Trang chính » Nhận Định, Tưởng Niệm Dương Nghiễm Mậu Email bài này

Một Lời

 

DNM - Dia Nguc Co That - phong su Hue - Mau Than 1968 VOF

Dương Nghiễm Mậu: phóng viên chiến trường Huế cho đài VOF trong Tết Mậu Thân
(ảnh do Đinh Cường cung cấp)

Ngày lên đường ra đi, nơi phi trường, trước khi lên máy bay, người bạn tiễn chân nét mặt ưu tư cho tôi biết: giặc đã vào Ban Mê Thuột, trận đánh còn ở đó… lòng dạ không yên, những tin tức trên màn ảnh nhỏ, trên mặt báo nơi nước ngoài càng làm cho tôi lo âu hơn. Kontum, Pleiku… những nơi tôi đã từng sống. Lòng cồn cào nghĩ về quê hương, nơi những người thân yêu đang sống. Đoàn người lên đường với khoảng tới trên 200 cây số … tôi lo âu nghĩ, rồi mình có dịp trở về để chết nữa không? Chín ngày đi, đáng lẽ là một chuyến đi đáng ghi nhớ, thì cuối cùng với tôi là những ngày buồn. Ngày trở về, tôi không ngồi yên được, chỉ mong sao đặt chân trở về quê nhà. Lúc phi cơ đáp xuống Tân Sơn Nhất, đặt chân xuống mặt đất tôi chảy nước mắt với bao nôn nao. Ôm lấy con thơ vào lòng, giữ lấy tay vợ, tôi tưởng như mình vừa trải qua một biến động. Tôi thấu hiểu rằng, chẳng bao giờ tôi muốn rời xa quê hương mình, gia đình mình. Nơi đây tôi đã chọn lựa và tôi sẽ chẳng thể đi đâu.

Những bản tin, những trang báo mỗi ngày, mỗi giờ cho tôi thấy những bi thảm và những hào hùng. Hàng trăm ngàn người với đôi bàn tay trắng đã lên đường trong một ý thức chọn lựa. Ở đây, dù xấu xa bẩn thỉu, nhưng nó vẫn còn hơn phải sống dưới chế độ Cộng Sản. Những bước chân đi tới phía đông, băng rừng, vượt núi, cái chết khít khao đã nói lên khẳng định đó. Nhưng vì đâu mà phải sống trong cơ sự này? lỗi vì ai? ai phải chịu trách nhiệm?

Không phải chỉ có Phước Long, Ban Mê Thuột, Pleiku, Kontum mà bây giờ còn cả Quảng Ngãi, Quảng Tín, Trị Thiên, Bình Long… Người anh từ Huế vào, người còn ngẩn ngơ. Người chị bàng hoàng nói tới đoạn đường vượt Hải Vân vào Đà Nẵng… Những chiếc xe như súc vật, những xác nguời nằm như lá khô, pháo kích không ngừng, những bà mẹ, đứa bé bò trên mặt đường và chiếc bình sữa… Trong cồn cào của thời sự, những sự việc làm tôi chóng mặt. Tôi tự hỏi: có phải đã tới lúc mà mình phải cầm lấy mũi nhọn, phải, chỉ có thế trong chọn lựa một khi cơn lốc đến. Tôi không thể có một chọn lựa đầu hàng để sống như trâu chó. Tôi chỉ thương hai tấm con thơ… Có thể một cơ sự như thế sẽ đến không?

2 – Phải làm gì bây giờ? một người hỏi tôi thế, rồi hai người hỏi tôi thế. Bây giờ không phải là để hỏi như thế. Câu hỏi là: từ trước tới nay anh đã làm những gì? Anh có trách nhiệm gì với hiện tại này không?

Với riêng tôi, nhìn lại quá khứ từ 15 năm trở lại đây tôi có thể hài lòng để nghĩ rằng mình đã làm hết, đóng góp hết những gì có thể làm, có thể đóng góp. Lập trường dứt khoát của tôi đã hơn một lần được xác định trên những giòng chữ viết. Ở đó bao hàm một phấn đấu không cùng.

Nhập ngũ, rồi lên đường tới những vùng trận địa, nay nơi này, mai nơi khác kéo dài trong nhiều năm, nhận trách nhiệm.

Tôi đã lên tiếng về những gì tôi thấy, tôi nghe, tôi nghĩ, ở đó là cuộc chiến đấu của những chiến sĩ, là tiếng kêu thất thanh của người dân trong lửa đỏ, là cảnh điêu tàn của quê hương. Hơn ai hết, tôi mong ước một hòa bình trở lại. Bao nhiêu người khác cũng đã làm thế, hoặc hơn thế. Với thực tại này, khi truy nguyên tìm câu trả lời về trách nhiệm, nó không thuộc về tôi nữa. Và hiển nhiên, con đường lựa chọn, tôi tiếp tục. Phải làm gì bây giờ, câu hỏi ấy không còn ý nghĩa với tôi. Và tôi trả câu hỏi lại cho người khác, cho những người khác.

3 – Văn chương có thể làm được gì trong tình thế này? Hãy gạt câu hỏi sang một bên. Hãy tưởng tượng tới một cảnh, người cầm bút ra nơi tuyến đầu, bên kia là giặc với những họng súng, rồi ở đó, người cầm bút lên tiếng: hỡi quân giặc, hãy đầu hàng và bỏ súng xuống… Với tiếng hô thật lớn, liệu giặc kia có đầu hàng, bỏ súng xuống hay cút đi không? Hay nói chưa hết câu, người cầm bút đã bị bắn gục? hoặc bằng một cách khác, những thơ truyện được đưa tới mặt trận… Đặt người cầm bút và văn chương vào một cảnh huống như thế là một sai lầm quá lớn. Đặt vấn đề như thế tức là phủ nhận văn chương và sức mạnh của nó. Bắn gục giặc cướp, bắt giặc đầu hàng, đuổi giặc đi xa, đó việc của những chiến sĩ nơi tuyến đầu. Nó không phải việc của người cầm bút, của văn chương. Mà văn chương thiết lập sức mạnh, cho những chiến sĩ, không phải trong một lúc, trong một giờ. Và như thế câu hỏi được đặt ngược trở lại: trong quá khứ, người cầm bút cũng như văn chương của ta đã làm được gì?

4 – Cha tôi nói: hồi này thầy không ngủ được. Tôi không biết nói sao. Nhìn lại, trên 60 tuổi, bao nhiêu thăng trầm, những bôn trải từ 1945, để rồi năm 1954 ra đi với bao nhiêu ngậm ngùi. Lên đường, cha tôi vẫn nghĩ tới ngày trở lại, một hai năm nữa. Nhưng rồi không phải là một hai năm, hôm nay đã qua hai mươi năm, đứa em ngày lên đường mới 20 ngày hôm nay đã đến tuổi nhập ngũ… Rồi giặc nó vào tận đây sao? Tôi hiểu những gì cha tôi đang nghĩ, cũng như bao nhiêu người khác đã từng lựa chọn và tin tưởng. Ba mươi năm một cuộc chiến chưa ngừng lại và những tan nát còn không ngừng đổ tới… Năm 1954 gần một triệu người đã ra đi, bây giờ lại thêm một triệu người khác lên tiếng bằng chọn lựa. Có những người trong hai mươi năm đã phải phấn đấu để lập lại đời sống của mình không biết bao nhiêu lần. Tôi chưa thấy có một dân tộc nào lại phải sống trong kinh hoàng như thế. Dù phải chịu đựng, nhưng tất cả một đời sống lúc nào cũng là một phấn đấu. Có dân tộc nào bền bỉ và dũng mãnh như thế. Vậy thì tại sao cả khối dân tộc ta phải sống trong nhục nhằn, đau khổ chừng ấy. Bằng một cách nói tiêu cực: vận nước ta như thế sao? Hay nói với bằng chứng của lịch sử: chúng ta phải trả cái nợ máu của cha ông ta?

Có người đến hỏi tôi: có đi ra ngoại quốc không? Tôi đã trả lời dứt khoát: Tôi sống và chết tại nơi này. Người ấy hỏi: anh chấp nhận sống chung với người Cộng Sản? Tôi nói: tôi không phải là một con chó để nay sống với chủ này, mai sống với chủ khác chỉ vì miếng xương chúng liệng ra. Tôi tin tưởng con đường tôi đi. Có một nơi là lẽ phải và ánh sáng. Có một nơi là lẽ trái và bóng tối. Có trắng và đen không thể nhập nhằng được. Nếu tôi có chết chăng nữa, điều ấy tôi không ân hận. Lịch sử đã chứng minh rằng: nhiều khi cái chết là một điều tốt hơn là sống. Chết đi cho người khác sống, cho lẽ phải và sự thực, sống chết như thế cần thiết. Tôi bình tĩnh với quyết tâm đó.

Này những tên bất lương, hãy vơ vét, hãy chạy đi cho mau tiếp tục sống làm đầy tớ cho những tên chủ, và hãy đừng bao giờ ngửng mặt lên, hãy quên đi, đừng bao giờ nhắc đến hai tiếng Việt Nam.

5 – Người phi công nói: chuyến bay đã không còn chỗ, nhưng người mẹ đã cố gắng đẩy đứa con lên, rồi người mẹ đứng lại, một tay đưa lên vẫy. Chiếc trực thăng bay lên và tôi nhìn thấy người mẹ quì xuống như cầu nguyện. Đẩy đứa con lên, tôi không quên được hình ảnh ấy. Có một nơi được gọi là hy vọng và cõi sống. Và một nơi là cõi chết. Có phải người mẹ kia đã muốn gửi đi đứa con trong hy vọng không? Khi trở lại, chúng tôi không còn thấy người mẹ đâu nữa. Dù sao tôi cũng còn hy vọng và cầu nguyện cho đứa trẻ kia gặp lại người mẹ thân yêu…

Sống tự do hay là chết. Điều đó được viết bằng xương và máu. Tôi mong ước mọi người cùng tôi góp lời cầu nguyện: cho chúng ta được sống làm người và thoát qua cơn thử thách này. Tương lai tùy nơi chúng ta với niềm tin đã có.

(THỜI TẬP 23 THÁNG 4-1975)

bài đã đăng của Dương Nghiễm Mậu


16 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Này những tên bất lương, hãy vơ vét, hãy chạy đi cho mau tiếp tục sống làm đầy tớ cho những tên chủ, và hãy đừng bao giờ ngửng mặt lên, hãy quên đi, đừng bao giờ nhắc đến hai tiếng Việt Nam. (DNM)

    Đầy tớ & chủ

    Bài chủ này không phải dành cho mọi người viết lời ai điếu đối một người vừa từ trần là DNM. Tôi chỉ có ý kiến về một văn bản của một văn sĩ. Vả, nếu DNM còn sống, có lẽ tôi sẽ nêu ý kiến dễ hơn nữa.

    Những câu văn trích của DNM nêu trên là những lời kết án và miệt thị. Miệt thị chung chứ không nêu rõ ai, tầng lớp nào thuộc VNCH (dân sự, văn nghệ sĩ, quân đội hay lãnh đạo). Tôi cũng sẽ nêu ý kiến dựa trên thực tế một cách phổ quát.

    Ai ở trong trại tập trung VC hoặc sống ngoài xã hội VN thời điểm 75, 76 hẳn còn nhớ luận điệu cũng y chang cái công thức: Nguỵ quyền tay sai, ông chủ đế quốc, vơ vét tài sản trốn ra nước ngoài ôm chân đế quốc, “thằng” Thiệu đem theo 16 tấn vàng v.v…

    Sự thật về “tư duy” chủ tớ mà DNM nêu ra nó không đơn giản như vậy. Bây giờ thì đã quá rõ. Hoạ chăng chỉ có anh nào lẩn thẩn lắm mới nghĩ rằng những người nhập cư vào Mỹ thì a lê hấp sẽ đương nhiên tiếp tục được “chủ” Mỹ “chiếu cố” nâng đỡ để tiếp tục ăn trên ngồi trốc! Vì sao? Rất đơn giản: vì luật pháp Mỹ không cho phép. Tất cả dường như phải bắt đầu lại cuộc sống mới từ 0. Hết. Chưa kể, cái khối tài sản phi pháp của những đầy tớ, nếu có đáng kể, thì cũng không dễ lưu hành trên đất Mỹ. Chưa kể người chủ mới VN là VC cũng sẽ thừa sức để lấy lại từ tay chính phủ Mỹ.

    Tôi thật sự thắc mắc, tại sao người lính văn nghệ DNM lại còn đủ suy nghĩ mang màu sắc triết lý chính trị tại ngay bon thời điểm “long trời lở đất” lúc đó của miền Nam? Và nhà văn rất quả cảm và tỉnh táo DNM đã làm gì sau 2 năm tù cải tạo VC? Dường như ông vẫn có mấy tác phẩm luận đề chính trị chan chát (như tập Nhan Sắc) xuất bản trước 75 được VC lưu dụng trở lại. Và, dường như sau này ông lại cũng gởi ra (hay được) “nước ngoài” để in một vài tác phẩm khác (?)

  • nguyễn lệ uyên viết:

    Bạn black raccoon,
    Câu bạn dẫn từ bài viết của nhà văn DNM, hãy xin đặt vào văn cảnh của toàn bộ bài viết. Cắt một đoạn như vậy để bảo rằng DNM “kết án, miệt thị” tôi e rằng có ít nhiều suy diễn mang tính chủ quan.

    Sau 2 năm tù cải tạo, ông Nghiễm trở về và làm gì xin bạn hãy đọc lại những bài viết của Ngô Thế Vinh, Cung Tích Biền… trên các trang mạng.

    4 tập: Nhan sắc, Tiếng sáo người em út, Cũng đành,Đôi mắt trên trời đều xb trước 75. Năm 2007, qua giới thiệu nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, 4 tập trên được NXB Văn Nghệ (Sài Gòn)liên kết với nhà phát hành Phương Nam tái bản, phát hành trên toàn quốc, không có vấn đề “lưu dụng” như bạn nghĩ (ngay sau đó Vũ Hạnh đã viêt trên báo SGGP đả kích khá nặng nề, gần như “hằn học” với DNM.

    Vũ Hạnh viết: “Những tác phẩm này giá trị ra sao, đa số bạn đọc sống ở miền Nam trong thời chống Mỹ đều đã biết rõ. Bởi lẽ, những quyển sách này không chỉ là các sản phẩm văn hóa mà vốn là những vũ khí độc hại về mặt tinh thần…
    …Hơn ba mươi năm trôi qua, những thứ sản phẩm, gọi rằng văn hóa, rất độc hại ấy đã được xếp xó cùng với bao khối bom, mìn, súng ống đủ loại từng gây chết chóc, thương tật cho những con người yêu nước và tưởng rằng sự yên nghỉ ngàn thu của các sản phẩm như thế là chuyện lịch sử đã an bài rồi. Và các tác giả – là Dương Nghiễm Mậu, Lê Xuyên – sống lại ở thành phố này vẫn được đối xử bình đẳng, không hề gặp phải bất cứ sự quấy phiền nào. Những nỗi khổ đau và những sai lầm đã được xếp vào dĩ vãng, được khuyên khép lại, quên đi để cùng nhìn vào thực tại, hướng về tương lai…
    …Vì những lẽ đó, rất nhiều bức xúc, phẫn nộ của các bạn đọc khi thấy Công ty Phương Nam ấn hành sách của ông Dương Nghiễm Mậu. Các bạn đọc này gồm nhiều thành phần: vị tướng đã từng xông pha trên các chiến trường chống Mỹ, nhà giáo dạy văn, một cựu sĩ quan quân đội, nhà thơ, nhà báo… Đem những vũ khí độc hại ra sơn phết lại, rêu rao bày bán là một xúc phạm nặng nề đối với danh dự đất nước” (SGGP số ngày …/4/2007).

    Nếu bạn đọc kỹ truyện ngắn Nhan Sắc hẳn bạn sẽ nhận ra thái độ của DNM thông qua nhân vật Kinh Kha. “Một Lời” mà Da Màu trích lại từ tập san Thời Tập số cuối cùng là một thái độ chọn lựa của một người cầm bút có nhân cách, có trách nhiệm với toàn bộ các tác phẩm của mình trước đời sống và xã hội… Và nữa, những Từ Hải ngoại truyện, Lênh đênh qua cửa Thần Phù… viết sau 75, dẫu có mượn người xưa tích cũ làm nhân vật truyện thì người đọc cũng dễ nhận ra những ẩn dụ qua nội dung, cách viết của ông Nghiễm.
    Cần nhắc lại rằng, DNM không mang hơi hướm chính trị vào tác phẩm văn học mà là những dằn vặt của nhân vật sống trong thời đại hiện tại, là lương tâm, là trách nhiệm của người cầm bút… nên không có điều mà bạn gọi là “ông vẫn có mấy tác phẩm luận đề chính trị chan chát”.
    Câu hỏi ông Nghiễm “làm gì sau 2 năm tù cải tạo?”, tôi nghĩ là một câu hỏi vô nghĩa và mơ hồ đối với một nhà văn như DNM.

    Bạn có thể đọc thêm những luận điểm của tôi về nhà văn DNM qua bài viết theo đường dẫn này:
    http://vandoanviet.blogspot.com/2015/03/duong-nghiem-mau-song-tu-do-hay-la-chet.html#more

    Chào bạn,

  • black raccoon viết:

    Thưa nhà văn Nguyễn Lệ Uyên,
    Cám ơn ông đã hồi âm và cho thêm ý kiến. Về sự trích dẫn một đoạn văn trong bài chủ này của Dương Nghiễm Mậu, ông cho rằng nên đặt vào “toàn bộ” văn cảnh của bài hơn là chỉ cắt ra một đoạn sẽ mang tính chủ quan và suy diễn. Tôi xin được trình bày thêm một chút.

    Bài viết gần như loại tâm bút của DNM vào đúng ngay thời điểm loạn lạc và di tản tháng 4/75 tại Miền Nam như báo Thời Tập đã đăng có ghi rõ ngày tháng. Nội dung bài có tất cả 5 tiểu đoạn. Mỗi tiểu đoạn mang một ý. Và dĩ nhiên toàn bài tâm bút sẽ có một ý chính rất chung. Bài chủ ngay tại đây, quý vị đọc và sẽ nhận ra rất dễ dàng.

    Riêng tiểu đoạn 4, nói về người ra đi từ miền Bắc 54 và người chạy tìm đường đi khỏi VN năm 75. Tôi trích 1 đoạn ngắn thuộc phần kết luận của tiểu đoạn 4. Thật ra, ban đầu tôi cố hiểu “những tên bất lương, hãy vơ vét,” là những phần tử bất hảo hôi của mà sự lộn xộn xã hội nào ắt cũng có xảy ra. Nhưng không đúng như vậy. Vì DNM viết; “và hãy đừng bao giờ ngửng mặt lên, hãy quên đi, đừng bao giờ nhắc đến hai tiếng Việt Nam.”

    Thưa ông,
    Trong sự suy nghĩ hoàn toàn chủ quan của tôi, tôi thật sự không thấy chỗ nào là “ẩn dụ” để có thể hiểu khác ý của DNM cả. Ngoài ra, theo tôi, khi viết lên suy nghĩ hay quan điểm về cái gì, nhất là văn học, thì tôi không hề ngần ngại viết với quan niệm chủ quan theo nghĩa của Subjective opinion: – relating to the way a person experiences things in his or her own mind – based on feelings or opinions. Suy nghĩ theo chính mình với tình cảm và quan điểm riêng. Chỉ có các đề tài thuộc toán học và khoa học tự nhiên mới không được kèm feelings thôi. Trong văn học rất nên bày tỏ ý kiến riêng một cách chủ quan – subjective. Chủ quan nhưng cũng phải dựa vào sự kiện chứ không hoàn toàn thành kiến hay định kiến (đã có sẵn như thế).

    Kính chào thân ái.

  • Lưu Thuỷ Hương viết:

    Hơn 40 năm sau chiến tranh, những người từng ở cùng một chiến tuyến: kẻ ra đi – người ở lại, mà còn không hiểu được nhau.
    Tôi cho là đúng, khi Da Màu đăng lại quan điểm của ông Nghiễm, vào thời điểm ông vừa rũ áo ra đi. Bởi vì, câu hỏi “sống tự do hay là chết” ông Nghiễm đã trả lời bằng cả cuộc đời mình, giờ đây lòng ông đã hoàn toàn thanh thản.
    Ông Black raccoon có thể vì tự ái mà vội vã lên án tác giả chăng? Chẳng lẽ ông không thấy trong những người ra đi, có hình ảnh chia lìa đau đớn, mang một khát vọng tự do, khát vọng sống còn – hình ảnh người mẹ Việt Nam đứt ruột đẩy con đi? Ông cố không nhận ra, cái mà ông Nghiễm lên án là bọn thiểu số, và chắc chắn là không có ông Black raccoon trong đó, những kẻ vẫn còn có thời gian và cơ hội vơ vét tài sản, những kẻ sống ở chế độ nào cũng thừa thãi vật chất như vương chúa.
    Mong ông Black raccoon đừng nói với đám hậu sinh chúng tôi rằng: miền Nam trước 75 làm gì có đám tham nhũng sâu bọ, làm gì có đám luồn cúi đục khoét, làm gì có đám quan lại ngồi ngất ngưởng trên máy bay ra hải ngoại khi bên dưới này làng mạc còn mịt mùng lửa khói, khi quân nhân thân đổ máu mà tay còn chưa buông súng, khi “những chiếc xe như súc vật, những xác nguời nằm như lá khô, pháo kích không ngừng, những bà mẹ, đứa bé bò trên mặt đường và chiếc bình sữa…” Mong ông Black raccoon đừng nói với chúng tôi, bọn xây cơ ngơi ngang dọc ở Mỹ ở Úc sau 75 là do trúng số hay nuôi heo mà có (!). Thưa ông Black raccoon, thế hệ ông còn chưa trả lời cho thế hệ chúng tôi câu hỏi, đánh đấm kiểu con khỉ gì mà chưa thấy giặc đã ôm tiền bỏ chạy.
    Bài viết của ông Nghiễm mang nỗi đau của một người cầm viết từ chối cuộc sống trong chốn lầu son, mang trách nhiệm của một nhà văn trong chiến tranh lên đường cùng chia sẻ nỗi đau khổ của đồng bào. Tự do, chính là khắc khoải lựa chọn. Đi hay ở – câu hỏi của mỗi người, ngay trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng, nhưng vẫn còn chút tự do. Ông Nghiễm lựa chọn ở lại, sanh ra ở đây thì chết ở đây. Sự lựa chọn này làm tôi nhớ tới câu nói đầy hào khí của Trần Bình Trọng: “Thà làm quỷ nước Nam.” Sự lựa chọn này làm tôi đau buồn nhớ đến cha tôi, ông cũng từ chối cơ hội ra đi, ở lại để chia sẻ với đồng bào mình nỗi bất hạnh của kẻ chiến bại, để nhận lấy trách nhiệm thất thủ với quê hương. Một sự lựa chọn đầy thiệt thòi, phải trả cái giá quá tàn khốc, và cho đến bây giờ cũng chưa được làm sáng tỏ. Đôi lúc tôi nghe những người bình dân nói: “cái cột điện mà biết đi thì nó cũng đi”. Thấy buồn cười. Nhưng thôi. Người trí thức miền Nam không là cái cột điện. Nói thẳng thừng hơn và dễ hình dung hơn, như cách ông Nghiễm, không phải là con chó.
    Còn những người ngay trong thời điểm đó không có sự lựa chọn thì sao? Những người nông dân chân lấm tay bùn, chỉ biết cúi đầu chịu đựng bom đạn, cả đời chưa bước chân ra khỏi bờ mương? Những người buôn thúng bán bưng tảo tần không một đồng xu dính túi, không biết chế độ nào sung sướng hơn chế độ nào? Những người lính bị chính cấp trên của mình bỏ lại, phải sống qua những năm tháng tù đày, gia đình ly tán, đói khổ cơ hàn, tương lai lụi tàn? Tôi hỏi ông Black raccoon: “Những tên bất lương đó – cho tới bây giờ – đã có ai lên tiếng xin lỗi đồng bào mình chưa?” Hay bọn sống ở chế độ nào cũng đầy ắp túi tham đó đang xênh xang áo mũ trở về. Và chắc chắn là, họ trở về chẳng vì hai tiếng Việt Nam. Hãy quên đi, đừng bao giờ nhắc đến hai tiếng Việt Nam!
    Tôi yêu sáu mươi triệu đồng bào Việt Nam, những người đã chia sẻ với gia đình tôi những năm tháng đói khổ lầm than sau chiến tranh, bất kể người miền Nam hay người miền Bắc. Tôi chấp nhận sự lựa chọn của cha tôi, không tiếc nuối gì. Và, tôi cũng dành cho những người ra đi tìm tự do một tình cảm trân trọng.
    Ông Black raccoon, trong nỗi đau chung, có nỗi những đau riêng. Hãy để cho những điều “được viết bằng xương và máu” lên tiếng. Hãy để cho những nỗi đau câm nín còn một cơ hội. Hãy để cho thế hệ hậu sinh được gần với sự thật.

  • black raccoon viết:

    Ông Black raccoon có thể vì tự ái …
    Mong ông Black raccoon đừng nói với đám hậu sinh chúng tôi rằng: … (LTH)

    Thưa đọc giả Lưu Thuỷ Hương,

    @ Thành thật mà nói tôi chẳng bao giờ tự ái gì ở đây cả. Như tôi có trình bày, tôi chỉ có ý kiến về một văn bản của một nhà văn. Thưa cô, cái ngày lộn xộn 4/75 tôi cũng không có mặt trong những người di tản ra khỏi VN và chắc chắn là tôi cũng rất hãnh diện mà nói rằng tôi chưa bao giờ làm gì được hoặc xấu cho xã hội miền Nam lúc bấy giờ. Tôi chỉ là một thanh thiếu niên bình thường như người khác.

    @ Đọc giả LTH biểu tôi đừng nói với đám hậu sinh. Hậu sinh nào, ai ? Nếu nói là hậu sinh (người nhỏ hơn) chung trên đất Mỹ thì e quá tầm tay và mộng tưởng của tôi. Giới hạn hơn, là hậu sinh gốc Việt chăng ? Tôi cũng cảm thấy là chưa bao giờ có trách nhiệm gì với riêng họ. Tôi là công dân Mỹ (gốc Việt) có đời sống rất bình thường, không phải là người phục vụ công chúng gì (public servants). Tôi chỉ sống có trách nhiệm với gia đình tôi và tuân thủ pháp luật chung quanh tôi đối với mọi người thôi. Còn hậu sinh ở mãi tít trời Nam ? Tôi chưa bao giờ nghĩ tới.

    Cho nên, đọc giả LTH cũng đừng phiền, tôi có bao giờ nói với “hậu sinh” nào đâu mà “đừng”. Vả chăng cái quan niệm “hậu sinh” đối với tôi cũng không có. Tôi quan niệm chỉ có các em nhỏ – children và người trưởng thành “adults”. Tất nhiên, trong những người trưởng thành có người trẻ người già, nhưng người trẻ tôi không coi là hậu sinh và người già tôi không cho là vô dụng. Ai cũng được có tiếng nói như nhau và cũng chỉ có một lá phiếu thôi.

    Tóm lại, tôi chỉ nêu ý kiến (được phép) về một văn bản của một nhà văn đăng bài trên diễn đàn. Hết.

  • Nguyen Tien Hoang viết:

    Thưa chị Lưu Thủy Hương

    Tôi xin minh oan, Mỹ thì tôi không biết, nhưng Úc thì chắc không ai ôm cơ ngơi bỏ Sài Gòn chạy tới đây vào thời điểm tháng Tư 1975 được.

    Chính phủ cầm quyền Úc vào thời điểm này hoàn toàn thân thiện với chính quyền Hà Nội và chính quyền gọi là của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Gough Whitlam tin là kẻ nào ra đi vào thời điểm đó, bắn không trật cũng là “tàn dư chế độ cũ”.

    Tháng 11 1975, chính phủ Whitlam bị Toàn Quyền John Kerr truất quyền, hầu giải quyết một bế tắc ngân sách. Cuộc bầu cử 1976 mà Liên Minh Tự Do và Nông Gia của ông Malcolm Fraser đắc cử lên thay là khúc thay đổi quan trọng cho chính sách tiếp nhận người tỵ nạn Việt Nam, Lào và Cambodia.

    Tới lúc đó, 1976, thì ai ôm cơ ngơi đã hạ cánh ở đâu khác rồi. Đó là tôi nghĩ vậy, xin góp một ý.

    Tôi thích chỗ rạch ròi chị đã vạch ra: Ai tháng Tư có được sự lựa chọn; ai thì không. Tôi ngờ rằng chỉ cần giở lại hồi ký các Tướng thì sẽ có câu trả lời.

    Nhà văn Dương Nghiễm Mậu không hề trật. Cái nhìn của ông rộng và sâu sắc. Không qua nghiên cứu chỉ ấn tượng mà nói vậy, tôi cũng mong các vị đang luận bàn thông cảm.

    Chúc chị vẫn viết hay.

    NTH

  • black raccoon viết:

    Nói thêm về những người ra đi 4/75, sau này, định cư ở Mỹ và ngoại quốc như tôi biết

    @ Tất nhiên, tôi không biết hết họ. Nhưng thử nhìn vào những trường hợp có thể biết được (chứng kiến hoặc qua tài liệu). Những cựu lãnh đạo cao nhất như cựu TT Thiệu, PTT Kỳ, ông tướng Ngô Quang Trưởng v.v… có thật họ đem vào Mỹ tài sản vơ vét và tiếp tục là lãnh đạo là ông tướng nữa hay không ? Ai ở Mỹ thì biết một chuyện gần như những vị cựu sĩ quan VNCH trung cấp di tản vào nước Mỹ lúc đó (trong độ tuổi 30s -40s) đã phải rất vất vả với một niềm tin và ý chí mạnh để tạo dựng lại cuộc sống mới cho gia đình và con cái. Trong giới văn học, những nhà văn nhà báo nỗi danh thời VNCH như Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, Võ Phiến, Mai Thảo, Viên Linh, … vào Mỹ với tài sản gì và có được người Mỹ trọng dụng ra sao ?

    @ Ở trên tôi có nêu thắc mắc (dựa vào văn bản) rằng tại sao người lính văn nghệ DNM lại còn có thể suy nghĩ và viết kiểu triết lí chính trị như vậy tại ngay bon thời điểm long trời lở đất của miền Nam lúc ấy (?) Có lẽ DNM đã khá vội vàng khi kết án và miệt thị những người ra đi hay không. Bởi vì chỉ cần một thời gian ngắn sau đó là có chính sách tập trung cải tạo, đánh tư sản, vượt biên trốn đi. Những thành phần này cũng tìm cách ra đi chính thức hay không chính thức. Tài sản mà họ đem theo còn lại đước mấy đồng ? Sau này, những năm 2000s, hầu hết người di tản giờ đây đã vững chãi bên cuộc sống mới, họ trở về VN thăm viếng. Lúc ấy DNM có lên tiếng phản đối hay không (đừng về VN nữa) ? Dường như là không thì phải.

  • Nguyễn Tà Cúc viết:

    Khi đang tìm thêm tài liệu để viết một bài về nhà văn Dương Nghiễm Mậu, tôi rất hân hạnh được đọc đoạn phát biểu của độc giả Black Raccoon. Tôi vốn không hay bầy tỏ về một bạn văn / nhà văn ngay sau khi họ qua đời, nhưng cảm cái tình Dương Nghiễm Mậu đã cho phép tôi được trích dẫn rộng rãi từ các sáng tác của ông trước 1975– thậm chí cho phép in lại một bài viết hay phóng sự chiến trường nếu cần– tôi đang sửa soạn viết về ông. Quả thực, đoạn 4 trong bài thượng dẫn khiến tôi suy nghĩ từ đã rất lâu, ít nhất từ hai ba năm nay. Đoạn phát biểu của Black Raccoon cho thấy một phản ứng rất lương thiện và có cơ sở của một độc giả đối với một đoạn văn quả là có thể dẫn đến rất nhiều suy luận đối nghịch, một đoạn văn đã khiến tôi phải cân nhắc mỗi lần nghĩ đến. Xin cảm ơn sự phát biểu ấy.

  • Viên Linh viết:

    Anh Black Raccoon,
    Ngày hôm qua nhà văn Nguyễn Tà Cúc cho tôi biết Da Màu đang đăng tải nhiều ý kiến quanh một đoạn văn của Dương Nghiễm Mậu trên Thời Tập, tờ tạp chí tôi là chủ nhiệm chủ bút. Ba giờ sáng nay tỉnh dậy, tôi mở Da Màu, đọc từ đầu đến cuối các ý kiến quanh bài chủ (chữ của anh) và thú thực, tôi phải rót một ly rượu uống ngay một hớp, đặng lấy tinh thần viết tiếp. Trước hết là cảm ơn anh đã nhắc tới tôi, một trong những người cầm bút đến Mỹ “trong độ tuổi 30s-40s” và những người ấy đã đến Mỹ với tài sản gì và được trọng dụng ra sao.

    (Lý thứ hai). Sau lưng tôi còn bộ Thời Tập kia, 23 số, số chót trên bìa sau có in dòng chữ: phát hành ngày 15.4.1975, là số có bài Nghiễm nó chửi mình, vì mình cũng ra đi và nó ở lại. Tôi nói mình/nó là cách “nghĩ to tiếng” vả chăng chúng tôi vẫn nói về nhau như thế, từ ngày họp bàn văn nghệ với nhau trong khuôn viên tòa án Hà Nội, 1953-1954, thời gian chúng tôi cùng viết và làm tờ báo Chim Xanh. Chúng tôi cũng cùng làm Đài Tiếng Nói Tự Do (Voice of Freedom) những năm 70’s, Nghiễm cần đi nên chọn vai phóng viên, tôi không thể xa Saigon dù một ngày (viết feuilletons cho 4 hay 5 tờ nhật báo) nên chọn vai biên tập. Bài Nghiễm nằm trong mục Quanh Bàn Viết, khởi sự ít ra là từ số 15, 16, nghĩa là 6, 7 kỳ rồi, viết gì thì viết, tôi không cần đọc trước. Bài Nghiễm chửi những người ra đi đó dù có đọc trước tôi vẫn đăng, vì mình là người ngay từ tháng 3.75 đã ghi danh đi đâu cũng đi, chứ ở sao được với dép râu nón cối. Thiếu gì kẻ ở chửi người đi, nhưng sau này đọc lại, thấy hắn láo quá. Vơ đũa cả nắm là sai từ căn bản. Có lúc tôi tự hỏi, “không biết sao mình không bỏ bớt?” Nhưng rồi tôi biết tại sao. Báo đề phát hành ngày 15.4.75 mà 21.4 mình đã ngồi trên chiếc DC-3 rời Tân Sơn Nhất rồi, hình như lúc đi chưa từng trông thấy tờ báo in ấn ra sao nữa. Tuần lễ trước đó thợ in, nhân viên tờ báo lo in, lo phát hành các việc, mình còn bận những chuyện nào khác. Nhưng thôi, viết dài rồi anh Raccoon. Đại thể thôi nhé, tóm lại là thế: đó là lúc dầu sôi lửa bỏng, và đó cũng là “phút của sự thật.” Thiếu gì chuyện sau giây phút đó người ta hối hận? Nhưng dùng chữ “lưu dụng” có đúng không nhỉ? Tôi có suy nghĩ khi mua cuốn “Từ Điển Văn Học” của Hà Nội hơn 200 người biên soạn do nhà xuất bản Thế Giới tái bản năm 2000, trong toàn thể các nhà văn Miến Nam họ chỉ đề cập tới hai người gương mẫu điển hình, viết về mỗi người dài tới ba bốn ngàn chữ, là Nhật Tiến (từ trang 1261 đến trang 1263) và Dương Nghiễm Mậu (từ trang 358 đến trang 360), không biết hai nhà văn này viết lách tài tình ra sao mà lại lọt vào bộ Từ Điển mất hơn 10 năm biên soạn?

  • black raccoon viết:

    Thưa nhà thơ Viên Linh,

    Cách đây một năm rưỡi, tôi cũng có viết ý kiến về DNM nhân bài viết của nhà văn Ngô Thế Vinh đăng trên diễn đàn DM tại đây. Lần đó tôi có sự liên tưởng và so sánh một truyện ngắn của ông Mậu, truyên Kinh Kha đăng trong tập Nhan Sắc xuất bản tại Sài Gòn năm 66 mà tôi đọc được về sau nầy. Tôi so sánh với 1 phim thời danh của TQ sản xuất năm 2002, phim Hero – Anh Hùng. Truyện Kinh Kha (1962) và phim Anh Hùng (2002) cách nhau 40 năm nhưng có một điểm chung: Tần Thuỷ Hoàng là người có công thống nhất đất nước.

    Trong truyện thì DNM nêu câu hỏi: “Vua Tần gằn giọng: thôi ta chịu chết, nhưng ta hỏi: giết được ta rồi nhà ngươi làm gì với nước Tàu này.” Còn trong phim thì Trương Nghệ Mưu nói rõ ràng hơn: ” Hãy nghĩ đến Thiên Hạ (tổ quốc) trước khi hạ thủ giết Tần Thuỷ Hoàng”. Kinh Kha trong truyện DNM sau cùng trở lại đất Tần. Kinh Kha (Vô Danh Kiếm Khách) trong phim Anh Hùng thì tiến sát lại Tần Vương và đâm cái cán gươm vào lưng TTH. Anh ta tha chết cho TTH để chịu bị quân Tần loạn tiễn giết chết.

    Thưa nhà thơ Viên Linh,
    Đọc Dương Nghiễm Mậu tôi chỉ đọc duy nhất tập Nhan Sắc và 1 truyện ngắn nữa đăng riêng trên báo Tuổi Ngọc của Duyên Anh. Chỉ có thế. Nhưng mà tôi đọc đây đó nhiều người viết (ta có địc có) dường như đề cao tâng bốc họ Dương hơi bị nhiều. Tôi hơi ngạc nhiên, trong suy nghĩ chủ quan của một người đọc, tôi thấy DNM viết cũng được vậy thôi. Cũng như trường hợp nhạc sĩ TCS (lại cũng vừa ta vừa địc) được tâng quá sức. Mà tâng chung chứ nêu chủ kiến gì mới về tác phẩm của DNM với TCS thì ít thấy.

    Kính chào ông, chúc ông vui.

    http://damau.org/archives/35745
    http://www.gio-o.com/HoDinhNghiem/DuongNghiemMauConChuyThu.htm

  • Nguyễn Tà Cúc viết:

    Sau khi độc giả Nguyen Tien Hoang đã “minh oan” cho người Việt tỵ nạn ở Úc và Black Raccoon mới “Nói thêm về những người ra đi 4/75 định cư ở Mỹ…”, tôi có thể nói chắc rằng, rất nhiều người Việt tỵ nạn “sau 75” tay không tại Hoa Kỳ mà nếu trở nên giầu có, hay rất giầu có, là nhờ sự lao động vượt bực của họ. Ngoài ra, sự thành công của các em học sinh xuất thân từ Miền Nam không kể từ 1975 hay sau này là một hiện tượng đã được chứng nhận trong xã hội Hoa Kỳ.
    Tôi cũng thành thực không hiểu thế hệ nào ở Miền Nam 1954-1975 đã bị vướng một sự đánh giá “thế hệ ông còn chưa trả lời cho thế hệ chúng tôi câu hỏi, đánh đấm kiểu con khỉ gì mà chưa thấy giặc đã ôm tiền bỏ chạy”, nhưng trong thế hệ mà tôi biết, một người bạn thân– từng giữ chức Lữ đoàn trưởng một binh chủng thiện chiến– và các binh sĩ của anh ấy trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa “đánh đấm” chắc cũng không đến nỗi nào nên giữ được Miền Nam cho tới khi không còn giữ được nữa thì mất tích /tự sát [trường hợp người bạn tôi và Lữ đoàn phó của anh ấy] cùng 5 ông tướng và không biết bao nhiêu sĩ quan cùng binh sĩ nữa.
    Cho nên, quyết định ra đi –vì tôi ra đi từ Miền Bắc, 1954 và từ Miền Nam, 1975– đối với tôi rất giản dị: làm thế nào để cố bảo toàn được di sản văn hóa đã thoát được cuộc phần thư tại Miền Bắc trước 1954 và tại Miền Nam sau 1975 để người Cộng sản không thực hiện được toan tính viết lại lịch sử sau khi chúng ta không thể chống lại họ được bằng quân sự. Một triệu người Miền Bắc đã ra đi năm 1954, đã chung sức tạo Văn học Miền Nam. Đó là lần đầu tiên chúng ta phá hỏng tham vọng của người Cộng sản. Và chúng ta lại phá hỏng tham vọng của họ lần thứ hai, năm 1975, khi chọn sự ra đi bằng mọi cách, từ chính thức đến vượt biển vượt biên, để tái lập các tờ báo thông tin cho đại chúng, tạp chí văn học chống Cộng, các đoàn thể ái hữu, hội đòan giúp thương binh Miền Nam vv…Nghĩa là, tổng chi, họ không thi hành được chính sách bắt được chúng ta im lặng theo ý họ hay viết như họ muốn.
    Tôi còn có kinh nghiệm rằng, bất cứ vấn đề nào cũng có nhiều khía cạnh hay thậm chí, uẩn khúc. Trong tinh thần đó, tôi hoan nghênh sự góp ý của nhà thơ Viên Linh, chủ nhiệm Thời Tập, về một bài viết của Dương Nghiễm Mậu mà chính ông cho đăng. Black Raccoon cũng có nhắc tới nhà văn Mặc Đỗ. Là một người nghiên cứu về đời văn Mặc Đỗ mấy chục năm nay, tôi có thể nói ông ‘tự lực cánh sinh’ sau khi tỵ nạn tại Hoa Kỳ nhưng vẫn hoạt động trong sinh hoạt văn nghệ. Black Raccoon có thể xem thêm về đời văn đó qua bài viết “Mặc Đỗ, Một đời không quy ẩn: Từ những năm Tiền Bến hải đến Văn học Miền Nam và Văn học Biển ngoài” tại Diễn đàn Gió-o [http://www.gio-o.com/HoLieu/NguyenTaCucMacDoMotDoiKhong1.htm]. Viết đến đây tôi mới kịp nhớ chúng ta còn có thể tự do lập những diễn đàn văn chương trên mạng và phổ biến những nghiên cứu hay ý kiến về Văn Học Miền Nam. Xin cảm ơn, hoan nghênh Gió-o và Da Màu!

  • Nguyen Tien Hoang viết:

    Thưa chư vị trong cuộc luận đàm:
    Đọc ý kiến của các anh chị tôi xin thêm một ý, hy vọng không quá sa đà rơi vào chỗ tham kiến (‘tham’ trong nghĩa đen). Ngắn gọn, tôi nghĩ là các anh chị, đúng hay không, thì cũng đã giúp tô đậm một đoạn văn trong bài ‘Một Lời’ của tác giả Dương Nghiễm Mậu. Không chừng, không tham vọng gì, các anh chị đang làm tốt cho công việc diễn giải văn học và lịch sử, vốn là một vùng đất tù mù và hoang dã. Điều đã nói có thể rút lại. Điều viết xuống khó thu hồi. Người viết lại không còn đây để minh giải cho thiên hạ hôm nay dù một tiếng. Là một người đọc, tôi vẫn nghĩ Dương Nghiễm Mậu không phê phán những ai đang ra đi, hay sẽ ra đi vì hoàn cảnh, vì ý thức, vì mưu sự chung – phục quốc hay bảo tồn văn hóa, hay thuần túy không thể sống chung với bạo quyền Cộng Sản. Ông chỉ than trách những người ông thấy là đã sống nhờ chiến tranh, và nay trong hồi kết của cuộc chiến, bất kể sinh mạng của ai ai đang vùi trong máu lửa, ung dung làm cuộc vơ vét cuối cùng cho cú tháo chạy. Con số những ai đó hẳn là rất nhỏ.

    Ở lại tử thủ, hay ra đi tranh đấu, nếu cả hai đều hướng về cuộc chiến chống lại cái Ác, sự Phi Nhân Tính, thì đó là một sự đồng thuận đáng quí.

  • Lưu Thuỷ Hương viết:

    Mấy hôm nay tôi bận bù đầu vì đi làm về khuya còn phải kham thêm một số việc khác. Thấy trên Da Màu sôi nổi gửi comment, lòng tôi cũng xôn xao ( chỉ sợ nhất là sự câm lặng), nhưng chỉ có thể hồi âm trễ.

    Trước tiên tôi cảm ơn anh Nguyen Tien Hoang. Đại gia đình bên chồng tôi sống ở Úc. Tôi có một số thông tin và chứng kiến khác. Nay nhận được góp ý của anh, thật quý giá và thú vị, tôi xin trân trọng ghi nhận. “Tới lúc đó, 1976, thì ai ôm cơ ngơi đã hạ cánh ở đâu khác rồi.” Xin hỏi anh, theo anh, họ hạ cánh ở đâu? Chẳng lẽ họ biến mất vào không trung :-)

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Tà Cúc:
    Thành kính cúi đầu trước vong linh của bạn chị, lữ đoàn trưởng một binh chủng thiện chiến. Bạn chị trong câu nói của tôi, thuộc về vế thứ hai: – “đám quan lại ngồi ngất ngưởng trên máy bay ra hải ngoại khi bên dưới này làng mạc còn mịt mùng lửa khói, khi quân nhân thân đổ máu mà tay còn chưa buông súng, khi “những chiếc xe như súc vật, những xác nguời nằm như lá khô, pháo kích không ngừng, những bà mẹ, đứa bé bò trên mặt đường và chiếc bình sữa…” – Sợ chị vẫn còn dư đạn pháo bắn tám hướng, tôi viết lại rõ ràng: – “quân nhân thân đổ máu mà tay còn chưa buông súng”. – Thật đau lòng phải không chị? Miền Nam, với một nền kinh tế giàu mạnh như vậy, một tiềm lực quân sự còn sung mãn như vậy, những quân nhân quyết tâm đổ đến giọt máu cuối cùng để chặn đứng làn sóng đỏ như vậy… Theo chị, tại sao miền Nam thất thủ?
    “Tôi” hỏi riêng “chị” một câu rõ ràng, vì thấy, chị là nhà nghiên cứu, đưa ra một ví dụ cá nhân đơn lẻ của một người quen không có quân hàm, không có binh chủng và không có cả tên tuổi, để giải thích về sự thất trận của cả một miền đất nước, có vẻ chị là người giản dị và khiêm tốn?
    Chị là nhà nghiên cứu thâm niên, đọc đoạn 4 của ông DNM phải suy nghĩ mất hai ba năm. Tôi là người đọc tài tử, mất hết vài phút, có đọc thêm hai năm nữa cũng chỉ hiểu bao nhiêu đó. Bởi vậy mà chẳng thể so sánh người đọc với nhà nghiên cứu được. Tôi lại càng bối rối không biết, chị cân nhắc chỗ nào. Phần đầu của đoạn 4 là chính kiến và sự lựa chọn cá nhân trong tâm trạng người miền Bắc 54. Phần kế có chữ con chó! Con chó và cục xương có từ thời Nguyễn Vỹ. Bạn đọc có chút vốn văn chương thì cũng biết, nhà thơ Tản Đà cũng biết, nhà phê bình Hoài Thanh Hoài Chân cũng biết, có ví thế thì chó xấu hổ chứ nhà văn xấu hổ nỗi gì. Chữ vơ vét! Ai trong chiến tranh có điều kiện vơ vét? Ai đến giờ chạy giặc còn cơ hội vơ vét? Chẳng lẽ nhà văn? Chẳng lẽ giới văn nghệ sĩ? Thường người ta chỉ nói thu vén hay gom góp tài sản cá nhân, người bình thường thì vơ vét cái gì? Hay chữ bất lương! Cái vốn văn chương ít ỏi nhưng kinh nghiệm sống dài dằng dặc trong chế độ cộng sản bảo tôi rằng, đã vơ vét mà còn bất lương nữa thì chỉ có hai loại: ăn cướp và lãnh đạo.
    Trong comment trước tôi cũng có nêu ý kiến của tôi với ông Black raccoon: cái mà ông Nghiễm lên án là bọn thiểu số, không có ông Black raccoon.
    Tôi đoan chắc rằng, trong diễn đàn Da Màu này chẳng ai thuộc về tầng lớp thiểu số đó. Loại bất lương vơ vét thì không ưa văn chương. Ở đây, có lẽ, chỉ có đám văn nghệ sĩ thanh bạch, các độc giả không bỏ tiền mua sách và một vài chú công an mạng ăn lương nhà nước…
    Một người cầm viết có lương tâm có tự trọng luôn đứng về phía người dân nghèo khổ, không đứng về phía giai cấp cầm quyền, lại càng không bao giờ xông vô tự nhận mình là loại “bất lương vơ vét”. Nhà văn chửi nhà cầm quyền, lên án chính phủ là chuyện thường tình, xứ tự do dân chủ nào không có chuyện đó. Còn nhà văn (hay người đọc) mà xông ra hăng hái bênh vực nhà cầm quyền, cứ đưa thành tích phấn đấu của người dân ra để biện minh cho sự trong sạch của tầng lớp lãnh đạo cũ, cố tình đánh tráo khái niệm nhân dân và lãnh đạo: chuyện này giống chế độ cộng sản! Bởi vậy mà tôi ngạc nhiên khi thấy một nhà nghiên cứu tự do như chị Tà Cúc lại mất thời gian để xét lại chính kiến của một nhà văn tự do (trong thời điểm đó) – một người mà bằng cả cuộc đời mình trong những hoàn cảnh khốc liệt nhất (chiến tranh và “hòa bình”) vẫn giữ được nhân cách. Lại còn buồn hơn, một biên tập viên lão thành của một miền đất tự do có lúc tự hỏi, – “không biết sao mình không bỏ bớt?” – (Viên Linh). Độc giả nào nghe câu này mà không buồn. Hóa ra những thứ họ đăng cho mình đọc cũng là những thứ cụt què, những thứ bị họ đổ khuôn theo quan điểm của họ? Ôi, đất Tần bất trắc, bất trắc!
    Phân vân cân nhắc gì nữa, thưa các nhà nghiên cứu. Bài viết của ông Nghiễm đã hơn 40 tuổi rồi, nhờ một số phận may mắn nó thoát khỏi lưỡi đao kiểm duyệt để hình hài còn nguyên vẹn, qua bao nhiêu biến động nó vẫn tiếp tục tồn tại. Bây giờ chủ nhân của nó đã quá cố, chẳng lẽ còn có một thứ quyền lực nào muốn đem nó ra băm xẻ.

    Thưa bác Viên Linh,
    đọc comment của bác lòng tôi có nhiều điều xót xa.
    “Chúng tôi cũng cùng làm Đài Tiếng Nói Tự Do (Voice of Freedom) những năm 70’s, Nghiễm cần đi nên chọn vai phóng viên, tôi không thể xa Saigon dù một ngày (viết feuilletons cho 4 hay 5 tờ nhật báo) nên chọn vai biên tập.” – Khi ông Nghiễm chọn cách lăn xả ra chiến trường, không biết có dịp trở về để chết nữa không, thì bác vẫn có một sự lựa chọn cho một trách nhiệm lớn lao khác. –
    “Báo đề phát hành ngày 15.4.75 mà 21.4 mình đã ngồi trên chiếc DC-3 rời Tân Sơn Nhất rồi, hình như lúc đi chưa từng trông thấy tờ báo in ấn ra sao nữa .” – Khi nhân viên của bác vẫn tiếp tục cho ra đời những trang báo cuối cùng của nền tự do, khi ông Nghiễm từ cõi chết trở về – “ở đó là cuộc chiến đấu của những chiến sĩ, là tiếng kêu thất thanh của người dân trong lửa đỏ, là cảnh điêu tàn của quê hương” – thì bác đã thong dong ra đi với sự lựa chọn – “ở sao được với dép râu nón cối”. Thưa bác, ở đây có một cái gì còn hơn cả xót xa: nghẹn ngào. Giữa tôi với bác không chỉ có một khoảng cách quá lớn về danh phận trong làng văn, khoảng cách quá xa về tuổi tác. Giữa tôi với bác còn có một khoảng cách không bao giờ rút ngắn được: khoảng cách lịch sử. Bởi vậy mà khó tâm sự được với nhau. Tôi viết những dòng này chỉ để đau buồn nói rằng: trong cuộc chiến khủng khiếp vừa qua, cái may của người này còn đến từ cái không may của người khác. Nếu dân chúng miền Nam đều sáng suốt như bác, họ đổ xô lên đường từ mười ngày trước khi thủ đô thất thủ thì bác có tài thánh cũng không vào được đến sân bay. Oán giận người kém may mắn với mình làm chi, cho dù cái kém may mắn đó là do họ tự chọn lựa, hay do họ không biết chọn lựa.
    Thôi, tôi hỏi vui bác, nếu năm 2017 tới bác đột nhiên có tên trong cuốn “Từ Điển Văn Học”, dài đến năm ngàn chữ, thì bác có thích không? Hay bác phải rót một ly rượu uống ngay một hớp, đặng lấy tinh thần sống tiếp?

    Ông Black raccoon:
    cái comment ông gửi cho tôi chấm dứt bằng chữ “Hết” cụt ngủn. Tôi nghĩ ông đã đoạn tình, nên thôi. Không ngờ ông còn lưu luyến mãi :-) Chúc ông nhiều niềm vui với chữ nghĩa. Đường trên đất Tần dài miên man.

  • black raccoon viết:

    @ Độc giả Lưu Thuỷ Hương,

    Nếu trí nhớ của tôi không bết lắm thì dường như giữa tôi và đọc giả LTH lạ … hoắc. Đã chưa từng hân hạnh có giao tình qua lại thì sao gọi là đoạn tình (?). Ngoài ra, cái hồi âm ở trên tôi viết có lẽ cũng khá đầy đủ chứ không ngắn lắm. Còn chữ “hết” ở cuối câu nghĩa là period thay cho dấu chấm vậy thôi, tôi vẫn quen viết như thế. Và tôi cũng không rõ lắm cái “đất Tần” mà đọc giả LTH nói là “ẩn dụ” gì đây (?). Thưa cô, tôi chẳng xấu hổ mà nói với cô rằng: tôi nộp đơn để xin vào nước Mỹ và coi nó như quê hương thứ hai còn lại. Chả có cái nước Tần nào ở đây đối với tôi cả.

    Chào thân ái.

  • Nguyễn Tà Cúc viết:

    Tôi cảm ơn chị Hương đã gọi tôi là “nhà nghiên cứu”. Như thế, hằn chị đã đọc tôi và hẳn chị cũng đã biết rằng tôi mất rất nhiều năm, có khi cả hơn hai chục năm để thu thâp tài liệu, cân nhắc, suy nghĩ rồi mới viết được về một đề tài. Đề tài Dương Nghiễm Mậu cũng sẽ không được tôi cho phép có một sự ngoại lệ. Tôi càng không cho phép những suy nghĩ bên ngoài, dù của thân hữu hay không-thân hữu, ảnh hưởng vào thời gian cần thiết ấy. Tôi càng cảm ơn chị đã nhận ra một điều cốt tủy “chẳng thể so sánh người đọc với nhà nghiên cứu được”, không phải vì người đọc không giỏi bằng người nghiên cứu [chưa chắc đâu], nhưng vì chúng ta cần cho người nghiên cứu một cơ hội được quyết định và trình bày tài liệu CỦA CHÍNH HỌ trước khi xét đoán họ.
    Bởi thế, dù rất tôn trọng độc giả, tôi sẽ không trả lời chị –một người đọc–khi chị sử dụng tuyền những kết luận và suy nghĩ chủ quan CỦA CHỊ về Dương Nghiễm Mậu để phỏng đoán về một bài mà tôi –người nghiên cứu–chưa cho xuất hiện [qua câu “ngạc nhiên khi thấy một nhà nghiên cứu tự do như chị Tà Cúc lại mất thời gian để xét lại chính kiến của một nhà văn tự do (trong thời điểm đó).”] Cho tới nay, để cho công bằng, có hai người –độc giả Back Raccoon và chủ nhiệm &chủ bút Viên Linh– đã bất đồng ý kiến với Dương Nghiễm Mậu vể đoạn văn trên. Phần tôi, tôi cũng cảm thấy một sự bất thường nên phải dùng hai chữ “cân nhắc”. [Tôi đã nói gì tới “chính kiến” đâu?! ] Bởi thế, chị có quyền hoan nghênh, thậm chí bênh vực Dương Nghiễm Mậu, nhưng không có nghĩa là người khác không có quyền phát biểu cảm tưởng ngược lại hay cần thời gian để quyết định. Bởi thế, tôi rất ngạc nhiên khi chị đặt dấu hỏi về thời gian cần thiết của một người nghiên cứu vốn có tiếng dành một thời gian dài cho bất cứ đề tài nào như tôi–nghĩa là tôi không hề có ác ý với Dương Nghiễm Mậu. Mai này, khi bài tôi viết về Dương Nghiễm Mậu xuất hiện, có thể là trong năm nay hay hai mươi năm sau [như trường hợp loạt bài tôi viết về Kinh thánh Tin lành Việt ngữ], chị sẽ có cơ hội được biết tôi sử dụng những tài liệu nào vào những trường hợp nào khiến dẫn đến những kết luận nào của tôi.
    Tôi cũng xin cảm ơn nhưng mạn phép cũng không trả lời về cảm tưởng và bao nhiêu suy đoán chị đã có sau khi đọc phần về người bạn tôi. Là một người đọc, chị hoàn toàn có quyền có cảm tưởng và suy đoán; nhưng tôi cố ý viết như thế [không binh chủng và vô danh] là đã đủ, đã quá đủ, để ít nhất lên tiếng cho một người bạn đã hy sinh và đã qua đời. Vâng, “đã hy sinh và đã qua đời” cùng với một số chiến binh trong thế hệ anh ấy.

  • Đinh Từ Bích Thuý viết:

    “Một Lời” của Dương Nghiễm Mậu hiện gây nhiều tranh cãi, dù đó là quan điểm ứng biến/ “snapshot” của ông vào tháng tư 1975. Sự tản cư của các đồng bào Việt từ thành phố thất thủ này cho tới thành phố thất thủ khác vào những ngày tháng đó có thể, theo ông, là một cách chạy trốn không đủ ý thức hoặc vô vọng. Ông luôn muốn là một người “có ý thức” trong mọi hoàn cảnh, cho dù quyết định của ông không giống người khác.

    Tạm gác qua một bên những phản ứng thúc đẩy bởi tình cảm hay quá khứ đau buồn, tôi thấy “Một Lời” của DNM cần được phân tích như một khuynh hướng của nhà văn về khái niệm “quốc gia.” Tôi hy vọng sẽ có thời gian trong tương lai viết một bài so sánh ông với Thanh Tâm Tuyền. Theo sự nhận định lúc này của tôi thì khái niệm quốc gia của DNM có liên hệ mật thiết đến địa lý và tình cảm/tình yêu (qua tác phẩm Gia Tài Người Mẹ của DNM). Do đó, DNM khác Thanh Tâm Tuyền ở chỗ từ chối quyết định lưu vong. Ngược lại, Thanh Tâm Tuyền, ngay từ tác phẩm đầu tay là Bếp Lửa, cho tới Một Chủ Nhật Khác, xem sự lưu vong là cần thiết nếu đất nước (hoặc thể chế chính trị) không đáp ứng được nhu cầu văn chương hay cá nhân của TTT – là một người muốn sống, viết và suy nghĩ trong một môi trường không bị kiểm duyệt hay áp chế. Nhưng DNM thà đổi nghề nghiệp hơn là đổi quốc gia. Truyện “Thuỷ Đao Lan” có thể đọc như một ẩn dụ về quyết định treo bút của DNM. Cây Thuỷ Đao Lan – một loài cây hư cấu – tượng trưng cho nghề cầm bút, vì như loài hoa lan có hình thể như đao kiếm, ngòi bút cũng có thể giết người (hay một triều đại). Cái chậu sứ đựng cây hoa bị kiếm sắc của một hiệp sĩ lạ chém ngang thành hai mảnh nhưng cây trông vẫn tươi đẹp qua bao nhiêu mùa đông, cho dù cây đã fossilized và trở thành như một cây giả. Những tác phẩm của DNM, như Thuỷ Đao Lan, bị lưỡi kiếm thời đại chia cắt ra khỏi thời gian.

    Một văn bản, tuy khởi đầu là một hình chụp một khoảnh khắc, vẫn cần sự phân tích vượt ra ngoài cảm tính, ngoài giới hạn thời gian và không gian. Một bông hoa “thật,” như nguồn sáng tạo của nhà văn, cho dù bị cắt đứt, hình thể của hoa/những ý tưởng về một thời của DNM vẫn “sống”, vẫn cần được tranh luận, và “cân nhắc” lại, như các quý vị đã chứng minh ở đây. Trong khía cạnh nhìn nghệ thuật như một “di sản” thoát ra khỏi sự kềm hãm của chính trị và lịch sử, thì DNM không khác TTT. Như thông điệp “Thủy Đao Lan” của DNM, TTT đã gửi gấm di sản văn học miền Nam cho thế hệ mai sau qua những trích dịch từ bài điếu “The Phoenix and the Turtle” của Shakespeare (“Phượng Hoàng và Bồ Câu” — turtle ở đây là turtledove) như epigraph cho quyển Một Chủ Nhật Khác :

    Cái đẹp thật, sự hiếm quý
    Ân sủng rất mực giản dị
    Táng tro cốt nơi đây

    Cõi chết Phượng Hoàng nương náu
    Và ngực Bồ Câu đoan trinh
    Trong thiên thu an nghỉ

    Không lưu truyền tông tích
    Chẳng bởi tật nguyền
    Vì chưng hôn phối thanh khiết.

    Vẻ thật, không sao thật
    Dáng đẹp phô, hão huyền
    Sự thật cùng cái đẹp đã mai một.

    Trước quan khách đôi linh điểu
    Hằng chân thật hoặc mỹ miều
    Vọng gửi khúc kinh cầu ngưỡng mộ.

    (bản dịch Việt ngữ của Thanh Tâm Tuyền )

    (Beauty, truth, and rarity,
    Grace in all simplicity,
    Here enclos’d, in cinders lie.

    Death is now the Phoenix’ nest,
    And the Turtle’s loyal breast
    To eternity doth rest,

    Leaving no posterity:
    ‘Twas not their infirmity,
    It was married chastity.

    Truth may seem but cannot be;
    Beauty brag but ’tis not she;
    Truth and beauty buried be.

    To this urn let those repair
    That are either true or fair;
    For these dead birds sigh a prayer.

    William Shakespeare)

    Để phục hồi “Cái đẹp thật, sự hiếm quý” của Văn học Miền Nam ra khỏi sự kềm chế của chính trị và lịch sử, điều mâu thuẫn là chúng ta cũng cần thời gian, một không gian khác, nhiều cái nhìn khác, từ ảnh hưởng của một hay nhiều nền văn hóa khác, để thẩm định một cách chín chắn và đa diện nền văn học này. Do đó tôi hoàn toàn đồng ý với chị Nguyễn Tà Cúc là sự nghiên cứu khách quan và công phu về một nhà văn hay một nền văn học cần nhiều thời gian, đòi hỏi nhiều tư liệu, kinh nghiệm và tinh thần sáng tạo. Đây cũng là cách tôi hiểu câu cuối cùng trong bài phúng của Shakespeare, “For these dead birds sigh a prayer” (“Vì những con chim chết này gửi (thở dài/trối trăng) lời nguyện cầu.” (Bản dịch của TTT chưa được chính xác ở một vài chỗ, cho nên ở đây tôi xin mạn phép chỉnh lại câu cuối — nhưng điều này cũng cần được thảo luận trong một bài viết khác).

    Trân trọng,
    Đinh Từ Bích Thuý

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch