Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Sinh Ra Từ Trứng- “Đứa Con Ngoại Hôn”/”Người đàn ông mặc bộ đồ nỉ đỏ”/”Ông Hoạ Sĩ”

Đứa con ngoại hôn

Thật ra, tôi chỉ nhìn thấy bà ta từ bức tranh lụa “Chơi ô ăn quan” của Nguyễn Phan Chánh vẽ năm 1931. Khi ấy, bà còn là một cô gái nhỏ, con của bóng tối và được một gia đình địa chủ cưu mang. Nhưng như tôi biết chính xác đó là đứa con ngoại hôn của lão phú hào với một cô gái trong huyền sử. Bà đẹp, trong thời kỳ rực rỡ của nền văn học nghệ thuật lãng mạn những năm trước 1945, cũng là những năm huy hoàng nhất của đời bà, sắc đẹp và sự nền nã Đông phương của bà được ca ngợi bởi hầu hết các nghệ sĩ từng biết đến bà. Cũng vì ảnh hưởng của thời kỳ lãng mạn đó, bà từ chối lời cầu hôn của một ông quan đã có vợ để đi theo một anh họa sĩ nghèo. Còn anh họa sĩ nghèo của bà cũng có một niềm lãng mạn khác, không phải làm cách mạng mà phục vụ cách mạng, vì chàng không có nhu cầu tự thân cho một cuộc nổi loạn nghệ thuật. Tình yêu của họ không vì thế mà mất đẹp, nhưng nghệ thuật của chàng như con chim chỉ mọc có một cánh, đã không bao giờ bay lên như tài năng bẩm sinh của chàng có thể cho phép. Sắc đẹp của nàng, tiếc thay, cũng lụi tàn theo thời gian. Trong tận cùng của nỗi khao khát trường cửu, nàng thất vọng cũng như tất cả những phụ nữ đẹp nhìn thấy tàn phai trong từng phần nhỏ nhoi của cơ thể. Niềm kiêu hãnh và sự vĩ đại của nhan sắc đã không có cơ hội được bộc lộ và xiển dương. Đôi khi nàng tự hỏi, “Có phải mình sinh ra từ trứng?” Câu trả lời hẳn nhiên cũng không kết luận được điều gì, nhưng ít ra nó lý giải phần nào về cái sinh mệnh không ra gì của mình.

Năm 1955, cả bố mẹ nàng đều bị cách mạng giết trong cuộc cải cách ruộng đất. Một lần nữa, cái cảm thức về nguồn gốc sinh ra từ trứng của nàng trở nên sâu đậm hơn, nó nhấn chìm nàng vào sự mông lung nhân thế. Nó cũng tách rời nàng khỏi cái bản thể nối con người với niềm tin về một chốn quay về.

Bố mẹ chết. Nàng trở thành đứa trẻ mồ côi vĩnh viễn. Nhưng sự đơn độc không phải là phán quyết cuối cùng đối với cuộc đời nàng, mà nàng đón nhận được trong ngày tang tóc ấy, cái định mệnh từ xa xưa này: nàng cũng sẽ chỉ sinh ra trứng như huyền thoại về tổ tiên mình.

Tôi hoàn toàn tin rằng người ta có thể được sinh ra từ trứng cũng như đẻ ra trứng. Tôi cảm nhận được tính vô danh của con người trong câu chuyện này, vì thế tất cả các nhân vật đều không tên tuổi và họ thường bị lẫn lộn vào nhau bởi tính vô danh của nó, cũng có thể vì cuộc đời như tôi thấy, vốn chằng chịt vay mượn và lập lại, nhất là trong một giai đoạn lịch sử nào đó, con người cũng thường có những mảnh đời giống nhau như trong một vận mệnh chung, mà có thể họ vô tình hay cố ý tiếp nối và bổ sung cho nhau.

 

Người đàn ông mặc bộ đồ nỉ đỏ

Giờ đây, chỉ còn người đàn ông ngồi một mình trên băng ghế gỗ. Chỉ nhìn được từ phía sau, giữa màu xanh của cây cỏ và bầu trời, cái vật thể màu đỏ bằng nỉ mang dáng đàn ông nổi lên giống như một phiến đá nghịch thường, lặng lẽ. Cái bùi ngùi chảy từ tôi qua ông giữa buổi chiều cô quạnh. Không có ai hay bất cứ con vật nào như chó mèo quanh quẩn ở đấy. Tôi không biết ông ta nhìn gì ở phía trước. Có thể ông ta nhìn mà không nhìn. Mọi thứ đều có trong ông ta, trong bộ đồ nỉ đỏ đó như một nhà ảo thuật. Dù không nghĩ ông ta kiếm sống bằng nghề làm ảo thuật, nhưng tôi lại tin rằng ông ta có thể tạo ra được nhiều điều kỳ diệu như móc trong túi ra một cánh rừng, một đàn chim, hoặc thậm chí một người đàn bà…

Một không gian của hoài niệm dấy lên từ mặt đất những dấu chân mờ mịt giả định ông ta từ đâu đó, đi đến và ngồi xuống. Người họa sĩ đã vẽ ông như một hành trình, mặc dù chẳng có một hành trình nào. Ông ta đã ngồi xuống như một định mệnh, muôn thuở. Ở đó, ông ta hóa thân thành sự im lặng.

Sự im lặng không phải là không thể đối thoại.

Tôi nói từ phía sau lưng ông ta, “Tôi muốn được ngồi như ông và chết”.

Ông ta trả lời, “Xin mời, chẳng có gì ngăn cản ông…” Giọng ông ta như một tiếng chuông khô cứng lạnh lẽo.

Chiếc ghế không có lưng dựa, tôi ngồi xuống phần đầu ghế còn lại và quay người về phía sau, ít ra tôi cũng có thể nhìn thấy khuôn mặt mình để nói chuyện.

Một nỗi xao xuyến tràn ngập lòng tôi và tôi không biết nên mở lời như thế nào với ông ta. Đối thoại là một nhu cầu khẩn thiết nhưng vô ích, tôi tự nhủ. Khi ấy tôi thấy một đàn chim bay qua và những giấc mộng của con người lềnh bềnh cuối tầm mắt. Rồi tôi trở nên xa vời. Và sự xa lạ ấy làm tôi trở nên cùng quẩn, bối rối. Tôi nói mà cũng không nhất thiết để cho người đàn ông kia nghe, “Tôi không cảm thấy mất mát điều gì nhưng tôi quá bùi ngùi. Nếu như tôi có thể làm ảo thuật, tôi muốn móc từ trong túi ra một lọ kem bôi mặt, sau khi bôi xong tôi sẽ biến hình thành bất cứ một cái gì đó mà một ai đó muốn nhìn thấy.”

Người đàn ông nói mà không nhìn tôi, “Ông có khả năng để làm một họa sĩ.”

“Tôi không mong ước điều đó. Tôi chỉ muốn làm một trò chơi.” Tôi nói.

Ông ta hỏi, “Ông đã từng có ít nhất một người đàn bà chứ?”

“Không hẳn. Nhưng mơ tưởng thì nhiều.” Tôi thú nhận.

Người đàn ông nói, “Đàn bà là một trò chơi lớn.”

Tôi hỏi, “Sao ông không tiếp tục?”

“Thực ra, tôi vẫn chơi trò chơi ấy, cho dù người đàn bà đã bỏ đi.”

Tôi nói, “Thế thì bi kịch quá.”

Người đàn ông bảo, “Cái khoảng trống trên bức tranh mà ông thấy không có nghĩa là thiếu vắng nàng. Cũng không phải hoài niệm, nàng vẫn hiện hữu như một lý cớ cho sự tồn tại của tôi cũng như bức tranh.”

Tôi nói, “Xin lỗi không phải vì tò mò, tôi thật sự đau đớn khi không còn nhìn thấy nàng ở đây.”

Người đàn ông hình như mỉm cười, ông ta nói, “Chỉ là một trò chơi trốn tìm thôi.”

Tôi muốn nói như thế thì hơi trẻ con, nhưng tôi lại nói “Ông không buồn chứ?”

Người đàn ông bảo ông không còn biết thế nào là buồn hay vui. “Có lẽ điều này phải hỏi ông họa sĩ.”

 

Ông họa sĩ

Ông kéo cao cổ chiếc áo khoác dày che giấu một phần khuôn mặt. Không biết má ông hóp vì gầy ốm hay do miệng ngậm ống vố, khiến ông có vẻ khắc kỷ một cách rất “triết gia”. Đôi mắt liếc xéo, hai con ngươi lệch hẳn về phía bên phải dưới bờ trán thoáng có nếp nhăn lại giúp ông trông linh hoạt và nghệ sĩ. Khi ông cúi xuống bập một hơi thuốc, tôi không có cảm giác về một cái gì vừa bị mất đi. Không một hơi khói nào tỏa ra. Tuy nhiên, khuôn mặt ông dường như dịu lại.

Ngày nào tôi cũng gặp ông ở quán cà phê này. Tôi biết có những phác thảo đã hiện ra giữa cái ồn ào của một quán nước, nơi mà ai cũng muốn tỏ ra mình lịch lãm. Tôi không hề muốn làm quen hay nói chuyện với ông mặc dù ông không tỏ ra hợm hĩnh hay kiêu bạc như những thứ nghệ sĩ giẻ rách vẫn lăng quăng ở chỗ đông người. Tôi thích nhìn ông như thể ông là một tác phẩm do tôi sáng tạo hơn là chính bản thân ông. Bởi vì như thế tôi có thể suy đoán ông và làm chủ lấy mình. Nhưng sự thâm trầm nơi ông chỉ cho tôi thấy một quá khứ giông bão và có phần hiu hắt.

Tôi không biết giữa ông họa sĩ và người đàn ông mặc bộ đồ nỉ đỏ đã gặp nhau như thế nào, nhưng tôi hoàn toàn tin rằng cái không gian giữa họ phải là một màu vàng đất.

 

Căn phòng tầng áp mái

Tôi thích hai màu nâu đất nung và vàng đất. Tôi cũng thích gọi đó là màu quê nhà. Nồng nàn và buồn bã. Tôi ước ao có thể chìm đắm vào những cô gái mặc áo yếm hoặc cởi trần bên bờ giếng với chum vại màu đất nung và màu vàng đất. Bao giờ lòng tôi cũng đầy xót thương với những gam màu u buồn đó.

Tôi thấy tôi là đất.

Ông họa sĩ lên tiếng, “Nếu như có thể được, tôi cũng muốn mình là đất.”

Người đàn ông mặc bộ đồ nỉ đỏ nói, “Nhưng tại sao ông lại nhuộm đỏ tôi thế này?”

Ông họa sĩ thanh minh, “Đã có lúc tôi sợ. Vì thế tôi vẽ ông màu đỏ để người ta đừng nhầm lẫn về tôi. Nhưng tôi cũng còn một nỗi sợ khác lớn hơn, đó là sự phủ nhận chính mình, vì thế tôi đã đặt ông trong một không gian xám và trống rỗng.”

“Cũng có thể vì thế mà tôi không biết buồn hay vui chăng?” người đàn ông nói.

“Tôi xin lỗi”, ông họa sĩ nói khẽ. “Bù lại, tôi cũng đã tặng ông một người đàn bà” ông họa sĩ nói tiếp.

“Cũng chẳng ra làm sao.” Người đàn ông nói.

“Không phải đấy là một tình yêu sao?” Ông họa sĩ ngạc nhiên.

“Tốt nhất là ông cứ để tôi một mình.” Người đàn ông tỏ ra bực dọc.

“Thế cũng được. Tôi sẽ sửa chữa trong những lần sau.” Ông họa sĩ chấp nhận. Một hiện thực trần trụi, không có ngày mai.

Ông họa sĩ quay sang phía tôi, “Không có phụ nữ áo yếm hay cởi trần cho ông đâu. Cũng không có bờ giếng hay chum vại gì cả.”

Tôi nói, thật ra cái tôi cần là màu đất nung và màu vàng đất. Nhưng ông họa sĩ nói cũng không thể có những gam màu ủ dột đó được. “Tất cả phải tươi sáng, ông hiểu không?”

Tôi hiểu đó là một bi kịch thời đại, không một nghệ sĩ nào thoát khỏi ám ảnh mất lập trường quan điểm, nếu muốn được lộ diện trước công chúng. Tôi để nỗi u buồn của tôi vào những chiếc lu sành mà tôi mua ở làng gốm Nguyệt Lãng. Chẳng ai cấm được màu đất nung nồng nàn và buồn bã trên những cái lu, chậu trong vườn nhà tôi.

Người đàn ông nói, “Tôi muốn đứng lên.”

Ông họa sĩ bảo, “Tùy. Nhưng tốt nhất là đừng đi lại.” Và tôi thấy người đàn ông đứng lên, vặn vẹo trong không gian xám. Bất ngờ, ông ta cất bước. Sau mỗi bước chân ông, cỏ mọc lên, nhưng vẫn là màu xám. Ông họa sĩ hoảng hốt kêu lên, “Chết tôi rồi”. Cỏ màu xám mọc lan đến chân trời.

Và điều không tránh được đã xảy ra.

Tôi nghe thấy tiếng đập cửa. Rồi có người xô vào. Không phải một người. Họ đứng chen chúc trước cửa. Tôi nghe tiếng ồn ào, “Ở đây chứa chấp tội phạm”. Các bức tranh bị niêm phong. Ông họa sĩ bị dẫn đi.

bài đã đăng của Nguyễn Viện


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)