Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Nhà Tù Collectors


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 28.07.2016

 

Daniel Alarcón (sinh năm 1977 tại Lima, Péru), theo gia đình sang định cư ở Birmingham, Alabama năm ba tuổi.  Ông có bằng cử nhân khoa nhân chủng học từ Đại học Columbia và bằng thạc sĩ khoa viết văn tại Iowa Writers’ Workshop, và sáng tác trong cả hai ngôn ngữ Anh và Tây Ban Nha. Hiện ông là nhà văn thỉnh giảng tại Mills College và Đại học California College of the Arts. Được tạp chí Granta tôn vinh là một trong các “Nhà Văn Trẻ Sáng Chói của Hoa Kỳ” và trong số “39 nhà văn Nam Mỹ chưa đến 39 tuổi” vào năm 2008, những truyện ngắn của Alarcón đã được xuất bản trong các tạp chí văn học như The New Yorker, Harper’s, Granta, và Virginia Quarterly. Tuyển tập truyện ngắn đầu tay của Alarcón, War by Candlelight (Chiến Trường Bên Ngọn Nến), đoạt giải Văn Bút Hoa Kỳ/ Quỹ Hemingway vào năm 2006. Ông cũng tham dự thường xuyên vào những sinh hoạt báo chí và văn hóa với các bạn văn Nam Mỹ, và nhiệt tâm phổ biến các tác phẩm của họ – như việc ông nhận trách nhiệm chủ biên Số Chuyên Đề Văn Chương Nam Mỹ của tạp chí Zoetrope: All-Story vào năm 2009 (một số các truyện ngắn trong Zoetrope đã được dịch và xuất bản trong Chuyên Đề Văn Chương Nam Mỹ của Da màu hiện nay).

Vào mùa xuân năm 2013, Daniel Alarcón tham dự ngành phóng sự điểu tra tại đại học Berkeley qua vị trí một học giả truy cập để lấy kinh nghiệm khai triển quá trình sáng tác. “Nhà Tù Collectors” được trích từ tiểu thuyết At Night We Walk in Circles (Đêm Đêm Chúng Tôi Đi Lòng Vòng”) (nxb Riverhead Books, 2013).

 

 

Thames Estuary, England

Carl de Keyzer – Cửa Sông Thames (Thames Estuary) – trong Dự án nhiếp ảnh Moments before the Flood

Trong ba anh em thì Rogelio là đứa nhỏ nhất, gày gò và ít nói nhất. Vì là con trai nên nó ngủ chung với thằng anh Jaime; và những kỷ niệm sâu sắc êm đềm nhất (thuở đầu đời) trong đời nó là những đêm khuya khoắt ấy, khi hai anh em tán dóc trước khi ngủ-như những thằng bạn thân. Thế rồi Jaime lên San Jacinto, và không bao lâu sau là cha chúng qua đời, lúc đó Rogelio mới tám tuổi. Trong những tháng sau đó thì Rogelio bắt đầu bỏ học, lang thang nhiều giờ trên những ngọn đồi gần thị trấn. Nó thích được một mình. Nó lượm mấy mẩu gỗ, rồi lấy đồ nghề của bố mà chạm khắc chúng thành những con vật bé xíu-chim chóc, thằn lằn, đại loại thế- rồi để trong một cái hộp cất dưới gầm giường. Chúng trông không hẳn giống thật, nhưng lại gợi hình một cách đáng ngạc nhiên. Thế rồi, năm mười hai tuổi, nó đã đem tặng một đứa con gái mà nó thích. Con bé đưa đôi tay run rẩy ra nhận món quà, với vẻ hoảng sợ trên gương mặt; và những ngày sau đó thì con bé cứ lảng tránh mắt nhìn của thằng nhỏ. Mấy đứa khác cứ xầm xì gì đó mỗi khi thấy Rogelio lại gần. Như vậy cũng là quá đủ, chứ đâu cần phải nghe chính xác tụi nó nói cái gì. Đến năm học kế thì Rogelio chính thức bỏ học, và cả mẹ lẫn chị của nó đều thấy là không có lý do thực tế gì để nó ở lại cái thị trấn này; thế là nó lên đường đến ở với thằng anh Jaime ở San Jacinto.

Rogelio nhỏ con so với tuổi, nhưng dày dạn, khéo tay và hữu hiệu với nắm đấm. Nó không nóng nẩy như thằng anh. Ngược lại, nó có sự trầm tĩnh mà cả nhà đều thấy gần như đáng lo sợ. Suốt cuộc đời nó đã bị hất hủi, hay ít nhất đó cũng là cảm giác của nó; và nó đã quen với cảm giác ấy. Nó rất thương thằng anh, luôn ngước nhìn ngưỡng mộ, và chả bao giờ bận tâm là liệu Jaimie có thương mình hay không. Nó có thể làm theo sự chỉ dẫn, khả năng thao tác cơ khí cũng tàm tạm; nhưng – không như những bạn bè cùng trang lứa- nó không học đọc được. Jaimie đã từng thử dạy em đọc, nhưng rồi cũng bỏ cuộc vì thằng nhỏ cứ lẫn lộn các con chữ với nhau. Mười mấy năm sau, Henry Nuñez, một bạn tù của Rogelio ở nhà tù Collectors, đã giải thích cho nó chứng bệnh gọi là chứng khó đọc (dyslexia). “Vậy thì sao?”, Rogelio hỏi, nhưng vẻ mặt không tỏ vẻ gì là hối tiếc, hay xấu hổ, hoặc thậm chí tò mò – cứ như thể là hắn chẳng buồn bận tâm xem cuộc đời mình sẽ khác đi thế nào nếu như hắn được biết điều này sớm hơn.

Trong vài năm đầu ở San Jacinto hắn làm nghề rã xe tải mà thằng anh đã mua được với giá rẻ bèo. Hai anh em cùng mầy mò gạ gẫm lôi kéo đống rỉ sét trở về với đời. Mỗi cỗ máy đều khác nhau, chúng đòi hỏi một kiểu giải phẫu kiên trì và phức tạp. Có những bộ phận phải thay thế, phục chế, hoặc được dùng lại. Công việc cũng sáng tạo không kém gì sửa chữa. Sau khi một chiếc xe tải được hồi sinh, thì bọn hắn bán đi, rồi tái đầu tư tiền lãi, lúc đầu cũng chẳng nhiều nhặn gì, nhưng hai anh em chi tiêu rất cẩn thận. Trong một tấm hình chụp vào thời kỳ này, người ta thấy Rogelio cởi trần ngồi trên một chiếc vỏ xe tải bự, trông thon thả mà dẻo dai, với vẻ mặt trong trẻo như con nít, không hề đòi hỏi thắc mắc gì với đời. Không hẳn là một thằng nhóc hạnh phúc, nhưng với tình cảnh của nó thì có lẽ nó là đứa thông thái.

Dần dà Jaime cũng sắm được cho em một chiếc xe gắn máy, thứ xe có gắn thêm một thùng gỗ phía trước. Chiếc xe này trở thành nguồn thu nhập của Rogelio trong những năm sau đó-hắn lái xe vòng quanh thành phố, từ khu chợ này qua khu chợ khác, chở thuê những thùng sơn, những bó ống nước, hoặc chở gà tới lò mổ, có khi hàng chất cao tới mức hắn phải nghiêng người sang bên để thấy đường lái xe. Lúc đó San Jacinto đang phát triển chầm chậm mà chắc, chứ không phải kiểu phát triển ồ ạt như sau này. Rogelio biết rõ từng góc phố, và nhiều năm sau, lúc ở trong trại tù Collectors, hắn đã dùng phấn trắng để vẽ lên tường căn buồng giam ở chung với Henry một bản đồ thành phố với những con đường và đường rầy xe lửa, và cả căn hộ mà hắn đã ở với thằng anh.

Henry đã hỏi tại sao hắn làm vậy.

“Tại vì một ngày nào đó tao sẽ trở lại đó,” Rogelio nói.

Năm 1980, lúc Rogelio được mười bảy, Jaime đã đưa em tới một nhà chứa gần trung tâm thành phố. Đó là loại nhà chứa đầu tiên – được dựng lên để chầu chực đợt sóng của những gã đàn ông trẻ tuổi nhiều tiền, giàu tham vọng và không hề biết sợ là gì. Người ta đồn là có vàng trong các khu đồi; và căn phòng chờ quái chiêu ở nhà thổ cũng góp phần xưng tụng những chuyện kể này: mấy bức tường được sơn màu vàng đồng, kể cả cái quầy rượu và bàn ghế. Trong thực tế, ngay cả mấy cô gái điếm được đưa ra cho Rogelio chọn cũng có trang phục cùng tông: một cô mặc mini jupe màu vàng đồng, cô kia mặc áo ngực và quần lót ren màu vàng đồng, còn cô thứ ba mặc chiếc váy ren mỏng cũng màu vàng đồng. Cả ba đứng chống nạnh, nhoẻn miệng cười mời mọc. Jaime khuyến khích Rogelio chọn một cô, nhưng hắn không thể chọn. Hay sẽ không chọn. Thời khắc dùng dằng cứ kéo dài mãi đến mức khó chịu, tới nỗi nụ cười giả tạo của các cô gái cũng trở nên nhạt nhẽo. Và thằng nhỏ cứ đứng đực người ra mà ngó.

Sau cùng Jaime nói, “Khẹc, ĐM nó chớ!” rồi móc bóp trả tiền cho cả ba cô gái.

Có vẻ như Jaime đang bắt đầu bán những thứ khác ngoài mấy cỗ xe cũ tân trang.

Đến lúc Rogelio được mười tám thì hắn bán chiếc xe gắn máy thồ của mình để đổi lấy một chiếc khách nhỏ, để rồi không lâu sau đó lại đổi nó lấy một chiếc xe tải mà hắn đã hồi sinh được bằng chính đôi tay của mình. Lần đầu tiên chứng kiến máy xe được bật lên là một trong những khoảnh khắc đáng tự hào nhất trong đời Rogelio. Cứ mỗi lần có một chiếc xe mới thì thế giới của hắn dường như được mở rộng thêm ra. Giờ đây hắn là một tài xế, hắn chở hàng chục công nhân xuống miệt dưới, những người có thể đứng hàng giờ mà không phàn nàn gì khi chiếc xe tải bị xóc nảy trên những con đường lồi lõm. Một khi đã tới địa điểm thì Rogelio khám phá ra thứ thời tiết châm đốt mà hắn chưa từng biết tới trước đây. Hắn thấy khoái chí, và bắt đầu tự nguyện lái lộ trình đó mỗi khi có dịp.

Đến năm sau đó thì thằng anh kêu nó lái theo hướng khác, đi xa về phía tây; và đó là lần đầu tiên Rogelio được thấy biển. Lúc đó là vào năm 1982, hắn gần hai mươi. Hắn ngồi trên vệ đường ở La Julieta ngó đám đông ăn bận cầu kỳ qua lại, những người đàn ông trông tự tin với những chiếc áo khoác và đàn bà mặc váy sắc màu tươi sáng, những thanh niên có lẽ chỉ trạc tuổi Rogelio nhưng có vẻ đang mang những bí mật mà Rogelio chẳng tài nào biết được. Chẳng mấy ai buồn liếc mắt về hướng hắn đang nhìn. Hắn tự hỏi không biết trông mình có lạc lõng ở chốn này hay không, rằng liệu họ có biết hắn là người lạ ở đây, hay thậm chí liệu họ có trông thấy hắn hay không. Nhưng khi nghĩ tới biển thì Rogelio nhận ra là những lo ngại này thật vô nghĩa. Hắn thấy vui lắm, sau này hắn kể với Henry như vậy, và ở trong tù hắn thích nhớ về thời khắc đó, khi hắn ngồi nhìn đăm đăm ra biển.

Trong vài năm sau đó, Rogelio nhiều lần lái xe ra bờ biển, xuống miệt dưới, rồi quay trở lại, mang rau quả tới thành phố và nguyên vật liệu lên núi, chở công nhân vô rừng. Hắn là một thanh niên trầm lặng, về mặt nào đó thì có vẻ vẫn còn trẻ con, nhưng có thể nhờ cậy được. Rồi hắn bắt đầu vận chuyển những gói hàng được đóng thành khối nhỏ như những viên gạch nén chặt, mà hắn xếp ở bên dưới ghế ngồi, hay trong ngăn tủ che khuất bên dưới hầm bánh xe. Lúc đầu chỉ một hay hai khối, sau lên đến hàng chục. Chúng được chuyển đi riêng rẽ, tới những người khác nhau. Rogelio chả bao giờ mở ra xem bên trong là cái gì (mặc dù hắn biết); hắn cũng chả bao giờ động tới tiền (dù hắn đồ rằng con số cũng không phải là không đáng kể). Hắn chẳng lấy làm khó chịu gì về loại công việc này. Hắn tin anh mình. Hắn chẳng bao giờ cân nhắc về hậu quả, không phải vì hắn bất cần, mà vì những gì hắn đang làm là bình thường. Ai cũng làm.

Trong một chuyến hàng cuối cùng kiểu đó thì chiếc xe tải của Rogelio bị chận xét ở một trạm kiểm soát trên đường Central Highway cách thủ đô 65 cây số về phía đông. Đang có chiến tranh, và binh lính hay chặn xét những xe tải từ núi xuống để coi có vũ khí hay chất nổ hay không. Rogelio gặp xui. Hoặc có thể nếu hắn khôn lanh hơn thì đã phải nghĩ tới chuyện hối lộ đám lính, nhưng hắn đã không làm. Thay vì vậy hắn lại chờ ở bên đường trong khi bọn người mặc quân phục lục soát chiếc xe thật cẩn thận. Rogelio đã có đủ thì giờ để cân nhắc xem chuyện gì đang xảy ra, xem đời mình đang thay đổi như thế nào ngay trước mắt mình. Không phải ai cũng có được cơ hội như vậy, đa số chúng ta thường không nhận thức được giây phút khi vận mệnh xoay chuyển. Sau này hắn có kể với Henry về cái cảm giác điềm tĩnh lạ lùng lúc đó. Hắn đã có nghĩ tới chuyện bỏ chạy lên núi, nhưng đám lính có thể bắn bỏ hắn ngay tức khắc. Thế nên hắn đã chỉ đứng chiêm ngưỡng chiếc xe tải của mình, mà hắn đã tự sơn tay với hai màu xanh dương và xanh ngọc, với hàng chữ “San Jacinto xinh đẹp của tôi” chạy le lói phía trên mặt kính trước của xe tải. Ít nhất ai đã nói cho hắn ý nghĩa của những chữ đó là như vậy. Hắn nhớ lại lúc đó hắn đã nghĩ là, Rồi chiếc xe tải này sẽ ra sao? Liệu nó có chờ mình mãn hạn tù ra hay không nhỉ?

Đám lính tìm thấy gói hàng, và để bảo vệ anh Rogelio đã không hé răng nửa lời về nguồn gốc của nó. Hắn vờ ngây, điều này vốn dĩ cũng không khó khăn gì. Tất cả mọi người – từ những người lính lục soát xe, tới những viên cảnh sát đến bắt giam hắn, rồi những người điều tra viên, cả người luật sư cãi cho hắn, cũng đều thấy Rogelio như hắn đoán họ đã thấy hắn: rằng hắn chỉ là một thanh niên miệt tỉnh ngốc nghếch không biết gì. Trong suốt những năm ấy không hề có gì thay đổi-hắn vẫn không được ai nhìn thấu.

Đường đến nhà tù Collectors của Henry thì khác hẳn, nó bắt đầu ở nhà hát Teatro Olímpico, sau lần diễn thứ ba vở kịch gây tranh cãi của anh- vở “Tổng Thống Ngố.” Buổi sáng hôm đó, một trong báo cánh hữu đã tuyên bố là vở kịch quá khích. “Nó lăng mạ nhà cầm quyền của chúng ta và ủng hộ kẻ thù,” bài phê bình viết như thế. Henry đã ăn mừng về điều này. Anh nói với một người bạn, “Giờ thì mình có thể bán thêm được một số vé nữa rồi đây!”

Nhưng đêm đó, sau buổi diễn, có hai người đàn ông mặc đồ lớn sậm màu cứ quanh quẩn ở đó. Chẳng ai để ý gì tới họ, ít nhất là đối với Henry. Rồi khi nhà hát hoàn toàn vắng hẳn, khán giả đã ra về hết thì một trong hai người tiến tới, và hỏi “Phải ông là Henry không?”

Henry có được một chiếc túi da đeo vắt qua vai, bên trong không có gì khác ngoài vài bộ quần áo bẩn và mấy trang bản thảo bị đánh dấu chằng chịt.

Cái tên ngu ngốc này là ai mà đi hỏi gì kỳ quặc vậy, khi mà toàn bộ thế giới nhà hát đều biết rằng anh chính là Henry Nuñez. Còn ai vào đây nữa?

Bọn họ đặt những bàn tay thô bự lên Henry. Đúng lúc đó anh bạn và đồng diễn viên Patalarga từ hậu trường bước vào. Patalarga cố chặn mấy gã đó lại, và khi thấy không thể làm anh im miệng được thì họ bèn đấm anh bất tỉnh rồi nhốt vô phòng bán vé.

Henry bị giam trong một buồng giam kín mặc dù cũng khá sạch sẽ nhưng vẫn rất khó chịu. Anh bị thẩm vấn về bạn bè, về những vở kịch của mình, về những chuyến lưu diễn khắp nước, về động cơ của anh, nhưng tất cả đều vô vọng và không ích lợi gì lạ kỳ, như thể là cảnh sát đã quá chán nản để mà quyết định số phận của anh. Anh không hề bị đánh đập hay tra tấn, dĩ nhiên như vậy cũng đỡ lắm; vì chắc chắn anh sẽ thú nhận một điều gì đó khi bị đối xử như vậy. Đến ngày thứ ba, lúc Henry vẫn còn đang suy nghĩ, hít thở và sống trong trạng thái của một tấn kịch, đã hỏi xin giấy bút để ghi chú về tình trạng bị cầm tù của mình, về những điều cần ghi nhớ để sau này có thể anh muốn viết về cuộc trải nghiệm này. Yêu cầu này của anh bị bác bỏ, nhưng cho tới lúc đó, với suy nghĩ ngây thơ, anh chẳng hề lo lắng gì. Không có gì đáng lo. Nếu có bị hỏi, anh sẽ nói là anh đã chờ được thả ra bất cứ lúc nào. Đối với anh việc cầm tù này quái đản tới mức anh khó lòng chịu được nó. Anh không thể hiểu được tại sao lại có người bị khó chịu vì vở “Tổng Thống Ngố”. Họ có coi vở kịch không nhỉ? Nó thậm chí không phả là một vở kịch hay!

Vào ngày thứ năm hay thứ sáu gì đó thì Henry được phép có người tới thăm. Đó là chị Marta của anh, chị đến căn buồng giam như người đại diện cho toàn bộ cái thế giới sinh động ngoài kia-là gia đình của anh, bạn bè của anh, những người ủng hộ của anh. Gương mặt chị thể hiện rõ ràng gánh nặng chị đang mang. Mắt chị quầng thâm, làn da nhợt nhạt. Chị không ăn được, chị kể; thực tế là cả nhà không ai ăn ngủ được trong năm ngày qua, và họ đang cố làm mọi thứ để cứu anh ra khỏi nhà giam. Anh tưởng tượng tất cả mọi người – toàn bộ gia đình, họ hàng thường gây hấn của anh-đã tập trung lại với nhau để hoàn tất nhiệm vụ này: có thể sẽ dễ hơn nếu chia họ thành từng nhóm để thay phiên nhau đào một đường hầm ngay bên dưới trại giam. Điều tưởng tượng này khiến anh mỉm cười. Marta vui mừng thấy Henry không bị hành hạ, rồi hai chị em dùng giờ thăm để bàn về những dự định sau khi anh được thả. Chị có hai đứa con, một trai một gái, sáu tuổi và bốn tuổi, chúng đã làm cho cậu Henry những tấm thiệp chúc sức khỏe, vì được nghe nói là cậu phải nằm bệnh viện. Henry thấy điều này ngộ nghĩnh, còn chuyện mấy tấm thiệp của hai đứa cháu bị tịch thu ở trại tù thì Henry thấy thật là điên. Chị Marta an ủi anh rằng sau này họ sẽ nhớ lại kỷ niệm này mà cười với nhau.

“Tại sao phải chờ chứ?” Henry nói.

“Đừng có khùng,” chị anh trả lời. Nhưng đồng thời chị cũng đang cố nhịn cười.

Anh đang nhắc tới một trò chơi hồi nhỏ: cứ thi nhau mà cười, rặn ra mà cười, không ý nghĩa gì. Nhờ cần cù tập dượt, hai chị em đã hoàn thiện cái biệt tài này-cười lăn cười lộn, bò toài ra mà cười, chà lia chà lịa lên bụng như những tên khùng, trước mỗi khi đi bác sĩ của bác sĩ hay trước các chuyến đi chơi của gia đình, hoặc là vào những buổi sáng sắp phải làm bài kiểm tra mà họ đã lỡ không ôn bài trước. Họ dùng mánh lới này để trốn khỏi làm việc nhà, hay để khỏi phải đi nhà thờ. Không nhớ nổi nguồn gốc của trò chơi, nhưng họ đã bị phạt nhiều lần và đã luôn luôn làm ra vẻ ngây thơ. Chúng con không thể ngừng cười được, cả hai chị em đều nói, trong khi vẫn đang cười, nước mắt ràn rụa ra khóe mắt, cho tới khi hành vi này khiến họ phải đi gặp chuyên viên tâm lý trẻ em trong nhiều tuần lễ. Nhưng ngay cả như vậy thì cả hai đều rất tự hào là mình đã không hề phản bội nhau. Lúc cao điểm của trò chơi, khi Henry được mười tuổi và chị Marta thì mười hai, hai chị em đều đã gần giống như người lớn, thì cả hai đều đã có thể sản xuất nên những trận cười bất chợt, cười rũ rượi kéo dài được tới mươi- mười lăm phút hay hơn. Henry cho rằng đó là công trình kịch nghệ thành công đầu tiên hơn hết của mình.

Anh tiếp tục nằn nì, “Tại sao không chứ?”

Cho tới lúc đó thì hai chị em chỉ mới thì thầm với nhau thôi, và giờ đây thì họ cùng hít thật sâu, như thể những tay lặn chuẩn bị xuống nước. Căn buồng giam hóa ra lại dội âm tuyệt hảo. Lúc đầu tiếng cười còn gượng gạo, nhưng chẳng bao lâu sau nó đã trở nên giòn tan làm rung động toàn khu trại giam. Trận cười không dứt, thật vui và tràn đầy hưng phấn. Những người gác tù ở cuối dãy nghe và hiểu tiếng cười này theo một nghĩa khác: nó đầy đe dọa, và thậm chí rùng rợn ma mị. Ở tù ai mà cười nổi, huống hồ gì là cười như vậy. Một người trong số họ vội chạy tới để xemm chuyện gì đang xảy ra, và hết sức ngạc nhiên khi trông thấy hai chị em đang ngồi nắm tay nhau, cười rũ rượi, đôi gò má họ lấp loáng ướt.

Giờ thăm tù đã hết.

Đi thăm em trai về, Marta đã gửi cho báo chí một thông báo ngắn, và chiều tối hôm đó nó đã được phát trên truyền hình. Em trai tôi hoàn toàn vô tội, chị nói. Em tôi là một nghệ sĩ, là người viết kịch bản tinh tế nhất trong số những người đồng trang lứa, và nhà cầm quyền đã ngăn cản cậu cùng các diễn viên của cậu trong con đường đeo đuổi nghệ thuật hợp pháp. Những người có trách nhiệm phải thấy xấu hổ về hành động của mình.

Ngày hôm sau người ta tuyên bố bản án đối với Henry: anh bị bắt giữ về tội khích động và tham gia khủng bố. Một cuộc điều tra đang được tiến hành. Henry được thông báo về những cáo buộc này bởi gã cai tù là người đã phát hiện ra anh và chị Marta đang cười, và cũng là người đã chịu nín lại không dám nói giờ đây ai mới là người đang cười-đó là một ân huệ cỏn con mà Henry cảm thấy nó đáng trân trọng.

Anh được đưa đi khỏi trại giam bằng một chiếc xe van quân sự không cửa sổ, không có gì khác để nhìn ngoài gương mặt nghiêm trang cứng nhắc của người lính gác, không hề nói lấy một lời. Henry nhắm mắt, cố dõi theo lộ trình vòng vèo băng qua thành phố của chiếc xe: “Mình đang đi tới nhà tù Collectors, đúng không?” anh hỏi người lính và hắn chỉ trả lời bằng một cái gật đầu.

Thế là sáng ngày tám tháng tư, năm 1986, Henry bước chân vào nhà tù nổi tiếng nhất của đất nước.

Ngày bị chuyển tới Collectors là ngày cô độc nhất đời anh. Ở đây không có chút gì liên quan với những gì anh đã được học trước đây, và cứ mỗi bước chân anh đi từ cổng vào tới chỗ ở mới của mình thì cứ như thể anh đang bước vào một đường hầm, xa lìa khỏi ánh sáng. Anh được dẫn đi qua khu trại giam-một khung cảnh địa ngục trần gian đầy rẫy những người dở sống dở chết với bộ ngực chằng chịt sẹo, trơ trơ ra trước cái lạnh. Trong đời mình anh chưa từng thấy sợ hãi đến thế. Một gã đã thề sẽ giết anh ngay khi có cơ hội, có lẽ, ngay đêm đó. Một gã khác thì nói, sẽ đ. anh. Tên thứ ba nhìn anh với ánh mắt lo ngại của kẻ đang cố giấu một bí mật kinh hồn. Hai người lính gác ngục dẫn Henry đi qua khu trại, những người mà mới đây thôi anh đã coi họ như những tên đồ tể, nay lại có vẻ giống như đang bảo vệ anh-tất cả những gì ở giữa anh và cái đế chế này. Đi được nửa đường thì anh mới nhận ra là họ cũng đang căng thẳng như anh, rằng họ, cũng như anh, đang cố tránh không nhìn vào mắt bọn tù ở xung quanh. Ở cửa buồng giam của Henry, hai người lính mở khóa còng cho anh và quay lưng dợm bước.

Nhà viết kịch ngước nhìn họ tuyệt vọng, “Các anh không ở lại đây à?”, anh hỏi, như thể là muốn mời họ uống chút gì.

Hai người lính gác có vẻ ngạc nhiên, “Tụi tôi không ở lại được,” một trong hai người nói nhỏ, có vẻ bối rối. Rồi họ vội vã quay lưng, trở ra cổng.

Một tù nhân dẫn Henry vào trong, ở đó đầy nghẹt người và rõ ràng khồng có luật lệ hay phép tắc gì. Mình đến chết ở đây thôi, anh nghĩ. Đó là ý nghĩ mà bất cứ người tù mới đến nào cũng có ngay khi bước chân vào trại. Dĩ nhiên, cũng có một số đã nghĩ đúng. Rồi Henry được đưa về buồng giam của mình và anh đã không hề ló dạng trong nhiều ngày.

Lúc Henry tới nhà tù Collectors thì Rogelio đã đang chờ được hơn mười tám tháng để được ra tòa. Chờ như vậy có nghĩa là sẽ có một cơ hội để khẳng định rằng mình là nạn nhân, rằng hắn không biết gì về luật pháp quốc gia, rằng hắn không được học hành gì, và do đó không thể có trách nhiệm gì.

Gia đình Henry đã ráng chạy vạy để xin cho anh một buồng giam riêng, nhưng không có căn nào trống. Anh đã từng biết rằng mình nên biết cảm tạ ơn trên cho những gì đã có – nhiều người khác có hoàn cảnh tồi tệ hơn anh vạn lần – nhưng trong tình thế này thì anh thấy thật khó mà nghĩ tới chuyện tạ ơn. Trong những ngày đầu tiên anh gần như không nhúc nhích. Anh chẳng buồn ngó mặt Rogelio, và anh chẳng biết gì về chỗ ở mới của mình, ngoài những gì mà anh đã góp nhặt được trong chuyến chuyển trại kinh khủng ban đầu. Henry được chia cho ngủ ở tầng trên, nên trong suốt ba ngày liền anh ngủ li bì, hay là giả vờ ngủ, nằm quay mặt vào vách. Suy nghĩ. Nhớ lại. Cố gắng biến mất khỏi cõi đời. Không ăn uống gì, nhưng anh cũng chẳng thấy đói. Cái đêm bị bắt đã được chia vào trong trí não anh, thành những chuỗi bất tận các sự kiện nhỏ: anh nhớ lại từng câu thoại bị vấp, vẻ mặt của khán giá đang mong đợi và hy vọng được coi vở kịch hay hơn. Có lẽ nào một trong số các chi tiết ấy lại bị bóp méo đi-vừa đủ để dẫn đến hậu quả? Có chỗ nào trong kịch bản đêm đó mà nếu anh coi lại và điều chỉnh để cho kết cuộc đừng đưa anh tới đây, ở trại tù Collectors này?

Trong suốt ba ngày đầu đó, Rogelio đến rồi đi, có vẻ cũng chả quan tâm hay lo ngại gì cho Henry. Nhưng rồi tới ngày thứ tư thì Rogelio thấy đã quá đủ. Hắn bèn vỗ lưng Henry:

“Ê, ông biết là ông được phép ngồi dậy mà!”

Henry quay người lại.

“Ha, ông còn sống hén,” Rogelio nói.

Trưa hôm đó Henry mới thực sự bước băng ngang khu trại. Anh đã gặp một số người mà sau này trở thành bạn, hay một thứ gì đó giống như bạn, và anh cũng đã được thấy đủ để có thể tự nhắc mình về mối nguy hiểm mà anh đang đối diện. Có những gã mặt mày cứ lườm lườm như không hề biết mỉm cười; cũng có những tay cứ nhìn xoắn vào anh rồi khạc nhổ trên nền đất. Và khi anh rùng mình thì chúng phá lên cười.

Rogelio không nói nhiều, nhưng lại rất hữu ích; hắn đã giải thích nhiều điều cho anh trong ngày hôm đó. Theo hắn thì Henry là may mắn-rõ ràng là anh không phải lao động. (“Ông giàu lắm chớ gì?” Rogelio hỏi), mặc dù hầu như ai ai trong đây đều phải lao động. Rogelio sửa những ghế nhựa cũ (hắn làm chung với mấy người nữa ở tầng mái), và làm ống tẩu từ phế liệu kim loại, rồi bán cho mấy con nghiện. Con nghiện thì có ở khắp nơi, những tên hư hỏng bất hạnh đi rảo khắp nhà tù để cung cấp tình dục hoặc máu, hay sức lao động, để được “phê”. Rogelio không lấy gì làm tự hào về công việc này, nhưng nếu không thì làm sao hắn tồn tại nổi. Thằng anh của hắn thi thoảng lắm mới gửi tiền vô, chỉ đủ để trả chi phí trong tù và vài món lặt vặt khác. Còn lại thì hắn phải tự lo xoay sở.

Cả Henry lẫn Rogelio đều không sở hữu phòng giam nơi họ ngủ. Phòng thuộc quyền sở hữu của một tên trùm, Espejo, người đã kiếm bộn tiền vào những ngày thăm trại bằng cách cho những ai muốn được riêng tư với vợ thuê phòng. “Mấy ngày đó sẽ chật vật,” Rogelio cảnh cáo. Henry sẽ phải ở bên ngoài suốt cả ngày, và đến chiều tối thì căn buồng sẽ có mùi khác, không khí khác. Anh sẽ biết là người ta đã làm tình trong đó, và nỗi cô đơn sẽ áp đảo.

Henry gật gù, mặc dù anh không thể hiểu – thực ra sẽ không hiểu cho tới khi chính anh trải qua. Có nhiều điều để học lắm. Có những tên tù mà anh phải lánh xa, và cũng có những tên sẽ gây nguy hiểm nếu anh làm lơ chúng. Trong ngày có những lúc an toàn để đi ra ngoài, và những lúc mà việc cố thủ trong buồng là thượng sách. Sự khác biệt không phụ thuộc vào thời điểm nào trong ngày, mà tùy theo sắc thái của trại tù, đây là điều mà Henry sẽ phải biết quan sát nếu anh muốn tồn tại.

“Làm sao mày biết được?” anh hỏi.

Rogelio giải thích điều này một cách chật vật. Nào là do nghe lại mấy lời xì xầm ngoài sân, hay là nhìn vào cung cách của mấy tên chủ chốt nào đó- tụi này vốn là thước đo độ ác liệt của bạo lực trong khu trại – mà chính chúng đã thể hiện ra. Có những chi tiết nhỏ như: bọn chúng đang buông thõng tay, hay là khoanh trước ngực? Khi nói tụi nó hả họng bự cỡ nào? Có làm mình nhìn thấy răng tụi nó không? Mắt tụi nó nó thì sao, đang đảo lia lịa, từ bên này qua bên kia? Hay là chỉ chầm chậm ngó, như thể là chúng muốn thu vô hết mọi chi tiết?

Những điều nay đối với Henry nghe sao bất khả thi quá.

Rogelio nhún vai, “Phải nhớ là, ở đây ai cũng như ông, ai cũng sợ hết. Lúc đầu mới tới tui chả có căn buồng nào để ngủ. Nếu loạng quạng thì tôi hết đường chạy.”

Lúc đó bọn họ đang ngồi ở một góc sân, dưới bầu trời mùa đông xám xịt. Ánh sáng mờ mờ chẳng tạo nên được cái bóng nào. Henry vẫn không hiểu sao mình lại ở đây. Bước đường cùng – anh hiểu những từ này trong tâm trạng mà anh chưa từng có trước đây. Anh viết thơ cho chị Marta, những lời thư bông đùa vui vẻ không hề thể hiện chút ảm đạm hay bất cứ nỗi sợ nào. Những lá thư của anh là những màn kịch trình diễn, kiểu cách và đầy giả tạo về cuộc sống trong tù. Thật ra anh đang bị suy sụp: Đây chính là ý nghĩa của sự giam cầm. Bị khủng bố, và không thể chia sẻ tâm trạng bị khủng bố này với một linh hồn nào khác.

“Vậy là ông hiểu rồi đó.” Rogelio nói, “chỉ cần thời gian thôi.”

Những sinh hoạt tất bật cứ thế diễn ra chung quanh họ. Hai người đàn ông ngồi chờ hớt tóc, chia nhau những tờ báo cũ để đọc giết thời gian. Có một cái quần, vài cái áo lạnh, và áo thun chôm được từ những chỗ khác trong trại tù đã được treo lên để rao bán trên sợi dây căng giữa mấy cái cọc làm khung thành đá banh. Có ba con nghiện ngủ ngồi, lưng tựa vào tường, xoay người trần giữa tiết trời lạnh giá. Nhìn họ Henry thậm chí càng cảm thấy lạnh thêm.

“Vậy lúc đó mày ngủ ở đâu?” anh hỏi, “Lúc mày chưa có được một buồng giam?”

“Dưới gầm cầu thang,” Rogelio đáp. Rồi hắn cười to, “Giờ thì ông thấy tui ra sao chứ!”

Henry nhìn thật.

Thằng bạn mới của anh có nụ cười rất tươi và đôi mắt nâu thật to. Nước da màu cà phê sữa, và có cơ bắp nhưng không có vẻ phô trương. Đồ hắn mặc phần lớn là quần áo lượm, những thứ mà những người tù xuất trại đã thải ra, hoặc đã được Espejo và mấy tay hộ pháp khác tóm được, rồi sau đó chúng bán đi. Chẳng có món nào vừa vặn với Rogelio, nhưng có vẻ hắn chẳng hề bận tâm về điều đó. Hắn luôn cắt thật ngắn mái tóc đen nhánh của mình, và lúc nào cũng đội mũ len, kéo sụp xuống, để giữ ấm. Những ngày mùa đông u ám như thế này hắn thậm chí cũng đội mũ khi ngủ. Mũi hẹp và hơi lệch về bên trái, và hắn có thói quen nói thật nhỏ, một bàn tay che miệng, như thể đang chia sẻ một điều gì bí mật, cho dù những điều hắn nói có thể rất tầm phào.

Như thể chúng ta là tòng phạm, Henry nghĩ.

Vài tuần lễ sau đó, Henry thấy một người bị đá tới chết, hay gần như chết, bởi một băng đảng mới được thành lập ở cửa dẫn vào trại giam 12. Anh và Rogelio đứng gần đó, lúc đầu chết khiếp, sau chỉ còn là sợ. Rồi, gần như ngay tức khắc, họ chấp nhận lý lẽ của vụ tấn công: mỗi một nạn nhân ắt hẳn đã phạm một tội gì đó. Họ nói với nhau: Thằng đó đã làm cái gì vậy? Hắn đã động phải đứa nào rồi? Người đứng ngó cảm thấy an toàn hơn, đỡ bất lực hơn. Một đám đông tụ tập quanh nạn nhân, nhưng chẳng ai buồn nhúc nhích để giúp.

Lúc đầu những ngày thăm tù cũng chả gì tệ mấy. Gia đình và bạn bè của Henry thay phiên nhau tới thăm anh, những ai có thể chịu đựng được cái nhơ nhớp bẩn thỉu, sự chật chội quá tải của nhà tù, cái nhìn của đám con nghiện. Rồi họ ra về kiệt lực và ghê sợ, và đa số chẳng mấy ai trở lại. Những giờ khắc ngay sau khi khách viếng ra về hết mới thực sự là lúc khó khăn nhất trong tuần. Ai cũng phải góp sức để đón chào quá nhiều khách khứa, để dọn sao cho coi được trong một tình thế rõ ràng là quá khủng khiếp. Trại tù Collectors đang tơi tả dần, ai cũng có thể thấy được điều này. Mùa đông ẩm ướt đã gặm mòn những viên gạch, và các bức tường bị phủ đầy nấm mốc. Ngày nào cũng có người mới vào. Họ không bị xích và được tự do đi lại bên trong, bị bắt buộc phải đánh nhau để giành chỗ ngủ trong cái nhà tù vốn dĩ đã đầy nghẹt người. Vào những ngày thứ tư cách tuần là ngày gia đình, khi phụ nữ được cho phép ở lại, thì lại càng dữ dội hơn. Đến quãng chiều chiều là mấy người tù đã hoàn toàn mệt lử do cứ phải mỉm cười để an ủi vợ, con, và mẹ của họ là họ không sao hết. (Mấy ông bố, đã thành lệ, là không hề đi thăm tù; đa số các bạn tù của Henry đều không có bố vào thăm). Cho nên tới tối thì không có gì là lạ cả khi đám tù phải đánh nhau tơi tả. Miễn là đừng có người chết, còn thì đánh nhau cũng là một cách để làm giải tỏa bớt căng thẳng.

Chín tuần ở tù, Henry cảm giác gần như bị bỏ rơi. Vào ngày gia đình, anh cũng đơn độc như Rogelio. Espejo đem cho thuê căn buồng giam của họ, và tới chiều tối, khi về giường nằm họ vẫn có thể cảm thấy hơi ấm của những thân xác vắng bóng. Mùi dầu thơm của chúng. Mặc dù lúc đó chính là lúc mùi hôi thối của nhà tù được báng đi đôi chút, nhưng ở mặt khác thì cái mùi lạ kia lại càng tệ hơn. Nó gợi lại mọi thứ mà họ đang thiếu. Henry không thể thuyết phục được bất kỳ người phụ nữ nào anh đã từng quen tới thăm anh, và anh không thể trách họ được. Không có một mối quan hệ nào thực sự có ý nghĩa đối với anh, mặc dù có lúc anh tuyệt vọng tới nỗi đã tập trung vào bất kỳ một gương mặt nào trong số họ để tự thuyết phục mình rằng anh đã yêu họ. Thế rồi cũng như Rogelio, anh dần xa khỏi gia đình, và không hề có một khách viếng thăm nào, đàn ông hay đàn bà.

“Mày có thấy ả đó không?” có một buổi tối Henry hỏi về những người thăm tù đã ra về, và rồi, bởi vì Rogelio đã không thấy, nên anh bắt đầu tả lại người phụ nữ bữa đó đã làm tình với chồng trên chiếc giường tầng dưới. Chồng là Jarol, một têm cướp có óc khôi hài sắc bén và đôi tay cuồn cuộn cơ bắp. Henry nói về những đường cong của ả, về việc trông ả thật ngon mắt trong chiếc váy đầm-không chật lắm, nhưng vừa đủ ôm. Tóc đen và dài, mắt nai, móng tay sơn hồng. Ả thật hoàn hảo, anh nói, và ả hoàn hảo không vì gương mặt hay thân hình, nhưng là cách ả mỉm cười với chồng, với ánh mắt hau háu của một con đàn bà đang mong muốn điều gì và không hề xấu hổ vì lòng ham muốn của mình. Một thằng đàn ông có thể sống vì một ánh nhìn như vậy.

Henry nói, “Ả chả hề bận tâm là có ai ngó hay không.”

Anh có thể nghe thấy Rogelio đang thở mạnh. Cả hai lặng yên trong giây lát.

“Nếu là ông thì ông sẽ làm gì với ả?” Rogelio ngượng ngùng hỏi nhỏ.

Thế là sự thể bắt đầu: Henry nói lớn điều tưởng tượng trong đầu mình về những gì anh sẽ làm với một người đàn bà ở cái nơi chốn nhớp nhúa tồi tàn này. Chả khó khăn gì để tưởng tượng cảnh ấy, và anh thấy chẳng có lý do gì để mà không chia sẻ nó.

Tui có thể xé tan cái váy con ả, Henry nói, rồi xô ả vào sát tường, áp chặt tay ả lên bức bản đồ San Jacinto lãng nhách đó. Tui sẽ dán người tui khít rịt đằng sau con ả, sẽ chờn vờn cho tới khi ả van lơn đòi tui dzô. Ở tầng trên Rogelio cười rú. Tui sẽ làm cho nó rống, Henry nói, làm nó la tới chết ngất. Tui sẽ bóp bầu vú nó, xiết thiệt chặt. Có phải vì cái này mà em tới không, em cưng? Nói đi em!

Henry hầu như đã tan biến trong lời tả cảnh của chính mình. Anh nhắm nghiền mắt. Các bức tường bắt đầu run bần bật.

“Rồi sao nữa? Rogelio hỏi, giọng hắn giờ đây trở nên mạnh hơn. “Nói tiếp coi. Ông còn làm gì nữa?”

Tới khi chấm dứt câu chuyện thì nơi mỗi tầng giường, lần đầu tiên hai người đều cười. Họ không hề chạm vào nhau, hoặc thậm chí không hề nhìn vào mắt nhau, vậy nhưng những gì họ đã làm còn gần gũi hơn thế nữa. Trong khoảnh khắc, bùng lên cái cảm giác sung sướng khi mỗi người được thuộc về người kia, và giờ đây một cái gì đen tối và vô vị đã bị tan biến.

Một tuần sau, Henry thu hết can đảm tới găp Espejo, tên trùm, để xin hắn cho tập vở kịch “Tổng Thống Ngố” trong khu trại 7. Espejo nhỏ con nhưng cơ bắp rắn chắc. Nụ cười biếng nhác trên môi khiến người ta quên đi lịch sử bạo lực của hắn, kẻ đã ngoi lên từ vỉa hè để giờ đây có thể ung dung tận hưởng quyền lực kiểm soát khu trại giam. Bất cứ tù nhân nào lên tiếng thắc mắc về quyền hành này thì sẽ được nếm thử sự hung bạo cụ thể mà vô cùng thuyết phục. Nhưng phần lớn hắn bảo vệ đám tù nhân dưới quyền hắn- trong khu trại có không tới hai trăm tù nhân, và khi đêm xuống là lúc họ rơi vào tình thế nguy hiểm thường trực đến từ một trong số các nhóm khác trong nhà tù -lớn hơn và hung dữ hơn. Espejo chỉ thị một đội quân tác chiến nhỏ để cầm giữ những tên xâm lăng quấy nhiễu này.

Henry thấy sợ gã này lắm, nhưng anh nhắc nhở hắn là, vì anh là tù nhân của khu 7 nên anh cùng phe với hắn. Buồng giam của Espejo trông tiện nghi không kém gì phòng ở của sinh viên, với tủ lạnh, ti-vi đen trắng, và một cái máy pha cà phê cắm điện vào lỗ cắm trần trên tường. Phía trên đầu giường có một tấm hình của Espejo chụp hồi còn trẻ. Trong đó hắn cởi trần, đang cưỡi một con ngựa trắng bước lên những bậc thềm của một hồ bơi, hướng về phía ống kính. Phía sau hắn là mấy cô gái xinh tươi, chân dài, tóc vàng, mắt nheo lại vì chói nắng. Mọi thứ đều sặc sỡ, thấm đượm màu sắc nhiệt đới. Một đứa nhỏ-có lẽ là con trai của Espejo, ngồi trên rìa tấm ván nhảy, ngó theo con ngựa đang bước ra khỏi hồ nước. Mặt thằng bé thể hiện sự ngưỡng mộ và ngây ngất, mà còn hơn thế nữa: nó đang tập trung, quan sát khung cảnh, quan sát cha mình, cố gắng học hỏi.

Henry tự hỏi chuyện gì đã xảy ra cho đứa bé. Có thể nó đã bị trục xuất ra khỏi nước. Hoặc đã chết, hoặc có thể giờ đây nó đã đủ lớn để đang sống trong một nhà tù nào đó của thành phố, trong một căn buồng giam cũng giống như thế này. Chẳng có cách gì để biết được ngoài việc hỏi trực tiếp, và điều đó rõ ràng là không thể. Tấm hình cũng giống như cuộc đời của những người mà giờ đây Henry đang sống chung, trông vừa thực vừa không thực-nó cứ như một khoảnh khắc được đóng khung từ những giấc mơ của Espejo.

Rogelio đã cảnh cáo Henry là đừng có nhìn chăm chăm, cho nên anh không nhìn nữa.

“Kịch hả?” Espejo hỏi lại khi Henry nói với hắn về ý định của anh.

Henry gật đầu.

Espejo đang nằm ngửa trên giường, đôi chân trần của hắn duỗi thẳng về hướng nhà soạn kịch. “Đó là thứ mà tụi tao phải chịu khi rước tụi khủng bố vô đây.” Hắn vừa nói vừa cười. “Ở đây không có làm cái trò diễu kịch nghe mầy!”

“Tôi không phải là một tên khủng bố,” Henry nói.

Một chuỗi im lặng kéo dài sau lời cải chính này, cái cười của Espejo được thế chỗ bằng cái nhìn trừng trừng căng thẳng và xuyên thấu tới nỗi Henry bắt đầu nghi ngờ chính mình-có lẽ anh đúng là tên khủng bố. Có lẽ anh đã luôn là. Đó là điều mà nhà cầm quyền đang cáo buộc anh; và ở ngoài kia, trong cuộc đời thường, người ta đang tranh cãi nhau từ cả hai phía của chính cái câu hỏi này. Tự do của anh treo lơ lửng ở giữa. Tương lai của anh. Henry phải nhìn đi chỗ khác, nhìn xuống sàn nhà, nơi Espejo đã cho dán giấy lót sàn hình vuông màu trắng và xanh-để vinh danh đội bóng mà hắn mê. Một trong mấy tay phò tá của Espejo, một thằng cha vạm vỡ tên là Aimar, tự nhiên ho lên, và chỉ khi đó sự căng thẳng mới dường như tan biến đi.

“Mày viết vở kịch này à?”

Henry gật đầu.

“Vậy thì phải lấy tên tao mà đặt cho một nhân vật trong đó,” Espejo nói.

Henry bắt đầu phản ứng.

Espejo nhíu mày, “Bộ mày nghĩ là tao vô văn hóa chắc? Mày cho là tao chưa bao giờ đọc sách hả?”

“Đâu có, tôi… “Henry chợt ngưng lại. Thật là vô ích nếu cứ tiếp tục nói. Chuyến này mình tiêu rồi, anh nghĩ.

Cả bọn lại im lặng trong giây lát.

“Cứ làm đi,” sau cùng Espejo nói, hờ hững vẫy tay về phía sân. “Nếu mày thuyết phục được tụi nó thì tao chẳng việc gì phải cấm cản.”

Henry cảm ơn Espejo rồi mau lẹ rời khỏi chỗ đó – trước khi tên trùm có thể đổi ý.

Ai cũng muốn làm tổng thống, bởi vì tổng thống là ông trùm. Ai cũng muốn làm người phục vụ, bởi vì, cũng như họ, tên đầy tớ mơ tưởng tới việc hạ sát ông trùm. Ai cũng muốn làm thằng con trai, bởi vì chính hắn là người đã xuống tay giết ông trùm trong vở kịch. Đây chính là nhân vật có cái tên được đổi thành Espejo.

Và trên thực tế thì tự cái dự án nó vận hành. Hết một tuần lễ để nói chuyện với những người tù, và rồi tới giai đoạn tế nhị của việc phân vai. Henry đã phải viết lại, đưa thêm một số nhân vật vào nữa để khỏi làm thất vọng những người muốn làm diễn viên. Anh cũng làm điều đó vì sự an toàn của chính mình-có một vài người không chấp nhận được sự từ chối không cho diễn. Anh đã cho thêm một đoạn với những người dân nhận xét về chuyện đã xảy ra, với những hồn ma của mấy người đầy tớ đi diễu ngang qua sân khấu với trang phục làm từ mấy tấm drap trải giường. Anh còn viết thêm vài giòng cho vợ của Tổng Thống, vai này do thằng Carmen diễn thật sống động-nó là thằng nổi tiếng khoái mặc đồ đàn bà. Mọi thứ diễn ra suôn sẻ. Ngay cả Espejo cũng tham gia thật hăng hái. Vở kịch sẽ làm cho hình ảnh của cả bọn tốt đẹp thêm, người ta nghe hắn nói vậy.

Rogelio cũng muốn được phân vai nữa, nhưng bị trục trặc.

“Tui không biết đọc,” hắn thú nhận với Henry. “Làm sao tui coi kịch bản được?”

Henry mỉm cười. Lúc đó cả hai đang nằm bên nhau trên giường tầng trên, trần truồng.

“Tao có thể dạy mày được.”

Sau đó, anh nhớ tới vẻ mặt của Rogelio, và niềm hy vọng ẩn chứa trong chính lời đề nghị của anh. Có lẽ khi nói ra những điều này, Henry đã thầm mơ tưởng về một cuộc đời bên ngoài mấy bức tường này.

Không thấy Rogelio trả lời, anh ấn nhẹ vào người hắn, “Mày muốn đóng vai gì?”

Rogelio suy nghĩ trong giây lát. “Thằng đầy tớ là đứa phải chết, đúng không?”

Henry gật đầu.

“Chết như thế nào?”

“Nó bị đâm ở lưng.”

“Vậy thì,” Rogelio nói, “Chắc là tui nên dóng vai đó.”

Ba tuần sau, lúc cả bọn đang diễn vở kịch, Henry đặc biệt chú ý tới đoạn đó. Anh và Rogelio đã tập với kịch bản hàng đêm, ở trong buồng giam của họ, dượt tới dượt lui lời thoại của tên đầy tớ cho tới khi Rogeli thuộc làu, nhưng hắn cứ khăng khăng muốn tự tập chỗ án mạng. Thiệt là liều hết cỡ, Henry đã nghĩ như vậy, nhưng tới khi coi diễn anh mới nhận ra mình đã lầm to. Toàn bộ trại tù khu 7 chăm chú coi: những người đàn ông gai góc không biết sợ đang như ngưng thở lúc Rogelio bị đâm. Họ nhận ra vẻ hoảng sợ trên gương mặt hắn. Họ đã là người đó; họ đã giết hắn. Họ thấy Rogelio ngã trên sân khấu, thoạt tiên là nhìn đầu gối hắn, rồi nhìn xoáy vào ngực, như thể muốn nhìn thấu qua thân hình hắn để thấy được vết dao đâm tưởng tượng. Henry và những người khác, tất cả đều đang nín thở, chờ đợi, và rồi được tưởng thưởng với cú diễn phăng cuối cùng của Rogelio: chân phải hắn giựt nảy lên, rồi toàn thân sụp hẳn. Espejo là người đầu tiên đứng dậy vỗ tay. Vở kịch thậm chí còn chưa kết thúc.

Tháng 11 năm đó thì Henry được thả, gầy hơn, già đi, sau một năm rưỡi ở trong tù. Anh đã không nói với Rogelio là, “Tao sẽ chờ.” Hoặc là, “Hẹn gặp mày ngoài kia.” Mà chỉ thầm nghĩ như vậy, giấu kín trong lòng, nhưng thương thay, cho tới một ngày nọ, vài tháng sau đó, hai phân khu trong nhà tù Collectors nổi loạn phản đối tình trạng tồi tệ bên trong. Khu 7 thật không may lại nằm giữa đám đó, và khi quân đội tới nơi để trấn áp cuộc bạo loạn thì nó đã bị kéo sập. Henry nghe thấy tin này trên đài. Những người đã thủ các vai của vở “Tổng Thống Ngố” đều chết trong cuộc hỗn chiến, hoặc là bị bắn vào đầu, hoặc bị đâm, hoặc bị tường sập đè chết. Hơn ba trăm tù nhân thuộc các khu 6, 7 và 8 bị thiệt mạng, và mặc dù Henry không có ở đó, nhưng một phần trong anh đã chết theo đó. Anh đã mất Rogelio mãi mãi, người bạn tốt nhất đời của anh, người yêu của anh-những từ này anh chưa từng dùng tới trước đây, ngay cả chỉ để nói với chính mình. Trong những ngày sau đó anh thường thức giấc với mùi vị của đôi môi Rogelio. Cũng có khi anh thức giấc vì hình ảnh Rogelio nằm đó – chết vì lưỡi dao đâm.

Henry quá đau buồn, thậm chí đã tự vực mình dậy để tham gia một vài cuộc phản đối ngay trước Bộ Tư Pháp (mặc dù anh đã khước từ không phát biểu khi có người trao cho anh cái loa), nhưng, trên thực tế, thảm kịch đó đã vừa quật ngã anh, vừa khiến anh thôi không còn muốn nghĩ về giai đoạn tù đày ấy nữa. Không ai đã từng sống với anh trong giai đoạn ấy còn sống. Chẳng có ai để thăm viếng, không có ai để cùng ôn lại chuyện cũ, không có ai để gặp vào cái ngày anh được thả và lái xe về nhà, làm ra vẻ lạc quan.

 


COLLECTORS

By Daniel Alarcón

Rogelio was the youngest of three, the skinniest, the least talkative. As a boy, he slept in the same room as his brother, Jaime, and his earliest, most profoundly comforting memories were of those late nights, before sleep: the chatter between them, the camaraderie. Then Jaime left for San Jacinto, and shortly afterward, when Rogelio was eight, his father died. In the months after that, Rogelio began skipping school to spend hours walking in the hills above town. He liked to be alone. He gathered bits of wood, and used his father’s tools to carve tiny animals—birds, lizards, that sort of thing—which he kept in a box under his bed. They weren’t particularly lifelike, but they were surprisingly evocative, and, at age twelve, he presented one to a girl he liked, as a gift. With trembling hands and a look of horror on her face, the girl accepted it, and for the next week she avoided his gaze. The other children whispered about him whenever he came near. There was no need to hear the exact words; their meaning was clear enough. The following year, Rogelio quit school officially, and his mother and his sister agreed that there was no practical reason for him to stay in town any longer, so he left to join Jaime in San Jacinto.

Rogelio was small for his age, but tough, good with his hands and his fists. He didn’t have a temper, the way his brother did. Instead, he possessed an equanimity that his family found almost disconcerting. He’d been shunned all his life, or that’s how he felt, and he’d grown accustomed to it. He loved his brother, looked up to him, and never worried about whether Jaime loved him in return. He could follow instructions, had decent mechanical intuition, but, unlike most of his classmates, he had not learned to read. Jaime tried to teach him, but soon gave up: the boy kept confusing his letters. More than a decade later, Henry Nuñez, Rogelio’s cellmate in Collectors prison, explained to him that there was a condition called dyslexia. “How about that?” Rogelio said, but his face registered nothing—not regret or shame or even curiosity—as if he were unwilling to contemplate the ways in which his life might have been different if he’d had this information sooner.

For the first couple of years in San Jacinto, he worked on the broken-down trucks that his brother bought on the cheap. Together, they would cajole these heaps of rusting metal back to life. Each machine was different, requiring a complex and patient kind of surgery. Parts were swapped out, rescued, jerry-rigged. It was as much invention as repair. When a truck was reborn, they sold it, and reinvested the profits, which weren’t much at first, but the brothers were very careful with their money. In a photograph from this time, Rogelio sits on a gigantic truck tire with his shirt off; he is lithe and wiry, and he wears the blank expression of a child who asks no questions and makes no demands of the world. Not a happy boy, but, given his situation, perhaps a wise one.

Eventually, Jaime bought his kid brother a motorbike, the kind outfitted with a flatbed of wooden planks in front. This machine became Rogelio’s source of income for the next few years; he rode it around the city, from one market to another, carrying cans of paint, lashed-together bundles of metal pipes, chickens headed for slaughter, crammed into crates stacked so high that he had to lean to one side in order to steer. San Jacinto was growing steadily, but not yet at the torrid pace that would later come to define it; Rogelio knew every corner of the city then, and years later, at Collectors, he would draw a map of it on a wall of the cell that he shared with Henry, using white chalk to trace the streets and the railroad tracks, and to label the apartment he’d shared with his brother.

Henry asked him why he’d gone to the trouble.

“Because one day I’ll go back there,” Rogelio said.

In 1980, the year Rogelio turned seventeen, Jaime took him to a brothel near the center of town. It was the first of its kind, and had been built for the hoped-for wave of young, fearless men with money. There were rumors of gold in the hills, and the brothel’s fantastical anteroom paid tribute to those stories: the walls were painted gold, as were the bar and the wooden tables and chairs. In fact, that night even the three prostitutes on display for Rogelio’s choosing had followed the color scheme: one in a gold miniskirt, another in gold lace panties and bra, and the third in a gold negligee. Three little trophies, all smiling coquettishly, hands on their hips. Jaime encouraged Rogelio to pick one, but he couldn’t. Or wouldn’t. The moment stretched on and on, far past what was comfortable, until the girls’ put-on smiles began to fade. And still the boy stood there, immobilized, amazed.

“Oh, fuck it,” Jaime said finally. He pulled a wad of bills from his pocket and paid for all three.

It seems that Jaime had begun to sell more than refurbished vehicles.

When Rogelio was eighteen, he traded in his motorized cart for a small loading van and, shortly after, traded the van for a truck that he brought back to life with his own hands. The first time the reconstructed engine turned over was one of the proudest moments of Rogelio’s life. Each new vehicle expanded his world. Now he was a driver; he ferried a dozen laborers down to the lowlands, men who stood for hours without complaint as the truck bounced along rutted and bumpy roads. Once there, Rogelio discovered a prickly kind of heat he’d never felt before. He liked it, and began volunteering to drive that route whenever it was available.

The following year, his brother sent him in the other direction, over the range to the west; and on that trip Rogelio saw the ocean for the first time. It was 1982; he was almost twenty years old. He sat at the edge of the boardwalk in La Julieta as the fancy people of the city strolled by, confident-looking men in blazers and women in bright dresses, boys he took to be his age but who appeared to possess a variety of secrets that Rogelio could only guess at. None so much as glanced in his direction. He wondered if he looked out of place, if they could tell that he was a stranger here, or if they could even see him at all. But when he considered the ocean Rogelio realized how insignificant these concerns were. He was happy, he told Henry later, and in prison he liked to remember the hours he’d spent there, gazing at the sea.

For the next few years, Rogelio drove the route to the coast, to the lowlands, and back again, carrying vegetables to the city, raw materials to the mountains, laborers to the jungle. He was a quiet young man, still a boy in some ways, but he was dependable. He began to ferry other packages as well, small, tightly bundled bricks, which he kept under the seat or in a compartment hidden above the wheel well. One or two at first, then dozens. These were delivered separately, to other contacts. Rogelio never opened them to see what was inside (though he knew); he never touched the money (though he assumed that the quantities in play were not insubstantial). He had no qualm s about this work. He trusted his brother. He never considered the consequences, not because he was reckless but because what he was doing was normal. Everyone was doing it.

On the last of these trips, Rogelio’s truck was searched at a checkpoint along the Central Highway, sixty-five kilometres east of the capital. The war was on, and the soldiers were randomly stopping trucks from the mountains to look for weapons and explosives. Rogelio was unlucky. Perhaps if he’d been more astute he could have arranged to pay the soldiers off, but he didn’t. Instead, he waited by the side of the road while the men in uniform went through his vehicle with great care. Rogelio had time to consider what was happening, how his life was changing course before his very eyes. Not everyone has this privilege; most of us miss the moment when our destiny shifts. Later, he told Henry that he’d felt a strange sort of calm. He considered running into the hills, but the soldiers would have shot him without thinking twice. So instead he admired his truck, which he’d had painted by hand, emerald and blue, with the phrase “My Beautiful San Jacinto” splashed across the top of the windshield, in cursive lettering. At least, that’s what he’d been told it said. He recalled thinking, What will happen to the truck? Will it be waiting for me when I get out?

The soldiers found the package, and to protect his brother Rogelio said nothing about its origins. He played dumb, which wasn’t difficult. Everyone—from the soldiers who conducted the search, to the policemen who came to arrest him, to his ferocious interrogators, to the lawyer charged with defending him—saw Rogelio as he assumed they would: as a clueless, ignorant young man from the provinces. All these years, and nothing had changed: he was still invisible.

Henry’s route to Collectors was very different, and it began at the Teatro Olímpico, after the third performance of his controversial play “The Idiot President.” That morning, one of the right-wing papers had declared the play outrageous. “It mocks our authorities and gives succor to the enemy,” the critic wrote. Henry had celebrated. “Maybe now we will sell some tickets,” he’d said to a friend.

But that night, after the show, there were two men in dark suits hanging about. No one paid much attention to them, least of all Henry. Then the theatre emptied, the audience dispersed, and one of the men approached. “Are you Henry Nuñez?” he said.

Henry had a leather bag thrown over his shoulder, nothing inside but some dirty clothes and a few annotated scripts.

Who were these idiots, who asked inane questions, when the entire theatre universeknew he was Henry Nuñez. Who else, exactly, could he be?

They placed their giant hands on Henry. His friend and co-star Patalarga emerged from backstage just in time to see what was happening. He tried to stop the men, and when he wouldn’t shut up they knocked him out and locked him in the ticket booth.

Henry was held with little human contact in a mercifully clean though still unpleasant cell. He was questioned about his friends, his plays, his travels around the country, his motives, but it was all strangely lethargic, inefficient, as if the police were too bored to decide his fate. He wasn’t beaten or tortured, which was a great relief, of course; he surely would’ve confessed to anything at the mere threat of such treatment. On the third day, Henry, still thinking, breathing, and living in the mode of a playwright, asked for a pen and some paper in order to jot down notes about his tedious imprisonment, things to remember should he ever want to write about his experience. He was denied, but even then, in his naïveté, he wasn’t worried. Not truly concerned. If he’d been asked, Henry would have said that he expected to be released at any moment. His captivity was so ridiculous to him that he could hardly conceive of it. He just couldn’t understand why anyone would be upset by “The Idiot President.” Had they seen the play? It wasn’t even any good!

On the fifth or sixth day, when Henry was finally allowed a visitor, his older sister, Marta, appeared at the jail, representing the entire living world outside the small cell that held him—his family, his friends, his supporters. It was a burden that showed clearly on her face. Her eyes were ringed with dark bluish circles, and her skin was sallow. She hadn’t eaten, she reported; in fact, no one in the family had stopped to eat or rest for five days, and they were doing everything they could to get him out. He imagined them all—his large, bickering extended family—coming together to complete this task: it would be easier to put them on shifts and have them dig a tunnel beneath the jail. The image made him smile. Marta was happy to see that Henry hadn’t been abused, and they passed much of the hour talking about plans for after his release. She had two children, a daughter and a son, ages six and four, who’d both made him get-well cards, because they’d been told that their uncle was at the hospital. Henry found this amusing; the fact that the cards had been confiscated at the jail he found maddening. Marta assured him that they’d remember this little anecdote later and laugh about it.

“Why wait?” Henry said.

“Don’t be ridiculous,” his sister answered. But already she was suppressing a grin.

He was referring to a game they’d played as children: spontaneous, forced, meaningless laughter. With diligence, they’d perfected this skill—rolling around, cackling, rubbing their bellies like lunatics, before doctor’s doctor’s appointments or family trips, or on the morning of an exam for which they hadn’t prepared. They’d used it to get out of chores, to be excused from church. Neither recalled the game’s origins, but they’d been punished for it on many occasions and had always feigned innocence. We can’t help it, they’d both said, laughing still, tears pressing from the corners of their eyes, until their behavior had landed them in weekly sessions with a child psychologist. Even so, they were proud that they’d never betrayed each other. At the peak of the game, when Henry was ten and Marta twelve and they were as close as two human beings can be, the two of them had been able to manufacture laughter instantly, hysterical fits that lasted for a quarter of an hour or longer. Henry considered this his first successful dramatic work.

He insisted. “Why not?”

They’d been whispering until then, but now they took deep breaths, like divers preparing for a descent. The cell, it turned out, had good acoustics. The laughter was tentative at first, but soon it was ringing brightly through the jail. Unstoppable, joyful, cathartic. At the end of the block, the guards who heard it had a different interpretation: it was frightening, demonic, even. No one had ever laughed in this jail, not like that. One of them rushed to see what was happening, and was surprised to find brother and sister laughing heartily, holding hands, their cheeks glistening.

The hour allotted for the visit had passed.

Leaving the jail, Marta gave a brief statement to the press, which was shown on the television news that evening. Her brother was completely innocent, she said. He was an artist, the finest playwright of his generation, and the authorities had interrupted him and his actors in the legitimate pursuit of their art. Those responsible should be ashamed of what they’d done.

The following day, the charges against Henry were announced: he was being held for incitement and terrorism. An investigation was under way. Henry was informed of the accusations that morning by the same guard who’d discovered him and Marta laughing, and who refrained from making the obvious statement about who might be laughing now—a small mercy, which Henry nonetheless appreciated.

He was taken from the jail in the back of a windowless military van, with nothing to look at but the unsmiling face of a soldier, a stern man, who did not speak. Henry closed his eyes, and tried to follow the van’s twisting path through the city. “We’re going to Collectors, aren’t we?” he asked the soldier, who answered with a nod.

On the morning of April 8, 1986, Henry entered the country’s most infamous prison.

The day he was sent to Collectors was the loneliest of his life. Nothing he’d learned previously had any relevance anymore, and each step he took beyond the gate and toward his new home was like walking into a tunnel, away from the light. He was led through the prison complex—a vision of Hell in those days, full of half-dead men baring their scarred chests, impervious to the cold. He’d never been more frightened in his life. One man promised to kill him at the first opportunity—that evening, perhaps, if it could be arranged. Another, to fuck him. A third looked at him with the anxious eyes of a man hiding a terrible secret. Two guards led Henry through the complex, men whom he’d previously thought of as his tormentors but who now seemed more like protectors—all that stood between him and this anarchy. Halfway to the block, he realized that they were as nervous as he was, that they, like him, like him, were doing all they could to avoid eye contact with the inmates who surrounded them. At the door to the block, the guards unlocked Henry’s handcuffs and turned to leave.

The playwright looked at them helplessly. “Won’t you stay?” he asked, as if he were inviting them in for a drink.

The two guards wore expressions of surprise. “We can’t,” one of them said in a low voice, embarrassed. They turned and hurried back to the entrance.

An inmate led Henry into the block, where men milled about with no apparent order or discipline. I’m going to die here, he thought. It was an idea that all new inmates contemplated upon first entering the prison. Some of them, of course, were right. Henry was taken to his cell, and didn’t emerge for many days.

When Henry arrived in Collectors, Rogelio had already been waiting more than eighteen months for a hearing in his case. Waiting, that is, for an opportunity to affirm that he was a victim, that he knew nothing about the laws of the country, that he’d never been educated, and could not, therefore, be held accountable.

Henry’s family had tried to arrange for a private cell, but none were available. He knew that he should be grateful for what he had—many others were in far worse conditions—but, under the circumstances, he found it difficult to muster much gratitude. For the first few days, he hardly stirred. He didn’t register Rogelio’s face, and he knew nothing of his new home, beyond what he’d managed to glean during that initial terrifying walk. Henry was given the top bunk, and for three days he slept long hours, or pretended to sleep, facing the wall. Thinking. Remembering. Trying to disappear. He didn’t eat, but felt no hunger. The night of his arrest had been catalogued in his mind, divided into an infinite series of micro-events: he remembered each flubbed line of the performance, the expressions on the faces of the audience members who’d expected and hoped for better. Could any of those details be shifted slightly—just enough to alter the outcome? Was there a light revision he could make to that evening’s script so that it would not end with him here, in Collectors?

During those three days, Rogelio came and went, seemingly uninterested in and unconcerned by Henry’s condition. But, by the fourth day, Rogelio had had enough. He tapped Henry on the back.

“You’re allowed to get up, you know.”

Henry rolled over.

“You’re alive,” Rogelio said.

That afternoon, Henry took his first real walk through the block. He met a few people who would later become friends, or something like friends, and he saw much to remind him of the danger he was in. There were men whose faces seemed congenitally incapable of smiling, men who locked eyes with him and spat on the ground. When he shuddered, they laughed.

Rogelio wasn’t talkative, but he was helpful, and he explained many things that day. According to him, Henry was lucky—it was clear that he wouldn’t have to work (“You’re rich, aren’t you?” Rogelio asked), though almost everyone else inside did. Rogelio repaired old plastic chairs (he shared a workshop on the roof with a few other men), and made pipes out of bent metal scraps, which he sold to the junkies. The junkies were everywhere, a miserable lineup of broken men, who roamed the prison offering sex or blood or labor for a fix. Rogelio wasn’t proud of this work, but without it he wouldn’t have survived. His brother sent money only occasionally, enough to cover the cost of the cell and little else. Otherwise, he was on his own.

Neither Henry nor Rogelio owned the cell where they slept. It belonged to the boss, Espejo, who made extra money on visiting days by renting it out so that men could be alone with their wives. “Those days will be difficult,” Rogelio warned. Henry would have to be outdoors all day, and in the evening the room would smell different and feel different. He’d know that someone had made love there, and the loneliness would be overwhelming.

Henry nodded, though he couldn’t understand—wouldn’t understand, in fact, until he lived through it himself. There was a lot to learn. There were inmates to steer clear of, and others whom it was dangerous to ignore. There were moments of the day when it was safe to be out, others when it was best to stay inside. The distinction depended not on the time of day but on the mood of the prison, which Henry would have to learn to read if he hoped to survive.

“How do you read it?” he asked.

Rogelio had a difficult time explaining. It involved listening for the collective murmur of the yard, watching the way certain key men—the barometers of violence in the block—were carrying themselves. Small things: Did they have their arms at their sides, or crossed in front of them? How widely did they open their mouths when they talked? Could you see their teeth? Were their eyes moving quickly, side to side? Or slowly, as if taking in every last detail?

To Henry, it sounded impossible.

Rogelio shrugged. “Remember that most of us here are scared, just like you. When I first came, I didn’t have a cell. If there was trouble, I had nowhere to go.”

They were sitting in a corner of the yard, beneath a dull gray winter sky. The light was thin, and there were no shadows. Henry still didn’t quite grasp how he had got here. Nowhere to go—he understood these words in a way he never could have before. He wrote letters to his sister, cheerful dispatches that didn’t reflect the gloom he felt, or the fear. His letters were performances, stylized and utterly false outtakes of prison life. In fact, he was despairing: This is what it means to be trapped. To be frightened, and to be unable to share that fear with a single soul.

“You’ll get it,” Rogelio said. “It just takes time.”

The frenetic daily exchange of goods and services went on about them. Two men waited to have their hair cut, sharing the same day-old newspaper to pass the time. A pair of pants, a couple of sweaters, and T-shirts stolen from some other section of the prison were for sale, hanging on a line strung between the posts of one of the soccer goals. Three junkies slept sitting up, with their backs against the wall, shirtless in the cold. Henry saw these men and felt even colder.

“Where did you sleep back then?” he asked. “Before you had a cell.”

“Under the stairs,” Rogelio said. He laughed. “But look at me now!”

Henry did look.

His new friend had a bright smile and very large brown eyes. His skin was the color of coffee with milk, and he was muscular without being imposing. His clothes were mostly prison-scavenged, items left by departing men, appropriated by Espejo or some other strongman, and then sold. Nothing fit him well, but he seemed unbothered by that. He kept his black hair very short, and wore a knit cap most of the time, pulled down low, to stay warm. These dark winter days, he even slept with it on. His nose was narrow and turned slightly to the left, and he had a habit of talking softly, with a hand over his mouth, as if sharing a confidence, no matter how mundane an observation he might be making.

As if we were accomplices, Henry thought.

A few weeks later, Henry saw a man being kicked to death, or nearly to death, by a mob that formed unexpectedly at the door to Block 12. He and Rogelio stood by, horrified at first, then simply frightened. Then, almost instantaneously, they accepted the logic of the attack: every victim was guilty of something. The chatter: What did he do? Who did he cross? The men watching felt safer. Less helpless. A crowd gathered around the victim, but no one moved to help him.

Visiting days weren’t so bad at first. Henry’s family and friends took turns coming to see him, the ones who could tolerate the filth, the overcrowding, the looks from the junkies. They left depleted and afraid, and most didn’t come back. The hours immediately after the visitors had gone were the most difficult of the week. It required a great collective energy to welcome so many outsiders, to put the best face on what was clearly a terrible situation. Collectors was falling apart; anyone could see that. Damp winters had eaten away at the bricks, and the walls were covered with mold. Every day, new men were brought in. They were unchained and set free inside, forced to fight for a place to sleep in the already overcrowded prison. Family day, when women were allowed in, came on alternate Wednesdays, and was especially brutal. By the end of the afternoon, the inmates were worn out from smiling, from reassuring their wives and children and mothers that they were all right. (Fathers, as a rule, did not visit; most of Henry’s fellow-inmates didn’t have fathers.) It wasn’t uncommon for there to be fights on those evenings. As long as no one was killed, it was fine, just something to relieve the tension.

Nine weeks in, Henry felt almost abandoned. On family days, he was as alone as Rogelio. Espejo rented out their cell, and in the evening, as they lay on their bunks, they could still feel the warmth of those phantom bodies. Their perfumed scent. It was the only time the stench of the prison dissipated, though, in some ways, this other smell was worse. It reminded them of everything they were missing. Henry had been unable to persuade any of the women he used to see to visit him, and he didn’t blame them. None of these relationships had meant much to him, though at times his despair was so great that he could concentrate on any one of those women’s faces and convince himself that he’d been in love. As for Rogelio, he was far from home, and hadn’t had a visitor, male or female, in months.

“Did you see her?” Henry asked one evening after the visitors had gone, and, because Rogelio hadn’t, he began to describe the woman who’d made love with her husband on the lower bunk that day. She was married to an inmate named Jarol, a thief with a sharp sense of humor and arms like tense coils of rope. Henry talked about the woman’s curves, how delicious she’d looked in her dress—not tight, but tight enough. She had long black hair, doe eyes, and fingernails painted pink. She was perfect, he said, and she was: not because of her body or her face but because of the way she’d smiled at her husband, with the hungry look of a woman who wants something and is not ashamed of it. A man could live on a look like that.

Henry said, “She didn’t care who saw.”

He could hear Rogelio breathing. They were quiet for a moment.

“What would you have done to her?” Rogelio asked. His voice was very low, tentative.

This was how it began: with Henry speculating aloud about how he might spend a few minutes alone with a woman in this stifling, degrading space. He had no difficulty imagining the scene, and he could think of no good reason not to share it.

He would have torn off that dress, Henry said, and bent her against the wall, with her palms flat against that stupid map of San Jacinto. He would have pressed hard against her, teased her until she begged him to come in. From the bottom bunk, Rogelio laughed. He would have made her howl, Henry said, made her scream. Cupped her breasts in his hands and squeezed. Is this why you came, woman? Tell me it is!

Already Henry was disappearing into his own words. He had his eyes closed. The walls had begun to vibrate.

“What else?” Rogelio said, his voice stronger now. “Go on. What else would you do?”

When they finished, each on his own bunk that first time, both men laughed. They hadn’t touched, or even made eye contact, but somehow what they’d done was more intimate than that. For a moment, the pleasure of each had belonged to the other, and now something dark and joyless had been banished.

A week later, Henry gathered up his courage and went to see Espejo, the boss, to propose doing a production of “The Idiot President” in Block 7. Espejo was a small but well-built man, whose lazy grin belied a long history of violence, a man who’d risen far enough from the streets to relax and now controlled the block through sheer force of reputation. If any inmate questioned his authority, he dispensed pointed but very persuasive doses of rage. Mostly, though, he protected his charges—there were fewer than two hundred men in the block, and after nightfall they were in constant danger of being overrun by one of the larger, more ferocious sections of the prison. Espejo directed a small army of warriors tasked with keeping those potential invaders at bay.

Henry was afraid of this man, but he reminded himself that, as fellow-inmates of Block 7, he and Espejo were on the same side. Espejo’s cell seemed more like a comfortable student apartment, with a squat refrigerator, a black-and-white television, and a coffeemaker plugged into a naked outlet. Espejo kept a photo of himself from his younger days framed above his bed. In the picture, he was shirtless, astride a majestic white horse, riding up the steps of a swimming pool, toward the camera. A few delighted women stood behind him, long-legged, bronzed, and gleaming in the bright sun. Everything was colorful, saturated with tropical light. A child—Espejo’s son, perhaps—sat on the edge of the diving board, watching the horse maneuver its way out of the water. On the boy’s face was an expression of admiration and wonder, but it was more than that: he was concentrating, watching the scene, watching his father, trying to learn.

Henry wondered what had happened to the boy. Perhaps he’d been shuttled out of the country, or died, or perhaps he was old enough by now to be living in another of the city’s prisons, in a cell much like this one. There was no way of knowing without asking directly, and that was not an option. The photo, like the lives of the men with whom Henry now lived, was both real and startlingly unreal, like a still from Espejo’s dreams.

Rogelio had warned Henry not to stare, so he didn’t.

“A play?” Espejo said when Henry told him his idea.

Henry nodded.

Espejo lay back on his bed, his shoeless feet stretched toward the playwright. “That’s what we get for taking terrorists in the block,” he said, laughing. “We don’t do theatre here.”

“I’m not a terrorist,” Henry said.

A long silence followed this clarification, Espejo’s laughter replaced by a glare so intense and penetrating that Henry began to doubt himself—perhaps he was a terrorist, after all. Perhaps he always had been. That was what the authorities were accusing him of, and outside, in the real world, there were people arguing both sides of this very question. His freedom hung in the balance. His future. Henry had to look away, down at the floor of the cell, which Espejo had redone with blue and white linoleum squares, in honor of his favorite soccer club. One of Espejo’s deputies, a thick-chested brute named Aimar, coughed into his fist, and it was only this that seemed to break the tension.

“Did you write it?”

Henry nodded.

“So name a character after me,” Espejo said.

Henry began to protest.

Espejo frowned. “You think I have no culture? You think I’ve never read a book?”

“No, I . . .” Henry stopped. It was useless to continue. I’ve already ruined myself, he thought.

They were quiet for a moment.

“Go on,” Espejo said finally, waving an uninterested hand in the direction of the yard. “If you can convince these savages, I have no objection.”

Henry thanked Espejo and left—quickly, before the boss could change his mind.

Everyone wanted to be the president, because the president was the boss. Everyone wanted to be the servant, because, like them, the servant dreamed of murdering the boss. Everyone wanted to be the son, because it was the son who actually got to do the killing in the play. It was this character whose name was changed: he became Espejo.

And, indeed, the project sold itself. A week of talking to other inmates, and then the delicate process of auditions. Henry had to write in extra parts to avoid disappointing some of the would-be actors. It was for his own safety—some of these men didn’t take rejection very well. He added a chorus of citizens to comment on the action; ghosts of servants past to stalk across the stage in a fury, wearing costumes fashioned from old bed sheets. He even wrote a few lines for the president’s wife, played with verve by Carmen, the block’s most outspoken transvestite. Things were going well. Even Espejo joined in the enthusiasm. It would be good for their image, he was heard to say.

Rogelio wanted to audition, too, but there was a problem.

“I can’t read,” he confessed to Henry. “How can I learn the script?”

Henry smiled. They were lying together on the top bunk, close, naked.

“I can teach you.”

Later, he’d remember the look on Rogelio’s face, and the hope implicit in his own offer. Perhaps by saying these words, Henry was already imagining a life outside those walls.

When Rogelio didn’t respond, Henry pressed him. “Who do you want to be?”

Rogelio thought for a moment. “The servant is the one who dies?”

Henry nodded.

“How?”

“He’s stabbed in the back.”

“Well, then,” Rogelio said, “I guess that should be me.”

When the play was performed, three weeks later, Henry paid special attention to that scene. He and Rogelio had worked on the script every night, pacing in their cell, bouncing the servant’s lines back and forth until Rogelio knew them by heart, but he had insisted on practicing the death scene on his own. Out of timidity, Henry thought, but when he saw the performance he realized that he had been wrong. The entire population of Block 7 was watching: hard, fearless men who gasped at the sight of Rogelio staggering. They recognized the look of terror on his face. They’d been that man; they’d killed that man. They watched Rogelio fall in stages, first to his knees, then forward, clutching his chest, as if trying to reach through his body to the imaginary knife wound. Henry and the others, all of them held their breath, waiting, and were rewarded with a final flourish: Rogelio’s right leg twitching. Espejo was the first to stand and applaud. The play wasn’t even over.

Henry was released that November, thinner, older, after a year and a half in prison. He didn’t say to Rogelio, “I’ll wait for you.” Or, “I’ll see you on the outside.” But he thought those things, held them secret, but dear, until the day, a few months later, when two of the more volatile sections of Collectors rose up to protest conditions inside. Block 7 had the misfortune of sitting between them, and when the Army arrived to put down the revolt, it, too, was destroyed. Henry heard the news on the radio. The men who had made up the cast of “The Idiot President” all died in the assault, shot in the head, or killed by shrapnel, or crushed beneath falling concrete walls. More than three hundred inmates from Blocks 6, 7, and 8 were killed, and, though Henry wasn’t there, part of him died that day, too. He lost Rogelio, his best friend, his lover—a word he had never used, not even to himself. In the days after, he sometimes woke with the taste of Rogelio on his lips. Sometimes he woke to the image of Rogelio lying dead of a knife wound.

Henry mourned, even roused himself enough to participate in a few protests in front of the Ministry of Justice (though he declined to speak when someone handed him the bullhorn), but, in truth, the tragedy both broke him and spared him the need ever to think about his incarceration again. No one who’d lived through it with him had survived. There was no one to visit, no one with whom to reminisce, no one to meet on the day of his release and drive home, feigning optimism. ♦

bài đã đăng của Daniel Alarcón


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch