Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Tình yêu và danh dự và xót thương và tự hào và cảm thông (phần 2)


♦ Chuyển ngữ:
6 bình luận ♦ 4.03.2009

the boat australian cover Tôi dậy muộn ngày hôm sau. Tại quán cà phê, tôi ngồi với tập bản thảo đã được đánh máy, quan sát người qua lại. Họ cười nói, nhấm nháp cà phê, nghe họ trò chuyện, tôi sực nhớ mình đang ở một thị trấn nhỏ của một quốc gia xa lạ.

Tôi nghĩ đến ba tôi trong căn phòng mù mờ tối của tôi. Ba vẫn đóng kính cửa phòng khi tôi đi ra ngoài. Tôi nhớ lại hình ảnh ông khi tôi ngó vô phòng trước khi đi ngủ: ba tôi lọt thỏm dưới tấm chăn, cái đầu ông quá bé nhỏ ở giữa mấy cái gối của tôi. Ba tôi đã già đi rất nhiều từ mấy năm qua. Da ông tái bóng trong ánh bình minh xanh. Ba tôi hiện đang ở đây, với tôi; chỉ sự hiện diện của ông thôi cũng đủ làm cả cuộc đời tôi thành siêu thực.

Tôi đọc lại phần đã đánh máy: nghĩ đến ba ở lứa tuổi đó, vẫn còn là một thằng con nít, và con người mà ba tôi sẽ trở thành lúc về sau. Ở một bàn cạnh chỗ tôi, có gã thanh niên đang chìa ra một bên tai nghe của máy Ipod, ngoắc con bạn gái tới ngồi cạnh hắn. Cửa quán mở, gió lạnh ùa vào. Tôi cố gắng tập trung.

“Này!” Linda bước vào, mặc chiếc áo khoác lữ hành màu da cam đem theo mùi tươi mới của tất cả những nơi mà nàng vừa đi qua. Nàng chợt tắt nụ cười. “Anh làm gì ở đây thế?”

-“Anh đang viết dở truyện của mình.”

-“Ba anh có đây không ?”

-“Không”

Các bạn nàng đang đợi ở quầy. Nàng gật đầu với họ, đưa ngón tay trỏ ra hiệu muốn họ đợi, rồi nàng đi vòng ra đằng sau tôi, đặt nhẹ tay lên vai tôi. “Truyện anh đây à ?” Nàng cúi người bên tôi, mái tóc nàng mơn trớn da mặt tôi, lạnh và mịn trên má tôi. Linda nhặt vài trang, im lặng đọc. “Em không hiểu,” nàng nói, đặt từng trang giấy xuống mặt bàn, -“Anh viết truyện này với mục đích gì?”

-“Em muốn nói cái gì?”

-“Anh chưa bao giờ kể với em những điều này.”

Tôi nhún vai.

-“Ba kể cho anh chuyện này? Bây giờ hai cha con đã nói chuyện với nhau rồi à ?”

-“Không hẳn thế,” Tôi nói.

-« Không hẳn thế? ”

Tôi quay nhìn Linda, mắt nàng không phản chiếu ánh sáng.

“Anh biết em nghĩ gì không ?” Cô nhìn vào trang viết và nói “Em nghĩ rằng anh đang chạy tội cho ba anh.”

-“Chạy tội?”

“Anh đang lãng mạn hóa quá khứ của ba anh,” nàng tiếp tục, nhỏ nhẹ, “để giải nghĩa mọi chuyện mà anh kể ông ấy đã làm.”

“Đây chỉ là một truyện viết,” tôi nói. “Anh đã kể chuyện gì với em?”

“Anh kể rằng ba anh đã hành hạ anh.»

Thật là quá quắt, những chữ ấy và những điều liên tưởng đến chúng. Tôi nhìn khuôn mặt đẹp, từng trải của Linda, cặp mắt đánh bẫy ánh sáng của nàng–tôi có cảm giác cặp mắt ấy đang trừng trị tôi. “Anh chưa bao giờ nói thế.”

Linda lùi lại nửa bước. “Này nhé,” nàng đáp, giọng gần như vô cảm. “Anh chưa bao giờ giới thiệu ba với những người yêu cũ của anh, đúng không ?” Câu hỏi căng thẳng trên mặt nàng.

Tôi không nói gì cả, sau một lúc Linda gật đầu, cắn nhẹ góc môi trên của nàng. Tôi hiểu cái cử chỉ đó. Tôi biết lúc đó tôi phải đứng lên để kéo Linda về phía mình và thầm thì những lời dịu dàng vào tai nàng; nhưng tôi chỉ tiếp tục nghĩ về ba và những điều «chạy tội» cho ông. Những thi thể tan nát đè trên người ông. Ông đã nằm dưới mương làng mười tiếng đồng hồ, bùn sặc vào tận phổi, cho tới đêm. Tôi cảm thấy mình lại rơi vào những thói quen cũ.

Linda bước tới và hôn lên đầu tôi. Đó là một quy tắc của nàng: không bao giờ rời một cuộc cãi vã với người yêu mà không có một cử chỉ âu yếm. Tôi không nhìn lại nàng. Má tôi thường kể câu chuyện khi gia đình tôi mới tới Úc, chúng tôi sống trong một nhà khách ngoại ô, ở đấy người dân rất thân thiện – khi gặp nhau hay chia tay họ đều ôm hôn nhau nồng nhiệt. Ba tôi – ngỡ ngàng, thích thú – đã đặt tên phố ấy là “phố tình nhân.”

Tôi nhìn ra cửa sổ, trời đã tối, buổi tối xập xuống đen sẫm. Một người đàn ông và một người đàn bà ngồi đối diện trên chiếc bàn cao. Cô gái cúi người về phía trước, tỳ ngực vào bàn đưa hai cùi chỏ ra phía trước, bàn tay gần chạm vào người đàn ông. Khi nói chuyện hàm răng cô lấp lánh. Đằng sau họ là một phụ nữ và thằng con trai. “Mẹ không chơi đâu,” bà ta lẩm bẩm, tay lật giở cuốn tạp chí.

“L,” thằng bé nói.

“Mẹ bảo mẹ không chơi.”

xxx

Tôi tin như thế này: chúng ta chỉ tha thứ bất cứ sự hy sinh nào của cha mẹ khi nó được thể hiện không vì chúng ta. Với ba tôi, không có cái tên nào khác – chỉ có tên tôi và ông đã đặt tên tôi để nhớ lại miền đất mà ông phải rời bỏ. Sự hy sinh của ông đã hoàn tất, an bài, nó ràng buộc ông vào tất cả mọi chuyện đã xảy ra. So sánh với điều này, tôi đầy đẫy khiếm khuyết.

Năm mười sáu tuổi, tôi bỏ nhà đi hoang. Theo một đứa con gái và thứ thuốc gây ảo giác, theo niềm đe dọa của một mất mát lớn hơn bất kỳ sự mất mát nào tôi hình dung được lúc đó. Đứa con gái ấy có tất cả những điều mà ba tôi cấm đoán, nên đi theo nó là điều tôi thực sự muốn làm. Ba tôi nói đúng về con nhỏ: nó dậy tôi nỗi đau và niềm hứa hẹn. Chúng tôi như hai con thú trong bóng tối, cắn xé nhau, và sau này tôi không có lại được với ai nỗi đam mê lúc đó: cái thú được buông xuôi, dâng hiến toàn vẹn. Khi ba tôi biết chuyện má tôi bao che cho tôi, ông cho má tôi một tối hậu thư. Má tôi rời ba đến ở nhà người bạn có xưởng may, học cách may vắt sổ và tiếp tục gửi tiền cho tôi.

-“Tất nhiên má muốn về với Ba,” Má tôi nói khi tôi đến thăm bà mấy tháng sau đó. “Nhưng má muốn con cũng về nhà.”

-“Ba đâu có muốn con về.”

“-Con là con của Ba,” má nói. “Ba muốn con về.” Tôi giặt bộ đồng phục học đường và nhờ thằng bạn cắt tóc giùm. Tôi chờ hết giờ học rồi đáp chuyến xe lửa về nhà. Khi nhìn thấy tôi vào nhà, ba tôi đứng cáo đi vào nhà trong. Lúc ông trở lại phòng khách, tôi thấy ông đã thay áo sơ mi và tóc ông vừa vuốt nước. Tôi chợt thấy buồn nôn tuy tỉnh táo, mặt tôi vã mồ hôi lạnh. Căn phòng toàn mùi dầu bạc hà. Ba hỏi tôi ra sao, tôi nói tôi khỏe, và ông hỏi con bạn gái tôi ra sao, lúc ấy tôi có cảm giác ông nói với tôi không như một người cha nói với con mà như nói với ai ngang hàng, như nói với người dưng, và điều này làm tôi mất tự chủ. Tôi đã học biết cách làm phai lạt tình máu mủ nhưng những chuyện tôi làm không đời nào song song với cung cách lạnh nhạt của ba tôi. Cố gắng hết sức, tôi nhìn ba và yêu cầu ba đón má về nhà.

“-Còn con thì sao?”

“-Con sẽ không lấy tiền của má nữa.”

“-Con về đây,”cuối cùng ba tôi nói. Giọng ông nghẹn lại.

Ngay từ lúc đó, tình cảm của tôi như một guồng máy có đòn bẩy và ròng rọc; chỉ nhìn thấy ba tôi đã làm chúng xoay chuyển đến nỗi tôi không kềm giữ lại được.

“Không.” Câu nói bật ra khỏi miệng tôi.

“Về đi, rồi má sẽ về, ba hứa với con, từ rầy ba sẽ không bao giờ nói đến chuyện này nữa.” Ba nhìn xoay qua hướng khác, cười gượng gạo, rút khăn thấm mồ hôi trán. Trán ba lấm tấm mồ hôi. Ba đã bị chôn vùi trong vòng đai ấm ướt của những người thân trong gia đình, bị chèn ép dưới những cưộc đời của họ. Tôi muốn biết làm sao ba tôi đã thoát ra khỏi cái mương lầy đó. Tôi muốn biết làm thế nào để ba con tôi có thể hiểu được nhau. Tôi muốn biết tất cả, nhưng một nội lực vô hình đã đẩy tôi xa dần xa dần ba tôi với giòng thời gian.

“Cuộc đời nhiều giông nan,” Ba nói. Tôi phân vân một chút, không hiểu ông nói tục ngữ châm ngôn gì chăng. Ba tôi nhìn tôi, sắc diện ông như một mặt nạ sáng loáng. “Con chịu, rồi ba sẽ cho qua hết. Chỉ vậy thôi. Chỉ cần con nói con chịu.”

Tôi vẫn không chịu. Không chịu về ngày hôm đó, hôm sau, hay bất cứ ngày nào cho đến gần một năm sau. Khi tôi chịu trở về, đã hết nghiện và điêu luyện trong cách biết duy trì những điều riêng tư cho cá nhân tôi, ba tôi đã giữ lời hứa và không bao giờ nhắc lại chuyện cũ. Thật ra, từ khi tôi trở về nhà, ba tôi trở nên rất ít nói, và qua bầu không khí im lặng đã được thực tập nhuần nhuyễn, ba tôi, má tôi và tôi, tuy sống chung dưới một mái nhà nhưng vĩnh viễn theo đuổi những nẻo sống riêng của mình.

xxx

Căn hộ sực mùi tỏi chiên và dầu mè khi tôi bước vào. Ba tôi ngồi trên sàn phòng khách, trên chiếc chiếu mỏng mà ông mang theo. Đó là chiếc chiếu bằng mút trắng, giúp ông đỡ bị đau lưng. “Có đồ xào trong bếp đấy.”

-“Cám ơn ba.”

-“Ba đã đọc truyện của con sáng nay,” ông nói, “lúc con đang ngủ”. Ruột tôi thắt lại. Tôi đã quên không dấu tập bản thảo. “ Có mấy chỗ không đúng.”

“-Ba đọc rồi?”

“-Chuyện trước của con cũng có nhiều chỗ sai.”

Chuyện trước của tôi. Tôi nhớ lại cú phôn của má. Ba tôi, từ khi thất nghiệp sống độc thân ở Sydney, bắt đầu gửi email cho các bạn cũ từ ba, bốn chục năm về trước. Má khuyên tôi nên nói chuyện thường xuyên hơn với ba. Tôi gửi ba truyện ngắn về chuyến vượt biên của gia đình. Ba tôi không trả lời. Tôi từ bếp ra với một đĩa cơm đầy, tôi cố nhớ những chi tiết tôi chưa nghiên cứu kỹ. Có lẽ đoạn tả Rạch Giá – trước khi chúng tôi lên thuyền. Tôi dùng nĩa và lấy và để đậu phụ, đậu xanh và hạt điều. Ba đã đi chợ bữa nay. “Đó là truyện thôi mà ba, tôi nhai tỉnh queo, “Truyện không theo đời thật.”

Ba tôi ngừng lại một phút, và nói, “Thôi được, con.”

Đã từ lâu tôi chỉ ăn những món ăn liền, khoai tây chiên vụn, mì sợi và bánh pi-za. Tôi đã quên chuyện tôi hằng thèm được ăn cơm nhà. Khi tôi ăn, ba nằm dài trên tấm chiếu trắng.

“-Lưng ba sao rồi?”

“-Ba mới đi chụp CAT scan” ông nói “Nước từ tủy thần kinh của ba rỉ ra ở giữa những đọt xương sống.” Ba cười nhăn nhó, vắt chéo chân chữ ngũ. “Ba sẽ đưa con xem phim chụp.”

“-Có đau không ba?”

“-Đau chứ.” Ba tôi cười, như thể đang nói chuyện đùa. “Nhưng ba làm gì được đâu con. Chịu vậy thôi.”

-“Họ có mổ được không ?”

Tôi cảm thấy sự quan tâm nhạt dần. Tôi là thằng con hư. Ba tôi ly thân má tôi khi tôi bắt đầu vào trường Luật, và từ đó ông hay lặp đi lặp lại chuyện bị đau lưng– ông luôn nấp sau cái triết lý nhà Phật về nhân quả, nên cái bản ngã lạnh lùng của tôi luôn nghi ngờ rằng ông phóng đại, nhằm lôi kéo sự quan tâm của tôi rồi lại xua đuổi sự quan tâm ấy. Ba đã bắt tôi đi học lớp karate tới khi tôi mười sáu, trong một những lần cự cãi cuối cùng giữa hai cha con, ông tiến đến phía tôi và tôi đã đứng thủ thế. Ông cười khi thấy bộ mặt khiếp đảm của tôi. “Được đấy,” ông nói. Cha con tôi thường bị lôi kéo vì những mặc cảm tội lỗi dây dưa. Tôi đã dùng hết nghị lực của mình để hiểu rằng tất cả mọi điều mà cha con tôi phải đương đầu, chúng tôi cũng đã phải đối phó cho cả người kia.

-“Con muốn nói chuyện với ba.”

“-Khi về già, cơ thể con người ta bị bại xuội,” ông nói

-“Không, con muốn nói về cái truyện ngắn kia.”

-“Nói chuyện à ?”

-“Dạ.”

-“Chuyện gì vậy?” Ông tỏ vẻ thích thú.

-“Về những lỗi của con,” Tôi nói.

xxx

Bạn hỏi vì sao tôi đến Iowa, tôi sẽ trả lời vìNam Le with Razor tôi là luật sư, và vì tôi không phải là luật sư. Mỗi 24 giờ, tôi thức dậy lúc buổi sáng còn đầy sương mù, leo lên xe buýt, xe điện, thang máy, chẳng nói với ai một câu, mặc loại quần áo làm rát da, tay cầm cốc cà phê nóng đến văn phòng làm việc tại tòa cao ốc cao nhất và bọc nhiều kính nhất ở Melbourne. Thời gian tính theo đơn vị 6 phút một, bạn bè ăn trưa hết 8 đơn vị. Tôi ghét cái việc tôi đang làm và tôi cũng ghét chuyện tôi làm việc thành công. Thật ra, tôi ghét điều biết công việc mình làm đã làm ba tôi hãnh diện về tôi. Khi tôi nói với ba tôi sẽ bỏ việc làm để đi Iowa học viết văn, ông nói, “Trâu buộc ghét trâu ăn.” Lúc ấy ba tôi không còn khả năng kiểm soát đời tôi. Tôi đã hai mươi lăm tuổi.

Đừng viết những gì người khác không viết được, mà hãy viết những gì chỉ có mình viết được. Tôi mới đọc lại được những giòng này từ một quyển vở cũ. Người viết câu ấy hẳn chưa biết rồi thời gian sẽ phản bội, rồi tiếng nói sẽ chỉ là những âm thanh vang vọng, những giòng chữ ta từng yêu quí rồi sẽ úa tàn trên trang giấy.

“Sao con viết chuyện này vậy ?” ba tôi hỏi.

“Con nghĩ nó là một câu chuyện hay.”

“Nhưng có nhiều đề tài khác con có thể viết được mà.”

“Nhưng con thấy chuyện này là chuyện quan trọng. Con muốn cho mọi người biết tới nó.”

“Con chỉ muốn sự thương hại của họ.”

Tôi không biết có nên hiểu đó như là một câu hỏi. Tôi cảm thấy tự ái. “Con muốn mọi người ghi nhớ lấy quá khứ,” tôi nói.

Ba tôi im lặng một lúc lâu. Sau đó ông nói, “Chỉ có con nhớ, ba nhớ. Mọi người đọc xong, vỗ tay rồi quên hết.” Ông nghiêm mặt một lúc. “Tốt hơn, đôi lúc mình cũng cần quên đi, đúng vậy không ?”

“Con vẫn sẽ viết xuống chuyện này,” Tôi nói. Cảm xúc trở lại trong tôi – tôi nhớ lúc mình gõ máy chữ đêm hôm trước. Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu tôi: “Nếu con viết một câu chuyện thật,” tôi nói với ba, “con sẽ bán nó dễ hơn.”

Ba tôi nhìn tôi thăm dò, như lần đầu thấy được điều gì đó trên mặt tôi. Cuối cùng ông nói, giọng điềm tĩnh, “Ba nói con nghe.” Ba tôi ngưng laị suy nghĩ. “Tin ba đi con, đó không phải là chuyện con sẽ viết được đâu.”

“Dù sao con vẫn cứ viết mà ba,” tôi lập lại.

Ba tôi bất giác phá lên cười. Cười thật lớn và sảng khoái. Tôi ngỡ ngàng. Đã quá lâu tôi không nghe ông cười thoải mái như thế. Tôi không hiểu sao nhưng cũng bắt đầu cười phá lên. Cổ họng ba tôi rì rầm mấy tiếng “Ừ …ừa ..ừa…” mắt ông ánh lên vui vẻ. “Được rồi. Được rồi. Nhưng để ngày mai đã.”

“Nhưng mà …”

“Để ba nghĩ đã,” ông nói. Ba tôi lắc đầu và nói trong hơi thở, “Con tôi là nhà văn. Có thực mới vực được đạo.” Với cái bụng rỗng, con đi được bao xa?

Một người làm quan, cả họ được nhờ,” Tôi đáp lại. Ông nhìn tôi ngạc nhiên và lại cười lớn, gật đầu một cách quả quyết. Tôi đã ấp ủ câu châm ngôn này từ bao lâu nay.

xxx

Buổi chiều. Ba con tôi ngồi đối diện nhau ở bàn ăn: Tôi hỏi ba những câu hỏi và ghi chép trên một tập giấy vàng, Ba nói. Ba kể về thời thơ ấu, về gia đình. Ông kể về vụ Mỹ Lai. Lúc ấy, ông dừng lại.

“Con không mời ba một chút à ?”

“Cái gì vậy ba ?”

“Trời, rượu ngon thế mà dấu uống một mình sao ?”

Ráng chiều lọt qua cửa sổ, đóng khung ba tôi trong một khung mầu bạc, từ từ chìm xuống phía chân ông và nhạt dần trong lúc ông kể chuyện. Tôi tiếp thêm rượu vào hai cái ly. Ba tôi kể át tiếng xe cộ giờ tầm ồn ã; ba tôi nói thao thao cho tới khuya. Điện thoại reo vài lần, tôi rút phích cắm. Ba tôi kể về việc ông bị động viên đi lính quân đội miền Nam.

“Sau khi lính Mỹ đã làm chuyện tày trời? Sao ba lại chiến đấu trong phe của họ?”

“Ba không còn gì khác ngoài sự căm ghét,” ông nói “nhưng ba cũng có quá đủ căm ghét cho tất cả mọi người.” Ba tôi dừng ở chữ ghét như cách người cha nói chữ này lần đầu trước mặt đứa con nhỏ, thử thăm dò sự hiểu biết của đứa con, tìm xem có điều gì cố hữu trong chữ và điều gì đã được học hỏi từ ý nghĩa của nó.

Ba tôi kể cho tôi nghe về chiến tranh Việt Nam. Ông kể chuyện gặp gỡ má tôi. Đám cưới hai người. Rồi Sàigòn thất thủ năm 1975. Ông kể về thời gian bị bắt đi trại cải tạo, những lời tự thú ép buộc, chuyện bị nhồi sọ những tư tưởng chính trị, nạn đói. Chuyện lao động hàng ngày làm lưng ông bại hoại. Những chuyện hành quyết tù nhân. Ba kể về chuồng cọp và xà lim biệt giam, các kiểu tra tấn: kiểu máy bay, kiểu hon da, kiểu ô tô. “Tụi nó trói người ta bằng cách cột chặt hai ngón tay cái, một tay quoặt ra đằng sau qua vai, một tay xiết từ phía trước. Hoặc trói ngón giữa bàn tay vào ngón chân cái–”

Ba tôi biểu diễn. Một ông già vặn vẹo người trong những tư thế yoga, trông ông hơi tức cười. Lúc biểu diễn cách tra tấn kiểu ô tô ông hơi rùng mình, sau đó, một nụ cười hé trên môi, ông nhờ tôi giúp ông nằm lên tấm chiếu. Tôi nôn nả đợi ông co dãn. Ông lại bảo tôi giúp ông. Đây này, ấn chỗ này, mạnh hơn chút xíu. Và ông lại tiếp tục kể, giọng ông lúc trầm lắng, lúc khôi hài. Có lúc ba tôi chớp mắt lia lịa, như ông đang bị lúng túng vì chuyện gì. Mặc dù lúc nào ông cũng nói những lời lẽ về tinh thần khoan hòa đạo Phật, tôi hình dung ba bị kiềm tỏa trong sự phẫn uất, ngày đêm bị bắt buộc quay nhìn những trò ác của quá khứ, trong sự bất lực hoàn toàn. Nhưng đó chỉ là sự tưởng tượng của tôi mà thôi. Tôi không thể chứng minh rằng ông chưa trút bỏ hết những đau buồn.

Ba kể rằng, sau khi được thả ra khỏi trại tù nơi ba bị giam trong 3 năm trời, ba tổ chức chuyện vượt biên cho cả nhà. Đó là năm 1979. Lúc ấy ba tôi hai mươi lăm tuổi, và đã sinh tôi rồi.

Cuối cùng, lúc ông đi nghỉ, mặt vẫn bừng hơi rượu Scotch, tôi nhìn ông từ cửa phòng ngủ. Tôi cũng say mèm. Trong lúc nhìn ba, tôi có cảm giác mình đang mơ. Tôi mơ tôi là ba tôi, đang nhìn đứa con ngủ, tự nhắc nhở mình rằng, vì con mình, mình phải cố quên đi mọi chuyện. Phải quên đi cái quá khứ to tát hơn cáo trạng, hiểm nguy hơn ký ức. Tôi lắc mạnh người để tỉnh ngủ và đi tới bàn viết. Tôi cẩn thận duyệt lại 45 trang đã ghi chép trong lúc ba tôi kể chuyện. Rồi tôi đọc lại bản nháp của truyện ngắn tôi viết hai đêm về trước. Tôi xếp chúng vào một bên. Từ lúc đánh máy, tôi không nhìn lại chúng nữa.

Bình minh lên lặng lẽ đến nỗi tôi không nhận ra cho đến lúc chợt nghe thấy tiếng còi bíp bíp của xe rác–ngoài trời không khí xanh như thép, mặt đất thì trắng tinh. Nóc mái kho tôn cũng trắng xóa. Những bông tuyết đầu mùa.

xxx

Khi tôi dậy ba không còn trong nhà nữa. Một mẩu giấy để trên bàn: Ba đi dạo. Ba có cầm theo truyện của con để đọc. Tôi ra ngoài, ngồi trên cầu thang thoát hiểm tay cầm cốc rượu Scotch, chờ ba. Trước cơn lạnh, tôi uống rượu, để hơi ấm của rượu luồn lách như những tơ sợi dần dần lan khắp cơ thể. Tôi chỉ ngủ có ba tiếng, còn quá mệt mỏi để cảm nhận thấy điều gì ngoài sự yên tĩnh. Cây hoa phong lữ ở tầng nhà bên cạnh đã bị tuyết phủ đầy. Tôi đảo mắt nhìn qua cửa sổ nhà hàng xóm và chẳng thấy gì động đậy.

Ba tôi sẽ đọc, với thứ tiếng Anh học từ sách, và ba sẽ nhận ra mình trong truyện tôi viết qua một ánh nhìn khác. Ông sẽ nhận ra tôi. Ba sẽ thấy mạnh mẽ biết bao những trải nghiệm trong đời ông, cao quý biết bao những nỗi đau – và cách tôi đã làm những nỗi đau ấy thốt lên tiếng nói để vượt qua sự hiện hữu của chúng. Ba sẽ hài lòng về tôi.

Tôi ực nốt cốc Scotch. Mười một rưỡi sáng, bầu trời tối xẫm, xám nhòa. Truyện ngắn của tôi phải nộp trưa nay. Tôi xỏ găng tay, nhấc chiếc xe đạp ra khỏi chỗ treo xe. Ba sẽ hài lòng về tôi. Tôi đạp xe qua các dẫy nhà, đi lên, xuống con đường Summit tìm kiếm hình bóng ba tôi trong chiếc áo khoác của mình. Phố rất vắng. Tuy tuyết đã tan, lớp băng mỏng trên mặt đường làm tôi phải đạp xe chầm chậm. Mắt cay vì lạnh, hơi thở phà như sương mù trước mặt, Tôi lượn xuống phố, băng qua khuôn viên đại học trường, thảm cỏ đóng băng cứng ngắc, gãy vụn ràn rạt dưới bánh xe đạp. Ánh đèn mờ nhạt hắt qua những khung cửa sổ treo màn. Trên đường Washington, một cơn gió chợt tốc đến, làm tung tàn, rụng rời những cành lá du, thổi bay bao nhiêu tàu lá, dày kịt, là đà, chạm đất không một âm thanh.

Tôi đang đạp xe qua quá nửa cầu thì thấy ông. Tôi dừng lại. Ba tôi đứng bên bờ sông. Không nhìn rõ mặt ông nhưng đúng là ba tôi, nhỏ người, nhỏ đầu trong tấm áo lùng bùng của tôi. Ba đang đứng với gã đàn ông vô gia cư, cả hai cùng nhìn chăm chú vào cái thùng đốt ga đang cháy phừng. Khói lên đen đậm. Đột nhiên tôi nín thở, choáng người. Tôi buồn nôn, linh cảm được điều ông đã làm. Tàn tro, nhờ gió, trôi xa khỏi chỗ tôi đứng, rơi bay về phía sông. Ba tôi vỗ vai gã đàn ông, moi ra ít tiền từ túi hậu và đặt vào hai bàn tay lớn khổ, đeo găng mới của y. Rồi ba tôi đi lên cầu, đó là lúc ông nhìn thấy tôi. Một cảm giác bộn rộn xâm chiếm tim tôi. Hai tay ba tôi trống hoảnh.

Nếu như lúc đó tôi biết được điều mà về sau tôi mới hiểu, thì tôi đã không nói những điều tôi đã nói với ba tôi lúc ấy. Tôi sẽ không nói với ông rằng ba không hiểu gì cả — vì rõ ràng, ông hiểu hết. Tôi sẽ không nói rằng việc ba làm không thể tha thứ được. Rằng tôi ước giá ba đừng bao giờ đến thăm tôi, hay nói rằng tôi không nhìn nhận ông là ba tôi. Nhưng lúc đó tôi không biết gì cả, và trong lúc tôi chờ, cảm nhận cơn gió đang đổi hướng, tôi chỉ thấy một người đàn ông mặc chiếc áo khoác xộc xệch đến thảm hại, xoa bàn tay nhọ đen vào nhau, bước qua làn khói đượm những vụn tro, cuộn bụi còn dính lửa. Ba tôi đã tự hủy mình một lần nữa chỉ vì tôi. Con sông lúc này ở phía sau ông. Gió đầy mùi axít. Trong ánh sáng mờ ảo, tôi quay mặt, nhìn xuống dòng sông. Sắp đóng băng, giòng sông áng đầy lên những vết dộp cương cứng. Nước sông vẫn chảy, đen và gợn sóng lăn tăn. Tôi chợt nhận ra rằng, phải mất hàng giờ, đôi lúc cả mấy ngày trời, để mặt sông đóng băng – gói trọn trong nó một không gian hoàn hảo, phẳng lì như thủy tinh— và chuyện không gian phẳng lạnh này sẽ bị nứt rạn vì một viên sỏi nhỏ, ném xuống mặt sông, như một âm tiết.

bài đã đăng của Nam Lê


6 bình luận »

  • Sất viết:

    Vì thông tin Anh NamLê này đọat giải thưởng văn bên Úc cũng công bố rộng rãi báo chí VN nên mình cũng tò mò. Tuy nhiên đọc xong truyện ngắn này thì thấy tội nghiệp và thất vọng cho người Việt mình quá. Vì vấn nạn, nỗi đau đớn gì đó của họ (người Việt) quá lớn hay sao mà nhân vật chính trong cuốn truyện diễn đạt mình diễn vai một cậu học trò với “nỗi đau thuyền nhân VN” của ông bố mà cậu diễn hết sức vụng về và hời hợt. Cả phần 1 câu chuyện cậu phải viết, khẳng định mãi là cậu bỏ nghề luật đi học viết văn rồi phải viết một cái” truyện ngắn trả bài”, cậu nghe lời khuyên của bạn trong lớp viết văn nên cậu viết về bố cậu. Cùng thời điểm đó thì bố cậu đi rất xa tới thăm cậu vì cậu đang làm một việc mà bố cậu rất hài lòng, nghĩa là trở thành một nhà văn. Cuối cùng là bố cậu đọc câu chuyện mà cậu viết mà vẫn “không hết đau đớn vì cậu”, thế là bố cậu mới… đi tự tử, cậu đi theo bố cậu, quan sát và hoàn toàn không hiểu được chuyện này, cảm giác của cậu là “buồn nôn”.

    Đọc câu chuyện của Nam Lê tôi lại nhớ bài nghiên cứu công phu của ông Nam Dao về những “người viết trẻ tại Hải ngoại” đưa trên trang phụ của damau là kesach.org đã lâu. (http://kesach.org/archives/570#comment-233). Quả thực nỗi đau của mấy người Việt SG trước năm 75 vượt biển giờ vẫn còn “trôi nổi bồng bềnh” nhờ mấy người Việt trong nước cảm thông thấu hiểu hóa giải hộ thì sự tình quả là mệt mỏi, ^^.Theo lời ông Nam Dao: “các tư tưởng, rồi giá trị làm giàu tính văn chương trong cộng đồng những người viết trẻ mà ông nghiên cứu là không mới, không có tham vọng gì to tát lớn lao. Đó chỉ là những tâm sự đơn giản co cụm, cho vui của những người trẻ gốc Việt sống tại Hải Ngoại. Tâm thức hòa nhập vào xã hội Mỹ với tham chiếu văn hóa gốc của mình cũng ít mà ý thức tác động lên văn hóa Việt cũng không có…”

    Tôi cho rằng, giá trị được nêu ra khi giải thưởng văn chương tại nước Úc, Nam Lê đoạt giải chỉ như một ghi nhận cho một vấn đề mà cộng đồng Việt phải nên tự nhìn lại chính mình, đừng để làm phiền cho người khác với nỗi đau của mình (chẳng hạn). Tất nhiên, điều này thì không thú vị lắm.

  • HM viết:

    Có lẽ độc giả Sất cảm nhận ý của truyện ngắn của Nam Lê hơi … chủ quan ?.
    Bố của nhân vật trong truyện không nhất thiết rất « hài lòng » với nghề viết văn của nhân vật (có thể là chính cậu là Nam Lê), và ông Bố hoàn toàn không có ý định « tự tử », ông ấy có lẽ vì không hiểu ý của con mình trong câu chuyện (hoặc hiểu theo cách của ông – như nhân vật đã kể) nên ông ta đốt bản thảo « truyện ngắn trả bài» đúng ngày nộp bài và là bản gõ tay (không phải bản vi tính) nên sẽ mất luôn và do đó cái hố ngăn cách giữa hai thế hệ hậu chiến càng lớn thêm….như mặt hồ băng giá…

  • Sất viết:

    Cảm ơn bạn HM. Tôi đồng ý với bạn là có thể ông bố trong câu chuyện hoàn tòan không có ý định tự tử( vì nếu vậy thì lố quá). Tuy nhiên câu văn dịch trong phần cuối truyện thì làm tôi thấy có một “kiểu chơi chữ nào đó ở đây” mà tôi đã hiểu sai thì phải. Câu văn :”… Ba tôi đã tự hủy mình một lần nữa chỉ vì tôi…”. Có lẽ cần phải dịch là ” ba tôi đã tự hủy-hình ảnh của ông trong trái tim tôi( trong bài văn trả bài đó)- một lần nữa vì tôi.”.

    Dù sao thì với thêm chi tiết này, tôi vẫn thấy chưa đủ cho khát vọng “nhà văn” của nhân vậtchính trong truyện trở nên nghiêm túc. Tham vọng/khát vọng này dường như vẫn là một sự tình ” trống rỗng, hời hợt hơn là một sự bế tắc có thật nên chúng có phần kịch tính..” trong tham chiếu với chính bản thể anh ta. Có lẽ, điều này chính là lý do mà ông bố “nhắc nhở ” một cách lỗ mãng, khiến anh con trai cảm thấy tuyệt vọng( chẳng hạn). Có thể lý giải chi tiết hành vi ” đốt bản thảo ” của đứa con-nhân vật trong câu chuyện.

    Tuy nhiên tôi nghe nói, trong tập truyện đạt giải này, có 7 truyện thì có 5 truyện nói về những đề tài khác “đề tài Việt Nam”. Vậy nên tôi hi vọng những truyện này thể hiện thực sự tư duy sắc sảo, sự chủ động và cá tính của NamLê(chẳng hạn) trong “vai một nhà văn” mà anh chờ đợi khi soi chiếu mình với ” ..sự tàn khốc của lịch sử gia đình..” để anh thấy anh không là người ngoài cuộc- với sự tình đó.

  • Một Độc Giả viết:

    Tôi đọc truyện này từ một cái link trên mạng hình như là Zoetrope All Story. Tôi có so sánh sơ qua với truyện in trong sách nhưng không xem kỹ nên không biết sự khác biệt có nhiều lắm không. Truyện ở trên trang Zoetrope đã không nói thẳng lý do tại sao người bố phá hủy bài viết của Nam, nhân vật trong truyện, nhưng tác giả gián tiếp đưa ra nhiều lý do, thí dụ như người bố hỏi Nam viết lại chuyện quá khứ của ông làm gì vì người ta sẽ nghĩ là mình tìm kiếm sự thương hại, người ta đọc, vỗ tay rồi quên, còn những người thật sự nếm mùi chiến tranh, cải tạo, và vượt biển lại thêm một lần sống lại với cái quá khứ đau đớn. Ông bố cũng gián tiếp cho là truyện ngắn The Boat không đạt vì không nói được hết sự thật. Nam, nhân vật trong truyện cũng đã nói trước đó là ông bố hay đòi hỏi sự toàn hảo ở người con (thí dụ như khẽ vào tay nếu đàn không đúng). Do đó, tôi ở vị trí người đọc hiểu ngầm là ông bố đốt bài viết vì nhiều lý do nhưng trong đó không có lý do tự hủy mình.

    Tôi đọc truyện này thấy rất hay. Đưa vào truyện ngắn ba bi kịch lớn của người dân Việt Nam là một tham vọng nhưng Nam Lê (tác giả) chỉ dùng ba bi kịch lớn này làm chi tiết để xây dựng nhân vật người bố. Theo tôi Nam Lê đã nói lên sự xung đột giữa hai thế hệ già trẻ, hai văn hóa đông tây, tình cảm giữa cha con rất thành công. Tôi cũng không nghĩ Nam Lê bóc lột chuyện sắc tộc vì anh không thể viết cái gì khác hay hơn. Anh đã gián tiếp nói qua bài viết là thật ra có cái gì hay hơn, đáng nói hơn là sự hy sinh, lòng nhân đạo, lòng tự hào của những người đối diện với cái chết trong chiến tranh và trong khi đi tìm sự sống. Những điều này anh chỉ có thể biết được qua người bố (đầy lỗi lầm) của anh.

    Tôi cũng có đọc truyện ngắn mang tên The Boat nhưng không thích bằng truyện này. Còn năm truyện kia thì đọc qua nhưng không thấy thu hút bằng truyện này. Văn của Nam Lê rất trau chuốt, hình ảnh đẹp, giọng văn rất lôi cuốn, nghe anh đọc vài đoạn trong bài này có nhiều chỗ rất dí dỏm. Mỗi người một ý.

    Thật ra mà nói chẳng ai thấy Nam Lê đã làm phiền độc giả với nỗi đau của anh (hay của dân tộc Việt Nam) bởi vì nếu có người ta đã chẳng in sách và phát giải thưởng cho anh. Rất nhiều báo chí đã khen ngợi tập truyện này. Nếu người ta thấy phiền thì người ta đã không thèm đọc, và nếu có đọc thì cũng chẳng khen. Sách báo ở Mỹ, Anh, Úc nhiều vô số. Là người ngoại quốc rất khó lọt vào thị trường và có lọt vào thì cũng như một cái cây trong cánh rừng. Được chú ý chọn ra trong cánh rừng thì cây này phải có cái gì đó vượt trội hơn các cây khác.

  • HM viết:

    Bạn Sất viết rất đúng: câu văn:”tôi chỉ thấy một người đàn ông mặc chiếc áo khoác xộc xệch đến thảm hại, xoa bàn tay nhọ đen vào nhau, bước qua làn khói đượm những vụn tro, cuộn bụi còn dính lửa. Ba tôi đã tự hủy mình một lần nữa chỉ vì tôi.” ở đây sẽ gây hiểu nhầm (misconception) là người cha tự tử vì cậu con, thực ra ông ấy chỉ tự đánh mất hình ảnh của mình trong tim người con (cũng vì cậu ta hay nhân danh cậu ta), nguyên văn:who had destroyed himself, yet again, in my name, người đàn ông ấy đã hủy hoại mình một lần nữa (tức là trước đây ông ấy đã “chết” một lần rồi,nay lại “chết” một lần nữa tức là ẩn dụ mà thôi-HM) nhân danh tôi.

    Sau đây là một cách dịch khác song hành với bản dịch trên: trong bản dịch này người dịch muốn tái tạo lại câu chuyện hơn là dịch sát từng câu từng chữ rất dễ gây misconception vì cách hành văn trong tiếng Anh và tiếng Việt khác xa nhau và ẩn ngữ (phía sau câu văn lại càng khác)…trong một ý kiến nhỏ trên tienve tôi đã nêu vấn đề này: tiêu chí dịch thuật là tín-đạt-nhã, nhưng vì techically right đôi khi sẽ gây ra misconception, tức là nếu dịch quá máy móc cứng nhắc (mặc dù về kỹ thuật là đúng 100% nhưng sẽ có thể gây rối trí (confusing) cho người đọc và có thể do đó hiểu sai câu văn…

    If I had known then what I knew later, I wouldn’t have said the things I did. I wouldn’t have told him he didn’t understand– for clearly, he did. I wouldn’t have told him that what he had done was unforgivable. That I wished he had never come, or that he was no father to me. But I hadn’t known, and, as I waited, feeling the wind change, all I saw was a man coming toward me in a ridiculously oversized jacket, rubbing his blacksooted hands, stepping through the smoke with its flecks and flame-tinged eddies, who had destroyed himself, yet again, in my name. The river was behind him. The wind was full of acid. In the slow float of light I looked away, down at the river. On the brink of freezing, it gleamed in large, bulging blisters. The water, where it still moved, was black and braided. And it occurred to me then how it took hours, sometimes days, for the surface of a river to freeze over–to hold in its skin the perfect and crystalline world–and how that world could be shattered by a small stone dropped like a single syllable.

    Nếu như tôi biết trước điều đã xảy ra, chắc chắn tôi đã không phải nói những điều tôi đã nói với Ba tôi lúc ấy. Tôi không phải bảo ông rằng Ba không hiểu gì cả — rõ ràng, ông đã hiểu. Tôi đã không phải nói với Ba rằng việc Ba làm không thể tha thứ được. Rằng Tôi mong giá Ba đừng đến, hay ông chưa từng là Ba tôi. Nhưng tôi đã không biết, và tôi chờ, gió đang đổi, tôi chỉ thấy một người đàn ông mặc chiếc áo khoác quá khổ, xoa bàn tay nhọ đen vào nhau, bước qua làn khói với những tàn giấy cháy nham nhở, người đàn ông ấy đã tự hủy mình một lần nữa trong mắt tôi. Con sông phía sau ông. Gió đầy mùi axít. Tôi quay mặt đi trong ánh sáng ảm đạm và nhìn xuống dòng sông. Dòng sông sắp đóng băng, trở nên lớn và đầy hơn. Nước sông vẫn chẩy, đen và gợn sóng lăn tăn. Chuyện ấy đã xảy ra với tôi, sau đó dòng sông từ từ đóng băng thật chậm – mặt sông trở nên một tấm pha lê phẳng lỳ hoàn hảo, làm sao cái mặt gương băng giá ấy có thể vỡ tan được ra bởi sự va chạm của một âm tiết.

  • Phạm lâm viết:

    Tôi xem blog của Nguyễn Quang lập rồi qua 1 đường linh để đọc truyện này. Tôi nghĩ đây là một câu chuyện hay, nó hay bởi nó rất  chân thực ,  chân thực và giàu cảm xúc.
    Tôi cũng thấy ban Sất quá chủ quan khi có những nhận  xét như trên.
    Tôi đồng cảm với người viết có “tên” Một Độc Giả; Cảm ơn ” Tạp chí da màu” đã giúp tôi  xem truyện này. Cảm ơn  Lê Nam tác giả câu chuyện

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)