì nói như gió mà mấy bài toán cộng trừ nhân chia của tụi con nít lão lại bó tay. Vậy mà sáng hôm nay anh bỏ quên chìa khóa xe trong ổ khóa, chỉ cần cái móc áo bằng sợi thép và hai phút đồng hồ là lão đã mở tung cánh cửa xe khóa kín cho anh. Tan học, Quảng rũ lão ra công viên uống mấy lon bia để đền ơn. Anh hỏi lão:

"Ông qua Mỹ lâu chưa mà nói tiếng Anh rành quá vậy?"

"Qua Mỹ? Tao sanh ở đây mà. Gần năm chục năm rồi. Nửa thế kỷ, chú mầy biết không? Nửa thế kỷ."

"Bộ hồi nhỏ không có học hành gì sao?

"Học gì được mà học. Cha mẹ tao là di dân lậu, suốt ngày đi làm mướn ngoài ruộng, nhốt tao trong mấy cái nhà tiền chế bằng tôn khi thì nóng như lửa, khi thì lạnh như nước đá. Lấy gì đi học?"

Lão Ramon ngưng lại, tợp thêm ngụm bia, tiếp:

"Mười ba tuổi tao theo cha mẹ đi làm mướn ở mấy cái nông trại. Thằng con tao mới đây cũng theo nghề nông, nhưng nó được làm cai. Nó có bằng Trung Học mà!"

Lão có vẻ phấn khởi, ngửa cổ uống cạn lon bia. Quảng cũng nâng lon bia lên nhấp nháp. Chất bia đắng làm anh nhăn mặt. Anh vẫn thích uống bia trong ly đá thật lạnh, cái thói quen anh có từ khi còn ở quê nhà. Buổi chiều xuống êm ả. Bóng những cây du trong công viên ngã dài thêm. Có tiếng trẻ con cười dòn tan ở phía bên kia, nơi có chiếc cầu tuột và mấy cái xích đu sặc sỡ. Quảng đưa mắt nhìn quanh. Những chiếc bàn gỗ đặt rải rác trong công viên lúc nãy còn trống trơn bây giờ đã có người chiếm ngụ. Tại sân bóng rổ, mấy cậu bé quần đùi áo thun đang tranh giành nhau trái banh tròn màu cam. Một lão bụi đời râu ria xồm xoàm đang lục lọi mấy cái thùng rác gần khu nhà vệ sinh.

Lão già Mễ vói tay vào cái túi giấy trên bàn, lôi ra hai lon bia, hỏi Quảng:

"Làm thêm lon nữa nghen chú mầy?"

Quảng nhún vai:

"Làm thì làm. Mà ông uống ít thôi, coi chừng về nhà bị ‘bà xã’ cằn nhằn."

"Ăn nhằm gì. Mụ vợ tao thì biết gì!"

Lão giật chiếc vòng nhôm khui lon bia định ném vào thùng rác cạnh đó, bỗng ngưng lại. Tên "bụi đời" Quảng nhìn thấy lúc nãy ở gần khu nhà vệ sinh đang kéo chiếc xe đẩy bằng nhôm hướng về chiếc thùng rác gần nơi hai người đang ngồi. Mớ tóc dài và đám râu quai nón rậm rạp cộng với bộ mặt lem luốc tạo cho hắn một vẻ ngoài không được lương thiện cho lắm. Hắn mặc một bộ đồ lính màu xanh bẩn thỉu, vai mang sợi dây cột vào chiếc xe đẩy – đánh cắp ở một siêu thị nào đó – trong đó chứa đầy vỏ lon bia, lon nước ngọt, và giấy báo. Lúc đi ngang qua mặt Quảng, hắn chợt dừng lại, cặp mắt xanh mệt mỏi dưới hàng chân mày màu vàng lem luốc nhìn anh chăm chú. Hắn đưa tay trỏ gói thuốc lá trên bàn ngỏ ý xin. Quảng cầm gói "KOOL" hút dở, lấy ra một điếu trao cho hắn cùng với chiếc bật lửa. Tên "bụi đời" đón lấy, châm lửa, rít một hơi dài, rồi thở ra một đám khói xanh. Cặp mắt xanh của hắn vẫn dán vào anh, ánh mặt ngập ngừng, dò hỏi. Quảng hơi xoay người đi, lẫn tránh cái nhìn của hắn, lòng xao xuyến. Đôi mắt xanh cặp, chân mày vàng, ánh mắt ngập ngừng này hình như anh đã gặp ở đâu …

Gã "bụi đời" nghiêng người đặt chiếc bật lửa lên cái bàn gỗ, xoay mình bỏ đi. Mấy cái lon rỗng trong chiếc xe đẩy kêu lắc cắc theo nhịp bước đi của hắn. Được dăm bước, hắn bỗng dừng lại, đưa cặp mắt xanh nhìn Quảng một lần nữa, buông thỏng hai tiếng "Cám ơn" rồi quay mình kéo chiếc xe đẩy đi tiếp. Quảng nghe như có một luồng điện vừa chạy xuyên qua người mình. Gã "bụi đời" vừa ngỏ lời cám ơn anh bằng tiếng Việt, với lối phát âm đặc biệt của đám GI. Quảng thảng thốt kêu lên:

"Rick! Phải Rick đó không?"

Gã "bụi đời" dừng lại, ấp úng vài giây rồi hét lớn:

"Koong?"

Đó là cách Rick phát âm tên của anh mười bốn năm về trước. Chỉ trong vài giây, cả người Quảng đã lọt thỏm trong vòng ôm chặt chẽ của gã "bụi đời", mũi anh tràn ngập mùi khai mốc của bộ đồ hắn đang mặc. Buông anh ra, Rick quay lại lão già Mễ Ramon tự nãy giờ đang ngơ ngác quan sát hai người:

"Đây là ‘Koong.’ Hắn đã cứu mạng tôi lúc tụi này còn ở bên ‘Nam’."

Rick vói tay tóm lấy cái bịch giấy chứa mấy lon bia nguội ngắt, nói tiếp:

"Mình phải uống mừng mới được!"

2.

Quảng hạ thấp đầu lúc chui ra khỏi hầm truyền tin làm bằng những bao cát. Chân anh dẫm ngay vào vũng sình trước cửa hầm. Buông tiếng chửi thề tục tĩu, Quảng đưa chiếc giầy lính lên trét đại mớ sình vào vách hầm. Anh băng qua sân doanh trại lỗ chỗ đá xanh lênh láng nước, hậu quả của mấy cơn mưa rào trước đó. Doanh trại vắng hoe. Không phải cắm trại, đám lính tráng chắc đã chuồn cả về Sài Gòn ăn nhậu, chơi bời hết rồi! Người lính gác lặng lẽ nhìn Quảng bước qua cổng. "Chắc hắn cũng chán ngấy như mình, chiều thứ Bảy mà phải đứng gác," Quảng nghĩ thầm.

Quảng theo đơn vị về đồn trú tại vùng ven đô này đã hơn ba tháng. Cái đồn nhỏ tạm bợ được dựng lên dọc con đường nhựa nhỏ loang lổ ổ gà dành cho bộ chỉ huy tiểu đoàn và một đại đội yểm trợ. Số còn lại đóng rải rác trong khu dân cư lân cận. Phía bên phải của ngôi đồn nhỏ là những ruộng lúa xanh mướt bị ngăn lại bởi những vườn cây ăn trái. Đối diện với đồn là một xóm nhà, tranh lẫn ngói, với những cây cau khẳng khiu và tàng lá rũ rượi trên cao. Phía bên trái là một bãi đất hoang mọc đầy cỏ dại, kế đến là ngôi miếu nhỏ đổ nát. Cạnh ngôi miếu là quán cơm của Hoa. Quảng đang hướng về phía quán cơm.

Mẹ con Hoa mở quán cơm này vài tuần sau khi đơn vị của Quảng đến đồn trú tại đây. Quán là một căn nhà lá nhỏ, vách ngăn bằng những tấm "phên" tre mỏng. Phía sau quán là một vườn chuối lâu ngày không được chăm sóc, đám cỏ hoang mọc lẫn vào những bụi chuối um tùm. Một góc quán được ngăn ra làm nhà bếp, trên vách treo ngổn ngang những nồi niêu soong chảo. Một chiếc kệ gỗ cũ mèm trên bày những thức uống nghèo nàn và mấy thứ lặt vặt khác ngăn phần còn lại với khu thực khách. Phía sau lưng kệ là cái chõng tre ọp ẹp, giang sơn của mẹ con Hoa khi họ không phải tiếp khách. Khu thực khách là bốn năm chiếc bàn gỗ và những chiếc ghế đẩu thô sơ. Mọi thứ, kể cả ngôi quán, trông có vẻ tạm bợ như chính cái nghề nghiệp của mẹ con Hoa. Nguồn thu nhập chính của quán là đám lính tráng đóng quân gần đó, còn dân chúng trong khu lân cận hiếm khi ghé vào.

Quảng cẩn thận nhắc chân qua khỏi thanh tre chặn ngang cửa quán. Anh bị vấp ở đây mấy lần mà vẫn chưa hiểu tại sao thanh tre lại nằm ở một chỗ bất tiện như vậy. Mấy tên trong toán cố vấn Mỹ của tiểu đoàn đang ngồi ở chiếc bàn cạnh cái cửa sổ làm bằng những nan tre đan mắt cáo. Có cả Rick trong đám nhưng không thấy Tuấn "Ròm" thông dịch viên đâu cả. Rick ngồi tựa lưng một cách lười biếng vào tấm vách tre, nâng chai "băm ba" lên chào anh. Quảng cười đáp lễ, bước lại phía Hoa đang lúi húi chiên xào món gì đó trong bếp.

"Cô Hoa hôm nay trúng mối khách sộp nghe! Bác gái đâu rồi?"

"Mẹ em đi chợ trên Sài Gòn, sẵn ghé thăm nhà, mai mới về. Anh Quảng ăn gì em làm." Hoa trả lời, đưa cánh tay lên gạt một mảng tóc nhỏ lòa xòa trên vầng trán đẫm mồ hôi.

"Cho tôi một tô mì gói thịt bò. Với lại một chai băm ba."

Quảng ngồi ở chiếc bàn đối diện với đám cố vấn Mỹ, đưa mắt nhìn ra con lộ nhỏ. Buổi chiều đang xuống dần ngoài kia. Con lộ vắng vẻ, thỉnh thoảng một chiếc xe đạp chạy qua, người trên xe cắm cúi đạp nhanh. Ở trên nóc những mái nhà tranh, làn khói bếp của bữa cơm chiều tỏa ra dịu dàng. Rick rời chỗ ngồi bước đến gần. Hắn dùng đáy chai bia chạm khẽ vào ly bia của anh tỏ ý mời, hỏi nhỏ:

"Koong, anh không về Sài Gòn hôm nay?"

"Không. Tôi phải trực. Hôm nay sao mấy ổng ‘hiền’ quá vậy? Chui vào cái quán xếp này uống bia, mấy cái bar trên Sài Gòn ế hết."

"Vợ Trung Sĩ Nhất Carson lên bàn mổ hôm nay. Xếp muốn cả bọn ở nhà một bữa. Tối nay về cầu nguyện cho bà ấy."

Hèn chi nãy giờ tên Trung Sĩ Nhất da đen Carson ngồi làm thinh, nốc bia tì tì. Rick móc túi thẩy cho Quảng gói thuốc lá hiệu "KOOL" màu xanh lá cây, nâng chai "băm ba" lên tu một hớp, rồi lững thững quay về bàn. Trong nhóm cố vấn, Quảng chỉ quen có Rick và Tuấn, tên Trung Sĩ thông dịch viên gầy gò, nhỏ thó. Thỉnh thoảng Tuấn mang một chai whisky và mấy lon đồ hộp chui vào hầm truyền tin bày trò nhậu nhẹt. Hắn thích tâm sự với Quảng về đàn bà con gái. Theo chỗ Quảng biết, hắn đang để tâm theo đuổi Hoa, cô chủ quán cơm này. Đôi khi Tuấn dắt Rick qua nhậu với bọn anh. Quảng cũng thích tên GI láu lỉnh lành tóc vàng mắt xanh này. Qua Rick, Quảng học được một mớ tiếng Anh, phần lớn là những câu chửi tục. Có lần Rick bảo anh, "Thằng Tuan nói tiếng Anh như … shit, phải chi Koong làm thông dịch viên cho bọn này." Quảng cười trả lời, "Cám ơn, nhưng tôi thích mang máy truyền tin hơn."

Hoàng hôn đã xuống bên ngoài. Ngọn đèn dầu Hoa Kỳ được Hoa mang lên lúc nãy tỏa ánh sáng vàng vọt trong ngôi quán tồi tàn. Tô mì và hai chai bia làm Quảng cảm thấy tức bụng. Anh định gọi Hoa tính tiền, nhưng nàng đã bỏ đi đâu mất. Quảng khật khưỡng đứng dậy, băng qua cái bếp đầy mùi dầu mỡ, ra khu vườn chuối. Anh đứng trước một bụi chuối rậm rạp, tò mò nhìn vòi nước nhỏ từ cơ thể anh bắn tung tóe vào thân cây chuối trước mặt. Có vật gì động đậy ở lùm cây gần cái miếu hoang. Quảng ngẩng lên nhìn. Một thể khối màu trắng mờ mờ hiện ra trong cái chập choạng của hoàng hôn, … một chiếc đùi đàn bà. Rồi lại thêm chiếc nữa. Quảng banh mắt ra nhìn trân trối. Hoa đang lúi húi thay quần áo trong đám cây! Trước mặt Quảng là một Hoa rất "thành thị" trong chiếc quần ống loa và chiếc áo ngắn tay phồng cổ hở. Nàng nhét vội bộ đồ bà ba mặc trong quán lúc nãy vào cái giỏ nhựa, nhìn quanh quất, rồi rón rén đi ra phía con lộ nhỏ, mắt không rời ngôi quán nơi có ánh đèn dầu Hoa Kỳ xuyên qua khung cửa mắt cáo. Một chiếc Honda màu đen chờ sẵn dưới gốc cây điệp ở lối vào miếu tự bao giờ. Tiếng nổ đặc biệt của động cơ bốn thì "xoáy xi lanh" vang lên dòn tan. Chỉ trong mấy giây, Hoa và chiếc Honda đã khuất dạng trên con đường dẫn về thành phố.

Quảng nhún vai, kéo quần lên, quay vào quán, nghĩ thầm, "Vậy là chết thằng Tuấn rồi, con nhỏ có bồ." Bỗng dưng anh khựng lại, người lạnh toát. Đám cố vấn Mỹ, "mẹ" đi xa, quán không người coi, điệu bộ lén lút, bộ đồ thời trang, chiếc Honda "xoáy xi lanh." Quảng nhào vào quán, chân đá phải chiếc thau nhôm kêu đánh rầm một tiếng. Đám thực khách Mỹ hoảng hốt đứng cả dậy, chai lọ lỏng chỏng. Trung Sĩ Nhất Carson chộp cây XM18 nòng ngắn lên đạn lắc cắc, miệng hỏi:

"Chuyện gì vậy? Vi Xi hả?"

Quảng không trả lời. Anh không biết nói làm sao cho mấy tên ngu ngốc này hiểu. Lão Trung Sĩ Nhất da đen lại ngồi xuống, miệng lẩm bẩm "Asshole". Nỗi lo sợ làm Quảng gần như nghẹn thở. Anh nuốt nước miếng ừng ực, nhìn quanh quất. Trên nền đất khô ráo phía dưới lò bếp có đặt một cái lon guigoz. Vùng đất chung quanh chiếc lon bị sẫm lại do nước từ trong lon rỉ ra. Hai sợi dây đồng bọc nhựa đen nhỏ xíu chạy ra từ chiếc lon và mất hút dưới đám củi khô ở góc bếp. Quảng đã nhìn thấy loại "đồng hồ ngòi nổ" đầy tính sáng tạo này nhiều lần. Khi mực nước trong lon cạn đến một mức độ nào đó, cây đinh đóng vào mảnh gỗ tròn nhỏ nổi trên mặt nước sẽ hạ xuống theo và chạm vào cây đinh ở đáy lon. Sự tiếp xúc sẽ làm mạch điện được nối lại, và khối chất nổ ở đoạn cuối của những sợi dây đồng sẽ nổ tung.

Quảng quay lại hét lên, "Plastic!" Thật là công hiệu! Viên Đại Úy cố vấn trưởng thét lớn "Get the hell outa here!" Mấy tên Mỹ nhẩy dựng lên, phóng ra cửa. Quảng cũng phóng theo. Có tiếng chân của Rick đuổi theo phía sau. Bỗng có tiếng kêu đau đớn của Rick, rồi tiếng thân người đổ xuống. Quảng quay đầu lại. Rick nằm sóng soài trên mặt đất ẩm ướt, hai tay ôm lấy ống chân phải, miệng rên rỉ. Hắn đã vấp vào cái thanh tre ngu ngốc chặn ngang cửa ra vào. Lúc này đám lính Mỹ đã chạy ra tới con lộ nhỏ. Quảng ngần ngừ một chút, rồi quay lại, lúng túng xốc cơ thể dềnh dàng của Rick lên. Anh choàng tay phải của hắn vào vai mình dìu đi. Rick nhảy lò cò, miệng chửi thề ỏm tỏi. Bỗng dưng cả người hắn đổ ập về phía trước, thân hình to lớn của hắn đè lên người Quảng, đẩy anh ngã sấp mặt xuống vũng sình nhỏ. Điều cuối cùng anh còn nhận thức được là một vùng sáng chói lòa đến từ phía sau. Anh ngất đi trước khi kịp nhìn thấy ngôi quán tồi tàn bùng lên như viên pháo bông, mùi khói khét lẹt, và những mảnh tre trúc bắn ra vung vãi.

Quảng tỉnh dậy trong bệnh viện 3 Dã Chiến Mỹ, ngoại trừ nỗi ê ẩm do sức chấn động của tiếng nổ, cơ thể anh không bị một vết thương nào đáng kể. Tấm thân dềnh dàng của Rick đã như một tấm lá chắn kiên cố che chở cho anh. Về phần Rick, ngoài mảng lưng cháy xém bởi lửa và hơi nóng, một mảnh vụn tre bắn ra từ ngôi quán đã cắm sau vào phần mông bên phải của hắn. Lúc đám cố vấn Mỹ kéo nhau vào thăm hai người tại bệnh viện, Trung Sĩ Nhất Carson bảo Quảng, "Thằng Rick được tụi Charlie gắn cho cái lỗ đít thứ hai!" Quảng và Rick chia tay tại bệnh viện. Họ chỉ gặp lại nhau mười bốn năm sau.

3.

Quảng nhả ga, cho xe chạy chậm lại rồi quẹo trái ở đường Baker. Còn khoảng nửa dặm nữa anh sẽ đến chỗ Rick "tạm trú". Quảng đưa tay phải mân mê chiếc hộp làm bằng bìa cứng đựng tấm bánh pizza còn nóng, lòng phân vân không biết phải mở lời với Rick như thế nào. Ở lần hội ngộ bất ngờ trong công viên, hai người vào tiệm tạp hóa mua một xâu bia rồi kéo nhau về "nhà" của Rick, một chiếc xe buýt phế thải nằm han rỉ trên một bãi đất trống ở khu downtown tồi tàn của thành phố. Ở đó, hai người vui vẻ, hào hứng nhắc lại những địa danh, những tên người, những kỷ niệm nhỏ mười bốn năm về trước. Rick và Quảng cười sảng khoái nhắc tên Trung Sĩ Nhất Jackee Carson và câu bình phẩm "bất hủ" của ông về cái vết thương trên mông Rick. Trong suốt câu chuyện, cả hai đều cố tránh nhắc đến hoàn cảnh hiện tại của Rick – một điều rất khó khăn vì tất cả mọi thứ chung quanh họ đều như muốn nhắc nhở về điều đó. Quảng ra về với những dằn vặt, thắc mắc về cảnh ngộ của bạn mình.

Trong những tuần lễ kế tiếp, Quảng đến tìm Rick khá đều đặn ở khu hoạt động của đám "bụi đời". Cư dân ở đây đã bắt đầu quen thuộc với tên đàn ông Đông phương nhỏ thó với bước đi tập tễnh; đôi khi họ chận anh lại xin một điếu thuốc hay chỉ hờ hững cất tiếng "Hello" với anh. Cuối cùng rồi Quảng cũng kéo được Rick về thăm căn apartment một phòng nhỏ xíu của vợ chồng anh. Mới đầu thì Rick từ chối. "Tôi không muốn làm phiền hai người," hắn nói. Quảng cũng đã nghĩ đến việc này. Vẻ ngoài lôi thôi của Rick có thể tạo sự e ngại, đề phòng cho bất cứ ai mới gặp hắn. Quảng đã kể cho Duyên, vợ anh, nghe về mối quan hệ giữa anh và Rick. "Bây giờ Rick đang ở hoàn cảnh khó khăn, anh cũng không biết làm sao để giúp hắn," Quảng bảo vợ "Anh mời anh ấy về đây, em làm mấy món Việt Nam đãi anh ấy," Duyên nói, giọng thương cảm. Lần đầu tiên gặp Rick, Duyên không dấu được vẻ e dè khi đối diện ông khách Hoa Kỳ cao lớn, râu tóc rối bù, quần áo lôi thôi lếch thếch. Tuy vậy, nàng có vẻ hài lòng khi nhìn thấy ông khách tận tình chiếu cố món "bò tái chanh" và "cà ry gà" độc đáo của mình. Đến lần thứ hai thì Quảng nhận thấy Duyên đã có vẻ tự nhiên hơn. Ít nhất nàng cũng đã cố gắng giải thích cho Rick – bằng cái vốn liếng Anh ngữ nghèo nàn của mình – phương pháp nấu một nồi canh chua cá bông lau.

Quảng và Duyên lấy nhau đã hơn năm năm nhưng chưa có con. Đời sống bất trắc, vô định ở quê nhà và cái tương lai mù mịt của những năm tháng đầu tiên ở nơi đất khách đã khiến hai người trì hoãn việc có thêm miệng ăn trong gia đình. Khi vừa đặt chân lên nước Mỹ, Quảng đã ghi danh cho cả hai vợ chồng theo học ở trường dạy sinh ngữ dành cho người lớn của thành phố. Buổi tối, Quảng đi làm cho một nhà hàng ăn của Mỹ, và Duyên làm cho một nhà hàng ăn Trung Hoa. Cũng nhờ vào số vốn tiếng Anh còm cõi còn sót lại của thời Trung Học và những năm ở lính, gần đây Quảng tìm được một chân phụ giáo, coi sóc bài vở cho đám di dân gốc Mễ ở một cơ sở huấn nghệ của thành phố. Anh cũng sắp chấm dứt niên học đầu tiên ở trường Đại Học Cộng Đồng gần đó. Cuộc tái hội bất ngờ giữa anh và Rick, ngoài nỗi vui mừng gặp lại người bạn cũ, đã làm anh ngỡ ngàng không ít. Thỉnh thoảng anh bắt gặp ở đâu đó, trên TV, báo chí, lớp học, điều gọi là "Hội Chứng Sau Việt Nam," nhưng anh không hiểu rõ lắm. Ít nhất đám GI đã từng tham chiến tại VN như Rick còn có một quê hương, một mái nhà để trở về. Còn anh và đám bạn bè cùng cảnh ngộ mới thật sự mất tất cả, Quảng nghĩ. Có đôi khi anh muốn hỏi Rick về những biến cố đã xảy đến cho hắn kể từ lúc hai người chia tay ở Bệnh Viện 3 Dã Chiến Hoa Kỳ tại Sài Gòn mười bốn năm về trước, nhưng anh đã kiềm chế được. Có những điều khó nói, cho nên có những điều không nên hỏi, Quảng tự nhủ.

Vậy mà cuối cùng rồi Quảng và Rick cũng đặt chân lên cái bờ vực hiểm nghèo của quá khứ ở dọc đường bằng hữu của họ. Mới tuần trước đây Rick và Quảng, mỗi người chiếm ngự một băng ghế trên chiếc xe-buýt-nhà-ở của Rick, vừa nhẩn nha uống bia vừa kể nhau nghe về những kinh nghiệm của họ trong cuộc chiến tranh mà cả hai cùng tham dự và cùng thất bại. Họ nói về những ruộng vườn xanh tươi ở miền Nam với những thân dừa mập mạp, những thân cau khẳng khiu, và những trái bom napalm với khối lửa đỏ lòe và đám khói đen khịt. Họ nói về những thời điểm như tết Mậu Thân, mùa Hè năm 72, về những địa danh như A Shau, A Lưới, Mỹ Lai, Quảng Trị. Họ nói về những thây người đã đổ xuống, những giòng máu đã chảy ra. Máu Việt Nam, máu Hoa Kỳ.

"Những giòng máu của ‘đồng minh’ đã đổ xuống quê hương chúng tôi một cách không cần thiết."

"Không cần thiết?"

Rick hỏi lại, đôi mắt xanh mờ đục nhìn Quảng đầy vẻ nghi hoặc.

"Đúng vậy! Sự hiện diện của đám GI đã làm thay đổi ý nghĩa của cuộc chiến. Bằng cách đổ quân ào ạt vào miền Nam, người Mỹ đã biến chúng tôi – trong con mắt của người dân VN và của thế giới – thành một lũ ‘hợp tác’. Lẽ ra mọi sự đã có thể khác đi, cho chúng tôi và cho cả anh nữa, Rick ạ. Lẽ ra anh đã là thầy giáo, doanh gia, công nhân, hay gì gì đó. Nhưng chắc chắn không phải là thằng bum sống nhờ vào mấy cái lon rỗng trong thùng rác!"

Có tiếng Rick hét lên giận dữ:

"Nếu anh nghĩ vậy thì tại sao còn đến đây? Tại sao anh không thu dọn đống cứt vàng khè của anh và cút khỏi chốn này?"

Hắn chấm dứt câu nói cay độc của mình bằng cách ném mạnh lon bia uống dở vào vách chiếc xe buýt. Mọi vật trong lòng chiếc xe buýt tồi tàn bỗng mang một vẻ trì trệ, xấu xí ở mức cực điểm, từ lon bia móp méo trên sàn xe đang vung vãi đám bọt trắng xóa với tiếng kêu phì phì, Rick với mớ râu tóc rối bù đang trân trối nhìn lon bia, cho đến Quảng ngồi bất động trên chiếc băng ghế bẩn thỉu như một con hà mã thô kệch với trái tim uất hận đang rỉ ra những giòng máu tẩm độc hôi thối. Cuối cùng Quảng lặng lẽ đứng dậy, khập khiễng bước ra khỏi chiếc xe buýt. Trên quãng đường ngắn ra bãi đậu xe, lòng Quảng chất ngất muộn phiền và ân hận. Con đường về nhà anh đêm hôm đó bỗng dài ra và đầy bất trắc.

Quảng bước xuống xe, vói tay nhặt cái hộp giấy đựng tấm bánh pizza cặp và nách rồi khóa cửa xe. Khu này không "tử tế" gì mấy, cẩn thận vẫn hơn. Anh ngẩng đầu nhìn về hướng chiếc xe buýt cũ kỹ màu vàng nằm cách đó khoảng một trăm mét. Anh đã có thể đậu xe gần chỗ Rick ở, nhưng anh cố tình đậu xa một chút. Tim anh bỗng như hụt đi một nhịp khi nghĩ đến những điều ngu xuẩn, độc ác mình đã nói với Rick lần trước. Nỗi đau đớn, phiền muộn gây ra bởi những mất mát, những nhục nhằn của cái biến cố mười mấy năm trước đã như con rắn độc nằm mai phục trong trái tim bệnh hoạn của anh chờ ngày phun nọc. Và nọc độc đã chạm vào người bạn bất hạnh của anh, người có lẽ cũng đã đau khổ muộn phiền không kém gì anh.

Rick ngồi trên sàn xe, hai chân đặt trên bậc thang lên xuống ở cửa xe, hút thuốc. Đôi chân Quảng hơi khựng lại một chút rồi tiếp tục tiến về phía trước. Còn cách chiếc xe buýt chừng mười mét, anh dừng lại. Rick ngẩng đầu lên nhìn anh, rồi lại cúi xuống, điếu thuốc trên môi hắn rực lên trong hơi kéo mạnh. Quảng vẫn đứng tại chỗ, tay cầm hộp bánh pizza đưa thẳng về phía trước, vẻ mời mọc. Rick lại ngẩng lên nhìn. Hắn chậm chạp đưa một tay ra sau lưng sờ soạng. Lúc hắn đưa tay ra, Quảng thấy một xâu bia với những cái vỏ nhôm in màu đỏ trắng lấp lánh dưới ánh nắng chiều. Quảng nhăn mặt nghĩ đến mùi vị đắng nghét của chất bia không còn hơi lạnh. "Không biết gần đây có chỗ nào bán nước đá hay không?" Anh tự hỏi.

Tháng tám 95

bài đã đăng của Phùng Nguyễn


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)