Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn, Văn Chương Phùng Nguyễn Email bài này

Ruộng Gió

GE turbines - Tehachapi wind farm
“Ruộng Gió” Tehachapi, California

 

Lúc Điền đến nơi, trời vừa mới bừng sáng. Cánh cửa cao nghệu màu vàng nhạt làm bằng tôn uốn của cái hangar vẫn còn đóng kín. Anh đưa tay nhìn đồng hồ. Sáu giờ ba mươi lăm. “Lẽ ra David phải có mặt ở đây rồi,” Điền nghĩ. Anh mở cửa xe bước xuống, nhìn quanh quất. Phi trường tỉnh lẻ vào buổi sáng sớm cuối Đông trông thật hiu quạnh. Phía bên phải, một dãy máy bay tư nhân đậu san sát, lưng cánh đóng đầy sương giá. Hai phi đạo, một lớn một nhỏ, nằm im lìm như hai con rắn xám mai phục trong vuông cỏ úa vàng, chờ đợi những chuyến bay đầu tiên trong ngày. Vượt lên trên trạm hành khách là đài kiểm soát không lưu màu nâu đậm với ngọn đèn đỏ trên nóc chớp tắt một cách uể oải.

Cánh cửa hangar bỗng đi động, bánh xe kim khí lăn trên khe trượt phát ra những tiếng ken két. Một anh chàng người Mỹ trạc ba mươi ngoài, cao lớn, tóc nâu, từ trong hangar bước ra. Hắn tiến lại phía Điền, đưa tay ra. “Chào ông buổi sáng. Tôi là David, tôi sẽ đi với ông hôm nay,” hắn cất tiếng. “Chào anh, David. Gọi tôi Denny.” Điền bắt tay hắn, trả lời. David quay lại, mở rộng cánh cửa cao lớn rồi ra dấu cho anh đem xe vào. Điền soát lại mớ giấy tờ bừa bộn trong chiếc cặp da, khóa cửa xe rồi hấp tấp bước ra cửa. David đang lúi húi kéo chiếc máy bay nhỏ một động cơ ra khỏi hangar. “Có cần tôi phụ một tay không?” Điền hỏi. “Không cần đâu,” David trả lời.

Lúc này chiếc máy bay nhỏ năm chỗ ngồi đã vượt lên khỏi tầng mây thấp. Ánh nắng sớm trải lên biển mây bát ngát, phản chiếu những tia ngũ sắc vào chân trời xa phía trước. Gỡ chiếc ống liên hợp ra khỏi tai, David quay sang phía Điền. “Còn khoảng một tiếng đồng hồ nữa mình sẽ đến Las Vegas,” hắn nói, “cũng may là mình bay thuận chiều gió.” Điền rời mắt khỏi tờ Information Week, nhìn lên. Từ lúc máy bay cất cánh đến giờ, anh và David chưa trao đổi với nhau tiếng nào. Tối hôm qua, anh rời sở làm rất trễ, sáng nay lại phải thức sớm trong cái lạnh giá của mùa Đông. Anh ghét mùa Đông, cũng may mà chỉ còn có vài tuần nữa. Bây giờ, anh ở trên chiếc máy bay mỏng mảnh với tên phi công lạ hoắc. Không để ý đến vẻ uể oải của anh, David nói tiếp sau một lúc im lặng.

“Anh biết không, chính tôi đã tu bổ chiếc máy bay này. Anh có để ý là màu sơn của nó trông hay hơn chiếc kia không?”

Màu sơn? Anh chẳng để ý đến màu sơn của chiếc “210” này, và cả chiếc kia nữa! Trước đây hãng chỉ có một chiếc máy bay nhỏ dùng để đưa đón nhân viên đi công tác trong vòng năm trăm dặm đường bán kính. Gần đây, do nhịp độ đi lại bỗng gia tăng, có lẽ do sự lạm dụng của đám nhân viên quản trị hơn là nhu cầu thực sự của công việc, hãng quyết định tậu thêm một chiếc nữa. Điền nghe nói hãng có mướn thêm một phi công mới tên David để chia sớt công việc với John, người phi công giàu kinh nghiệm vẫn thường đưa đón anh trong những chuyến công tác vội vã. Điền cười tủm tỉm trả lời người phi công trẻ anh mới gặp lần đầu:

“Đúng vậy. Trông nó ‘hay’ hơn thật.”

“Cả bộ máy của nó nữa, lúc mới kéo về không ai nghĩ nó có thể bay được.”

“Kéo về?”

“Hãng mua đấu giá chiếc này mà! Chủ cũ của nó gặp trục trặc khi đáp xuống phi trường John Wayne, cánh quạt và máy bị vỡ, cũng may ông ấy chỉ gẫy có ba cái xương sườn!”

“Anh là phi công mà cũng biết chữa máy à?”

“Tôi học ‘cơ phi’ trước, rồi mới học lái sau này.”

David nói tiếp, vẻ tự hào:

“Tính cho đến hôm nay, tôi đã có khoảng hai mươi giờ bay.”

Hai mươi giờ bay! Máy bay hỏng bán đấu giá! Thợ máy và phi công tập sự! Tự dưng Điền bỗng thấy tiếc mấy chiếc “bùa hộ mạng” đỏ loét có những hàng chữ Tàu nhăng nhít bà nội anh ép buộc anh phải đeo đi học lúc anh còn nhỏ xíu. “Tổ cha mày Bob,” Điền lẩm bẩm chửi thầm, “hết chuyện rồi mày giao sinh mạng tao cho thằng này.” Bob là thượng cấp của anh. Ngày hôm qua hắn gởi cho anh bức điện thư yêu cầu anh đi dự buổi họp với ban quản trị của ICS, một hãng nhỏ chuyên cung cấp cơ phận và nhu liệu cho hệ thống trả tiền bằng thẻ tín dụng ở các trạm xăng. “Tao phải đi Florida. Mày thế tao đi gặp thằng Larry. Báo cáo của mày sẽ đóng phần quyết định trong việc hãng có nên ký giao kèo với ICS hay không. Tom rất quan tâm về chuyện này.” Anh biết Bob… lạnh cẳng. Tom chủ tịch hãng, có vẻ không tin tưởng mấy tên salesmen của ICS cho lắm. Bob kéo anh vào không ngoài mục đích dựa vào kiến thức kỹ thuật của anh để tìm cách đánh tháo những lời hứa hẹn của hắn với ICS.

Điền quay đầu ra phía cửa, nhìn xuống. Biển may đã thưa đi một chút. Ở những khoảng trống hiếm hoi của tầng mây thấp. Điền đã có thể nhìn thấy những chỏm núi phủ đầy tuyết trắng bên dưới. Phía trên, nắng sớm rực rỡ và bầu trời xanh ngắt. Anh nghiêng đầu nhìn qua phía người phi công. David đang lúi húi ghi chép gì đó trong cuốn nhật ký phi hành. Lúc hắn đóng cuốn sổ lại, một mảnh giấy rơi ra, lọt xuống khoảng trống nhỏ hẹp giữa hai hàng ghế. Điền cúi xuống nhặt lên. Đó là bức ảnh của một cô gái trẻ. Tóc đen, mắt đen, lông mày cong vút, dáng dấp Nam Mỹ, Trung Mỹ gì đó.

“Ảnh vợ tôi đấy.” David lên tiếng.

“Cô ấy đẹp lắm.”

David đưa tay nhận lại bức ảnh, ngắm nghía vài giây rồi trả lời với giọng trầm đục:

“Adela hồi đó là một cô gái rất xinh đẹp.”

“Hồi đó?”

“Cô ấy đã mất cách đây hơn ba năm trong một tai nạn máy bay.”

“Ồ, tôi rất tiếc…”

Điền ngập ngừng, không biết phải chấm dứt câu nói như thế nào.

Trung úy Biệt Động Quân David Walker dùng mũi súng vẹt đám cỏ voi cao nghệu tìm lối ra. Trước mặt anh là phi trường quân sự Tocumen ở vùng phụ cận Panama City. Trung đội do anh chỉ huy có nhiệm vụ lập một đầu cầu ở phần phi đạo tiếp giáp với sân bay quốc tế Omar Torrijos để bảo vệ cho chiến hữu của anh tiến chiếm các mục tiêu trọng yếu của cứ điểm này. Cơn mệt mỏi, ngầy ngật trong anh sau gần bẩy tiếng đồng hồ “chèn cá hộp” trên chiếc C-130 cất cánh từ căn Cứ Hunter, Savanah thuộc tiểu bang Georgia đã tan biến trong tiếng động cơ phành phạch của mấy chiếc trực thăng Ô Đen ném bọn anh xuống trận địa.

Trận đánh diễn ra nhanh và gọn, gần đúng như dự tính. Các đơn vị phòng thủ cứ điểm Tocumen trực thuộc PDF, Lực Lượng Quốc Phòng Panama, hoặc bị tiêu diệt, hoặc nhanh chóng đầu hàng. Trung đội của David Walker nhận được lịnh di chuyển về hướng phi trường dân sự Omar Torrijos. Nhiệm vụ: tiến chiếm và kiểm soát khu vực trạm hành khách vãng lai. Trước đó, các đơn vị Biệt Động Quân khác đã xâm nhập và tràn ngập các ổ kháng cự của lực lượng phòng thủ. Có khoảng hai trăm năm mươi thường dân run rẩy, khiếp đảm nằm ngồi la liệt trong trạm vãng lai. Phần đông là hành khách của hãng Eastern Airlines và thân nhân của những người này. Chuyến bay từ Rio De Janeiro, Ba Tây đến muộn chín mươi phút, khoảng nửa tiếng trước khi những chiếc trực thăng Ó Đen đổ những toán xung kích xuống vòng rào phi trường Tocumen.

Trung úy David Walker đưa mắt quan sát toàn khu trong khi thuộc hạ của anh đang xét hỏi và trấn an những thường dân xui xẻo bị kẹt giữa hai lằn đạn. Có tiếng nức nở vọng ra từ một góc xa của trạm hành khách. David ra hiệu cho một người lính gần đó đi theo anh. Cô gái trẻ người Panama đang ôm mặt khóc nức nở bên xác một người đàn ông đứng tuổi. Hai tay đè chặt lên lổ thủng vẫn còn rỉ máu trên lồng ngực của xác chết, một thanh niên khuôn mặt lạnh tanh ngẩng đầu lên nhìn hai người lính ngoại quốc mặt mày vằn vện, võ trang tận răng đang bước đến gần. Đó là lần đầu tiên David gặp gỡ Adela. Người chết là cha của nàng, một nhân vật đối lập của chính quyền Noriega vừa trở về từ Rio De Janeiro trên chuyến bay định mệnh. Một nhóm người lạ mặt đã chặn ông lại, kéo ông vào góc vắng này, và dùng súng hạ sát ông trước sự kinh hoàng của hai người con và sự thờ ơ của những người lính Panama lúc bấy giờ vẫn còn làm chủ khu vực này. Roberto, con trai của người chết, bỗng lên tiếng, “Tôi biết ai giết cha tôi.” Tiếng Anh của Roberto rất sõi, và lạnh tanh.

Có tiếng ồn ào, tiếng chân chạy rầm rập ở những lối vào của trạm hành khách, rồi tiếng quát tháo quen thuộc bằng Anh ngữ. Những người lính đầu tiên của sư đoàn 82 Nhảy Dù vừa đến từ không trung. Bấy giờ là hai giờ sáng ngày 20 tháng mười hai năm tám mươi chín, sáu mươi phút sau khi Chiến Dịch “Just Cause” chính thức bắt đầu. Nhiệm vụ tiên khởi của Chiến Đoàn 75 Biệt Động Quân, chiếm đóng và bảo vệ khu sân bay chiến lược để làm bàn đạp cho các đợt tấn công vào tổng hành dinh quân đội Panama, đã hoàn tất mỹ mãn.

Trong năm kế tiếp, David trở lại Panama hai lần. Sáu tháng sau lần gặp gỡ, David làm lễ thành hôn với Adela tại Panama City. Cũng trong dịp này, anh đựơc Roberto cho biết đã trả được mối thù nhà. “Tên giết cha tôi đã đền tội.” Roberto kéo anh ra nói nhỏ, giọng đã bớt âm hưởng lạnh lùng. David không biết được thêm chi tiết nào khác. Adela có vẻ bứt rứt mỗi khi David tò mò hỏi nàng về cuộc “vendetta”. “Chuyện của người Panama anh đừng nên can dự vào,” nàng luôn trả lời như vậy.

Sáu tháng kế tiếp của đôi vợ chồng mới cưới là một chuỗi dài hạnh phúc. Họ đưa nhau đi Las Vega để hưởng tuần trăng mật, quay về thành phố nhỏ Tehachapi ở miền Trung tiểu bang California, nơi gia đình của David có một nông trại nhỏ. Buổi chiều, hai người thường kéo nhau ra khu vườn sau nhà, sóng đôi đứng nhìn lên “Ruộng Gió”, nơi có những cánh quạt kim khí màu trắng xám quay tít. Trở về Front Benning, Georgia, David lại lăn xả ngay vào với công việc huấn luyện đám tân binh của chiến đoàn 75 Biệt Động Quân. Anh dự định xin giải ngũ vào đầu năm tới. Đời sống quân ngũ nay đây mai đó có lẽ không thích hợp với những kẻ yêu nhau đến độ không muốn rời xa nhau dù chỉ một phút.

Nhưng rồi họ cũng xa nhau, mãi mãi. Adela qua đời trong một tai nạn máy bay trên đường về thăm quê hương vào dịp đầu năm Dương lịch 1991. Trung úy David Walker trở lại Panama City lần thứ ba như một tên chiến bại. Một lần nữa, định mệnh tàn khốc đã thắng. David rời quân đội không lâu sau đó với cấp bậc Đại úy. Anh trở về phố núi Tehachapi, với căn nông trại nhỏ, ở đó mỗi chiều anh vẫn thường ra sau vườn ngắm ngọn đồi gió, quay những cánh quạt màu trắng xám quay mãi quay hoài. Trong túi anh lúc nào cũng có một bức ảnh nhỏ bọc nhựa cẩn thận. Thỉnh thoảng anh lại lấy bức ảnh ra ngắm, như vậy đã mấy năm trời….

Điền cũng đã có dịp nhìn thấy Wind Farms, những “ruộng gió” như nguời bản xứ thường gọi – thật ra là những ngọn đồi cao với hàng ngàn cánh quạt gió dùng để phát điện – mỗi khi anh đi ngang qua thị trấn sa mạc Mojave hay Tehachapi. Những cánh quạt kim khí quay tít như chiếc chong chóng máy bay mà David đang lái. Phải chăng điều này có liên quan đến quyết định trở thành phi công của hắn? Hay cái tai nạn hàng không thảm khốc đã cướp đi người vợ yêu dấu? Hay cả hai? Điền đặt tay minh lên vai viên cựu Đại úy Biệt Động Quân, nói nhỏ:

“David, cám ơn anh đã chia sẻ cái kinh nghiệm buồn thảm của anh với tôi. Tôi cũng không muốn nói với anh những lời an ủi sáo mòn. Anh có thừa nghị lực để vượt qua giai đoạn khó khăn trong đời anh, và tôi nghĩ anh đã chứng minh được điều đó.”

Điền cảm thấy xấu hổ. Những điều anh vừa nói cũng chỉ là những sáo ngữ rỗng tuếch. David nhìn anh, vẻ bối rối hơn là cảm động. Hắn nói:

“Lẽ ra tôi không nên để nàng một mình, dù chỉ một giây, một phút.”

Đôi chân mày hắn cau lại, vẻ đau đớn lộ rõ trên khuôn mặt điển trai. Điền lúng túng quay đi, chúi đầu vào tờ tạp chí một cách vờ vĩnh. Anh vẫn có cái cảm giác khó chịu khi phải nhìn sự đau khổ của người khác. Máy bay hạ dần độ cao, lướt trên những tảng mây trắng rồi cuối cùng lọt thỏm vào biển mây dày đặc. Trước mặt và chung quanh Điền hiện giờ chỉ là một tấm màn khói trắng xám. Chiếc máy bay mỏng mảnh vẫn còn ở trong khu vực núi non trùng điệp của rặng Sierra Nevada. Khuôn mặt David lộ vẻ căng thẳng, mắt dán vào cái hộp nhỏ có đề hàng chữ Global Positioning System, hệ thống định vị toàn cầu. “Cần chi tới toàn cầu, chỉ cần cái hộp nhỏ xấu xí này có khả năng báo hiệu cho David cái mỏm núi đầy tuyết nằm đâu đó trước mũi của hắn là tốt lắm rồi,” Điền nghĩ thầm.

Cuối cùng rồi chiếc máy bay cũng ra khỏi biển mây dầy đặc. Las Vegas hiện ra ở phía dưới, thật gần. Những tòa cao ốc đồ sộ, những khách sạn sòng bài nổi tiếng thế giới, nằm phơi mình hai bên con đường huyết mạch của cái thành phố đổ bác này. Chiếc máy bay nghiêng cánh, đánh nửa vòng tròn, rồi hướng thẳng đến cái phi đạo nhỏ loang loáng nước từ lớp tuyết đang tan. Điền cảm thấy có điều gì không ổn. Phi cơ đã vượt quá một phần ba phi đạo mà vẫn chưa chạm đất. Cuối cùng rồi hai bánh sau cũng chạm vào đường băng trơn trợt. Chiếc máy bay nẩy tung lên, lảo đảo, rơi xuống, rồi lại nẩy tung lên. Lúc này máy bay đã vượt quá hai phần ba chiếc phi đạo ngắn mà tốc độ vẫn còn khá cao. Cuối cùng cả ba bánh xe đã chịu bám vào mặt phi đạo ẩm ướt. Chỉ còn khoảng ba mươi mét là đến cái ngã rẽ cuối cùng trước khi phi đạo chấm dứt. David hét lên: “Coi chừng,” rồi quặt tay lái qua phía bên phải. Chiếc máy bay nghiêng hẳn qua một bên, cánh bên trái gần chạm đất. Điền bíu chặt hai tay vào quai nắm cửa, chiếc nịt bụng siết chặt vào hông anh đau thắt. Chiếc máy bay lấy lại quân bình, chạy thêm một quãng, rồi ngừng lại, cánh quạt chong chóng vẫn quay vù vù.

David thở ra một hơi dài, nhìn Điền với vẻ như bối rối, nửa như xin lỗi. Hắn hỏi anh nhẹ nhàng,

“Anh có sao không?”

Cố giữ vẻ bình tĩnh, Điền trả lời.

“Tôi không sao. Ít nhất chúng ta cũng đã an toàn ở trên mặt đất.”

Anh chàng nhân viên hàng không trẻ tuổi từ trên chiếc xe đón khách màu trắng có sơn hàng chữ to tướng Follow Me bước xuống, tiến đến gần hai người.

“Rough day, heh?”

Hắn lên tiếng, miệng nở một nụ cười tinh quái. Bắt gặp ánh mắt nghiêm khắc của Điền, hắn dừng ngay vẻ cười cợt, quay lại mở rộng cánh cửa xe bên hông. Điền quay lại hỏi David:

“Anh có cùng đi với tôi không?”

“Chắc không được rồi!” David nhăn nhó.

Hắn tiếp:

“Tôi phải ở lại để kiểm tra con chim nhỏ này xem nó có bị hư hại gì không. Người của ICS chờ sẵn ở trạm vãng lai, họ sẽ đưa anh đến chỗ hẹn.”

“Vậy mình sẽ gặp lại ở đây vào lúc hai giờ chiều.”

Mười phút sau, Điền đã có mặt trên con đường dẫn ra ngoại ô thành phố Las Vegas. Anh thích thú khám phá ra một Las Vegas mới lạ. Không đèn màu rực rỡ. Không náo nhiệt ồn ào. Không có tiếng leng keng của những đồng mười xu, hai mươi lăm xu rơi trên chậu kim khí ở những dãy máy kéo tay. Chỉ có những căn nhà với mái ngói đỏ thấp thoáng sau dãy cây xanh trồng ven đường. Bên phải, bên trái, và trước mặt anh là rặng Sierra Nevada màu xanh xám bao vây cái thành phố sa mạc nổi tiếng này. Chiếc xe rẽ vào con đường nhỏ mang hàng chữ Industrial Parkway rồi dừng lại trước cửa một tòa nhà màu trắng. Điền liếc nhìn đồng hồ tay. Chín giờ kém năm. “Không tệ lắm. Mình đến sớm những năm phút,” anh nghĩ thầm. Cô thư ký tóc vàng đàng sau chiếc bàn giấy hình chữ U ngước lên nhìn anh tươi cười:

“Ông Gai-ình?”

“Nguyễn.” Điền cải chính.

Cô gái quay lại nói vào cái intercom:

“Ông Andersen, ông Nu-ình đã đến.”

Điền nhìn thấy Larry Andersen, chủ hãng ICS, đang hấp tấp đi ra, miệng cười toe toét.

“Hello, Denny. How’s your flight?”

“Great, Larry. Great!”

Điền trả lời.

Chiếc máy bay nhỏ cất cánh nhẹ nhàng. Chỉ trong vài phút, phi trường Las Vegas đã bị bỏ lại đàng sau. “Con chim nhỏ không bị tổn thất nào đáng kể,” David cho anh biết. Tảng mây dầy đặc buổi sáng bây giờ đã kéo lên cao, phân tán thành những mảng trắng mỏng chói chang dưới bầu trời xanh lơ vùng sa mạc. Những mỏm núi cao của rặng Sierra Nevada phủ đầy tuyết trắng, lấp lánh phản chiếu ánh nắng chiều. David gỡ ống nghe ra khỏi tai, quay lại hỏi anh.

“Công việc ở ICS êm xuôi cả chứ?”

Điền gật đầu thay câu trả lời, nghĩ đến cái Ponytail và chiếc cà vạt diêm dúa của viên trưởng toán thảo chương điện toán của ICS. Anh nói thầm, “Thêm bộ tóc đuôi ngựa của hắn là mình có ngay một hệ thống hoàn hảo.”

David lại móc túi lấy bức ảnh của Adela ra ngắm nghía. Khuôn mặt anh cau lại, ra vẻ suy tư. Điền thấy bất nhẫn, gợi chuyện:

“Này David, tha lỗi cho tôi nếu anh cảm thấy tôi tò mò thái quá. Việc anh trở thành phi công có liên quan gì đến cái tai nạn hàng không thảm khốc đã làm thiệt mạng vợ anh không?”

Một phút im lặng nặng nề sau câu hỏi, rồi David lên tiếng:

“Thật ra thì có. Nhưng cái đó không phải là một tai nạn thông thường. Tôi nghĩ có điều gì mờ ám trong đó.”

“???”

Mùa Giáng Sinh 1990. Cho đến giây phút đó, Adela là một người hoàn toàn hạnh phúc. Buổi dạ tiệc truyền thống của chiến đoàn 75 Biệt Động Quân đã bắt đầu vào lúc bảy giờ tối. Đã lâu lắm rồi Adela chưa từng hưởng những giây phút tưng bừng như vậy. Nàng đã khiêu vũ gần như không ngừng với David và những người bạn lính tráng dễ thương của anh. Con chim nhỏ Trung Mỹ trong chiếc áo dạ hội màu trắng đã là trung tâm chú ý của khách dự tiệc, những tiếng vỗ tay nồng nhiệt tán thưởng nổi lên khi Adela bước những bước nhảy tân kỳ.

Nghiêng mình chào người bạn khiêu vũ, vị sĩ quan chỉ huy của chồng mình, Adela nhìn quanh tìm kiếm David. Trước đó, anh bảo nàng tiếp tục vui chơi, anh muốn ra ngoài một chốc. Hai người đã dự định cáo lui vào lúc nửa đêm. Họ nôn nóng muốn nhìn thấy món quà của người bạn tình dành cho mình. Chiếc đồng hồ mạ đồng sáng loáng dựng ở một góc phòng thong thả buông ra những tiếng chuông trầm ấm. Mười hai giờ đêm. Adela lần ra phía dãy cửa sổ bằng kiếng trong suốt, ở đó nàng có thể nhìn thấy khu hành lang. Nàng nhìn thấy David. Nàng cũng nhìn thấy người đàn bà tóc bạch kim với chiếc áo dạ hội hở hang phô ra cả phần lưng trắng nhễ nhại. Nàng thấy họ đang hôn nhau, say đắm. Ly rượu chát trong tay nàng rơi xuống thảm, rượu đổ tung tóe. Adela bật hét lên như con cọp nhỏ bị thương, quay đầu lại, đâm sầm chạy ra phía cửa lớn. Có tiếng người lao xao phía sau, nhưng nàng đã không còn nghe thấy gì nữa.

“Đó là Nancy, người tình cũ của tôi. Chúng tôi biết nhau từ lúc còn học Trung học.”

“Highschool sweetheart!”

“Vâng. Chúng tôi sống với nhau một thời gian. Sau đó, nàng gặp một người trong giới kinh doanh ở Fort Benning khi theo tôi đến đây.”

Điền gật gù:

“Tôi hiểu.”

Tôi hỏi tiếp:

“Chuyện gì đã xảy ra hôm đó.”

“Tôi uống khá nhiều rượu, và Nancy thì cố tình muốn chứng tỏ với mọi người là tôi còn nghĩ đến với nàng. Tôi sa vào bẫy một cách ngu xuẩn…”

Thế sau đó anh có giải thích cho Adela mọi việc không?’

“Có, nhưng không đi đến đâu. Nàng không cho tôi cơ hội nào hết!”

Adela khóc sướt mướt suốt cuộc hành trình. “Mình sẽ chẳng bao giờ muốn gặp lại anh ấy nữa,” nàng nghĩ. Bị ngập lụt bởi những câu hỏi cuống quít của mẹ nàng lúc vừa đặt chân vào nhà. Adela chỉ nói vắn tắt, “Anh ấy đã có người khác. Đừng trả lời điện thoại của anh ấy.” Nàng lên phòng đóng cửa lại, nằm vùi trên chiếc giường nhỏ. Thỉnh thoảng có tiếng gõ cửa khe khẽ, tiếng người xì xầm, rồi tiếng chân xa dần. Chỉ còn lại Adela và nỗi cô đơn không rời. Cuối cùng, Adela thiếp đi trong giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị, những tiếng nấc nhỏ uất ức thỉnh thoảng vọng lên trong cửa phòng cô tịch.

Buổi chiều ở phi trường Omar Torrijos, Adela biết tại sao mình có mặt ở đây. Nàng đi loang quanh trong trạm vãng lai, cuối cùng dừng lại ở cái góc vắng gần khu nhà vệ sinh. Chính ở nơi này nàng đã gặp David lần đầu. Người lính ngoại quốc súng đạn đầy mình và khuôn mặt vằn vện chất mực hóa trang đã cúi xuống trên thi hài đẫm máu của cha nàng, đã dịu dàng vỗ về nàng bằng thứ tiếng nói đầy âm sắc. Chính ở đây đã bắt đầu một chuyện tình rất nên thơ, một cuộc hôn nhân rất hạnh phúc, như đóa hoa quỳnh đã nở ra trên nấm mộ hoang tàn của chiến tranh. Có tiếng chân người bước đến gần, rồi có ai đó gọi khẽ tên nàng. Nàng quay lại. Juan đứng đó, miệng treo lơ lửng nụ cười buồn thảm. Nàng nghe mình kêu lên thảnh thốt, “Juan! Tại sao lại là Juan!”

Juan có một vị trí đặc biệt trong lòng Adela. Anh đã từng là bạn thân của Roberto, cũng như cha anh đã từng là bạn thân của cha Roberto và Adela. Ai cũng biết Juan đã yêu Adela từ lúc nàng còn là một cô nữ sinh Trung học. Có một dạo hai người đã là đôi tình nhân khắng khít. Cho đến mấy năm gần đây… Mối liên hệ thân thiết giữa hai gia đình bỗng thay đổi một cách đáng ngại kể từ khi cha Juan trở thành một nhân vật trọng yếu và nguy hiểm của chế độ quân phiệt Noriega – ông cầm đầu lực lượng mật vụ của chính phủ. Bất đồng chính kiến ngày càng sâu đậm giữa hai người bạn cho đến một lúc nào đó đã trở nên không còn hóa giải được nữa. Lo ngại cho tính mạng của ông, gia đình Adela dùng mọi thủ đoạn tình cảm để bắt cha nàng đi lánh mặt ở Rio De Janeiro, Ba Tây, cho đến khi “tình hình trở nên sáng sủa hơn.”

Nạn nhân trực tiếp của mối bất hòa giữa hai gia đình tất nhiên phải kể đến Juan và Adela. Họ không còn được phép gặp nhau nữa. Juan bỏ học, trở thành phi công của Không Lực Panama. Roberto trở thành thành viên của nhóm sinh viên chống chế độ, và Adela trở thành một người đau khổ, lúc nào cũng bị giằng xé bởi những tình cảm phức tạp, rối rắm bởi cái quan hệ oái oăm gữa nàng và Juan. Sự sụp đổ của chế độ Noriega không làm cho tình hình khá hơn. Hai người bạn-thân-trở-thành-thù-nghịch đều bị sát hại cách nhau trong vòng vài tháng. Roberto và nhóm bạn của anh đã hạ sát cha của Juan, người mà Roberto quả quyết là đã cho thủ hạ ám sát cha anh tại trạm vãng lai của phi trường Omar Torrijos ngay trước cuộc tấn công của quân đội Mỹ vào thành trì của chế độ Noriega. Adela không biết gì về tung tích của Juan trong một thời gian dài. Khi nàng thành hôn với David, lẫn lộn trong số thiệp mừng sặc sỡ nhận được, có một phong bì màu trắng lẻ loi mà phần người gởi chỉ có vỏn vẹn một chữ “J” quen thuộc. “Chúc em hạnh phúc.” Chỉ có vậy thôi. Vậy mà bây giờ nàng đang đối diện với Juan vào lúc nàng không ngờ nhất.

Chiếc Cessna vòng trở lại không phận phi trường. Trước đó Adela đã nhận lời của Juan đi “tham quan” Panama City trên chiếc máy bay hai chỗ ngồi anh mướn. Hai người có dịp nhìn thấy ngôi nhà của họ từ trên cao. “Mọi việc xảy ra đều vượt quá sự hiểu biết của anh.” Juan buồn rầu nói: “Bỗng dưng chúng ta mất hết mọi thứ chỉ trong một thời gian ngắn ngủi. Tất cả chỉ vì sự đổi thay của thời cuộc và lòng người. Có lúc anh muốn tìm giết Roberto, nhưng rồi thôi. Bởi vì rồi ai sẽ giết anh sẽ trả thù? Em chăng?” “Em không biết, mà em cũng không muốn nhắc đến những sự kiện bi thảm đó nữa,” Adela đau đớn trả lời. Nàng cảm thấy hoang mang, tự hỏi tại sao mình lại nhận lời cùng đi với Juan. Lúc này chiếc máy bay nhỏ đã gần đến phi trường. Adela trông thấy bóng chiếc máy bay lướt trên đám cỏ voi cao quá đầu người ở phía Tây phi trường. Nàng nhớ có lần David kể lại anh đã nhảy xuống đám cỏ này từ chiếc trực thăng “Ó Đen” vào một đêm bi thảm.

Trung úy David Walker hấp tấp bước đến chiếc taxi trống. Sáu tiếng đồng hồ bay từ Fort Benning đến Panama City dài như sáu thế kỷ. Lúc khám phá ra Adela đã bỏ đi, David hoảng hốt gọi cho cấp chỉ huy trực tiếp của anh để xin ông cho phép anh đi tìm nàng. Viên tiểu đoàn trưởng bảo anh, “Anh có ba ngày phép. Qua bên đó, mang nàng về an toàn.” Ông nói tiếp, giọng nghiêm nghị. “Đó là mệnh lệnh.” Nhìn hai gói quà giáng sinh nằm lăn lóc dưới gốc cây thông nhỏ trang hoàng diêm dúa David nghĩ thầm, “Có lẽ mình và Adela sẽ mở quà vào đêm giao thừa tại Panama City.”

Nhìn đám xe chữa lửa, xe cứu thương của phi trường chạy qua hú còi inh ỏi, David hỏi người tài xế, “Có chuyện gì vậy?” “Vừa rồi có một chiếc máy bay nhỏ bị rớt ngoài bãi cỏ voi cạnh phi trường,” người tài xế trả lời bằng thứ tiếng Anh ngọng nghịu. Trên đường ra khỏi phi trường, ông ta tò mò quan sát trong kiếng chiếu hậu ông khách Hoa Kỳ đang săm soi hai gói quà gói ghém cẩn thận bằng loại giấy có in hình những cây thông xanh xinh xắn và những sợi dây đỏ rực rỡ. Lúc đó David không biết là nạn nhân gồm có Adela và một người đàn ông tên Juan. Anh cũng không biết là trước khi chiếc Cessna nổ tung trên mặt đất, đám nhân viên ở đài kiểm soát không lưu ở phi trường Omar Torrijos đã thâu băng được lời kêu cứu thống thiết của Adela. “Trời ơi! Đừng Juan! Anh không có quyền… David! David, cứu em…” Mãi về sau David mới biết được điều này qua lời tường thuật của báo chí địa phương. Còn phần Juan, không ai biết được hắn đã nghĩ gì khi cho chiếc máy bay nhỏ đâm xuống bãi cỏ voi cạnh phi trường với một tốc độ dốc khủng khiếp.

“Nếu không vì chuyện xảy ra ở đêm dạ vũ trước đó, Adela đã không trở thành nạn nhân của vụ tự-sát-giết-người này.”

David chấm dứt câu chuyện với lời than thở. Điền cảm thấy miệng lưỡi mình trở nên thừa thải. Quả thật anh không biết phải nói gì. Hai người im lặng một lúc khá lâu, mắt nhìn chăm chú về phía trước như đang theo dõi một vật gì ở cuối chân mây. Bỗng dưng David phá vỡ sự im lặng ngột ngạt:

“Anh có muốn ghé thăm “ruộng gió” một chút không?”

“Tại sao không? Mình còn thì giờ mà!”

Máy bay nghiêng cánh về phía bên trái, rồi hạ dần cao độ. Những ngọn đồi cao nằm dọc xa lộ 58 hiện rõ dưới mắt hai người. Trên đỉnh đồi mọc lên vô số những cột kim khí màu trắng xám với những cánh quạt cùng màu đang quay đều đặn trong gió chiều.

David đột ngột cất tiếng:

“Quà Giáng Sinh của Adela cho tôi đấy.”

Điền hơi ngỡ ngàng một chút, rồi hiểu ra:

“Nàng tặng anh mô hình của cái “ruộng gió” này hả?”

“Đúng vậy. Để làm chứng cho mối tình của đôi ta, nàng viết trong tấm thiệp.”

David cho máy bay quay về hướng Nam, trở lại phi trình đã định. Hắn đưa con chim nhỏ xuống mặt phi đạo nhẹ nhàng, đúng sách vở như một phi công lành nghề. Không bao lâu, chiếc máy bay đã trở về lại chỗ đậu của mình trong cái hangar. Điền bắt tay David thật chặt, cám ơn hắn về chuyến du hành. David có vẻ không hào hứng cho lắm. Hắn nói:

“Chuyến đi sáng nay thật tệ quá. Tôi đoán những lần sau có vẻ ông thích đi với John hơn.”

Điền nghĩ hắn nói có lý. Lần đáp xuống buổi sáng nay đã cho anh một ấn tượng không hay về kinh nghiệm non nớt của hắn. Anh lúng túng, ậm ừ những tiếng vô nghĩa để trả lời, quay lại chui vào xe lái ra khỏi hangar. Chiếc xe vượt qua chỗ David đang đứng một quãng bỗng dừng lại rồi lùi ngược về cạnh hắn. Điền hạ kiếng xe, nói với David, lúc này đang nhìn anh với vẻ dò hỏi:

“Thứ Năm tuần tới tôi có việc phải đi San Francisco, nếu anh không bận gì thì mình cùng đi. Lúc về mình ghé thăm “ruộng gió” một lần nữa, anh nghĩ sao?”

Khuôn mặt David sáng lên với nụ cười rạng rỡ. Hắn chụm chân lại, đưa tay chào anh theo kiểu nhà binh:

“No problem, sir!”

Điền đưa tay chào trả, nhấn ga cho xe vọt đi. Những viên đá nhỏ trên con đường tráng nhựa cũ mèn dẫn ra khỏi phi trường kêu xôn xao dưới bánh xe lăn nhanh.

Tháng sáu 95

bài đã đăng của Phùng Nguyễn


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch