Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Thực Đơn Dân Đảo


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 26.07.2016
  • Dịch theo bản tiếng Anh của Janet Hendrickson

Ronaldo Menéndez sinh quán ở Havana (Cuba) vào năm 1970. Ông tốt nghiệp ngành lịch sử nghệ thuật. Tác giả nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, các tác phẩm của ông đã xuất hiện trong nhiều hợp tuyển văn chương ở Châu Mỹ Latin, Tây Ban Nha, Mỹ, Đức và Pháp. Ông cộng tác với nhiều tạp chí giòng chính của Cuba, cùng là bình luận gia cho nhật báo thương mại và giáo sư báo chí của thành phố Lima, Cuba, trước khi định cư ở Madrid, Tây Ban Nha vào tháng 12 năm 2004. Tác phẩm gần đây nhất của ông là tiểu thuyết Red Olive (2014) và Sông Quibú (Rió Quibú) (nxb Lengua de Trapo, 2008). Menéndez được tôn vinh như một trong số những nhà văn trẻ sáng chói nhất của Nam Mỹ hiện nay, với sự tinh tế của một “chủ thợ kim hoàn trong cách ông tạo dựng cấu trúc và diễu nhạo các tác phẩm kinh điển của truyển thống văn chương Nam Mỹ.” Truyện “Thực Đơn Dân Đảo” của Ronaldo Menéndez diễu nhạo/tái sinh truyện “Aleph” của Borges, trong bối cảnh xơ xác và thiếu thốn của Cuba trong thời Castro.

 

 

ronaldo-menendez

Nhà văn Ronaldo Menéndez (Cuba)

Văn chương, dù viết vào ban ngày, vẫn là rỉ xuống từ đêm tối ”-
Literature, even if done during the day, dripping from the night”- Ronaldo Menéndez.

Một buổi sáng tháng ba oi nồng, sau khi loan những tin đồn bức bách về việc sẽ không bao giờ chịu đầu hàng trước thói ủy mị hay nỗi sợ hãi, người ta chính thức thông báo rằng, lượng bánh mì và trứng đã bị hạn chế. Tôi để ý thấy trong các quầy hàng đã cập nhật đâu đấy một loạt bảng báo giá mới, trên có ghi rõ: BÁNH MÌ VÀ TRỨNG, CHỈ DÀNH CHO NHỮNG AI CÓ SỔ LƯƠNG. Thực tế này làm tôi đau đớn, bởi nó khiến tôi nhận ra rằng bầu khí quyển xã hội chủ nghĩa đang lụi tàn dần này đã bỏ rơi chúng tôi, và rằng sự thay đổi này chỉ là bước khởi đầu cho một chuỗi vô hạn những đổi thay khác nữa. Khí quyển xã hội chủ nghĩa rồi sẽ thay đổi, nhưng tôi thì không, tôi tự nhủ với lòng tự phụ của một kẻ bơ vơ khốn khổ không biết nương tựa vào đâu. Phải thú nhận là lòng mộ đạo của tôi, hết lần này đến lần khác, đã khiến nhiều đồng nghiệp có tư tưởng hoài nghi giận sôi máu. Chứng kiến cái chết của chủ nghĩa xã hội, tôi chỉ còn biết đem chính mình ra mà định giá lại nó, không chút hi vọng, nhưng cũng chẳng chút bất bình. Từ giờ phút này trở đi, tôi quyết định sẽ bám theo mà mô tả cái gọi là Thực đơn dân đảo của chúng tôi. Tôi nhớ vào một ngày Chủ nhật, mồng 10 tháng ba, ngày sinh nhật của con gái tôi, tôi đã đưa con bé đi thăm vườn thú Đường số 26, một hành động không chê vào đâu được, hay cũng có thể nói là không thể trốn tránh được của những bậc làm cha làm mẹ. Đó là lần cuối cùng chúng tôi được nhìn thấy

Pancho

Chú đà điểu châu phi của vườn thú, lúc nào như cũng sống trong niềm hạnh phúc vô cớ ngay giữa cảnh bị giam cầm. Chú ta có vẻ khá ngoan ngoan dễ bảo, sáng nào cũng như sáng nào, cứ vào đúng giờ ấy, không sai một phút, là lại vươn cái cổ dài ngoẵng ra khỏi chuồng cho tới khi ngó được vào cánh cửa sổ chẳng bao giờ khép của viên quản lí mới thôi. Viên quản lí lúc đó sẽ chìa ra cho cu cậu vài mẩu cùi bánh mì ôi với mấy miếng vỏ chuối bỏ đi. A! Pancho! Chưa từng có một con chim xấu xí nào có thể mang lại niềm tự hào đẹp lòng đến vậy cho viên quản lí vườn thú. Vậy mà bỗng dưng một ngày, con đà điểu chợt biến mất không tăm tích. Sau hàng loạt những săn lùng rồi điều tra, câu trả lời được tiết lộ hết sức ngẫu nhiên, nhưng không chệch vào đâu được: Ở trường, một cô bé con trong vùng có lần đã kể chuyện vu vơ rằng, nhà mình hồi trước chẳng còn gì để ăn cả, và rồi tự nhiên bố cô bé đã quay một cái đùi gà như thế này này cho bữa tối. Vừa nói câu cuối, cô vừa dang rộng cánh tay hết mức có thể. Và sau khi bị thầy giáo hỏi dồn dập thêm, cô nhóc đầy kiêu hãnh ấy đã thú nhận rằng, cổ của con gà cũng lớn như thế này này, rồi quả tim, và cả đôi cánh của nó nữa, cũng vậy, cũng như thế này này. Vậy là người ta phát hiện ra rằng, chính người quản lí vườn thú đã vỗ béo Pancho, để rồi đặt nó lên đĩa trên bàn ăn gia đình mình, bởi cô bé kia té ra lại chính là con gái viên quản lí. Tấm gương xấu này, của đáng tội, lại càng lúc càng được nhân rộng thêm lên, giờ tới lượt cả đàn cá sấu cũng đang dần bị giết hại, rồi đến cả những loài thú khác như bầy khỉ, đủ mọi loài chim, vài con lạc đà, cả những loài động vật ăn cỏ khác cũng đều chịu chung số phận. Cuối cùng, vườn thú chẳng còn lại gì ngoài linh cẩu và sói, những con này lại quay sang tìm cách ăn thịt lẫn nhau bởi giờ đây nào có sót lại chút thức ăn gì cho chúng nữa đâu.

Tôi chẳng bao giờ có ý định chứng minh xem có bao nhiêu phần trăm sự thật trong câu chuyện trên, hay nỗi bức xúc của người dân bản xứ đã mở ngỏ những cửa cống nào để đến nỗi những dòng nước trộn bùn trắng đen lẫn lộn của sự bịa đặt lại tràn lan đến thế. Về mặt y học, tôi chọn phương châm sống “cái hiện hữu là cái được nhận thức”; và bởi vì tôi chưa bao giờ trông thấy con chim ngoại lai bị ăn thịt vừa mới kể đến trên đây, cũng như chẳng quen biết gì viên quản lí – kẻ ăn thịt người (hãy lưu ý rằng dư luận quần chúng nhấn mạnh đến vô số những phẩm tính người có trong một con đà điểu), tôi chọn việc không tin vào những gì tôi chưa từng nhìn thấy. Điều mà tôi đã hoàn toàn nhìn thấy, nghe thấy, và ngửi thấy, ấy là

những con lợn

những con vật này, thịt của chúng từ thời thượng cổ đã đặt nền móng cho việc đảm bảo sự ngon miệng cho người dân đảo. Trong quá khứ có lẽ chẳng ai có thể hình dung được rằng đến một ngày những con vật này, mà mỗi con là một cỗ máy ngấu nghiến mọi thứ ngoại trừ chính mình, lại được đưa vào nuôi trong những căn hộ dân cư giữa một trung tâm đô thị lớn. Chính vì những căn hộ kiểu này không có đủ điều kiện cơ sở hạ tầng thích hợp cho việc chăn nuôi lợn, người ta nhận ra rằng hoàn toàn có thể nuôi chúng trong bồn tắm. Đây thực sự là một vị trí đắc địa, nhất là khi ta có thể dùng vòi hoa sen để làm trôi những thứ rác rưởi cặn bã ngập ngụa, bốc mùi mà cái cỗ-máy-ngấu-nghiến-mọi-thứ-ngoại-trừ-chính-mình này thải ra. Không những thế, một khi con quái vật này lớn dần, từ một chú heo con nhẹ bỗng lên thành một đấu sĩ nặng kí và quyết định chiến đấu vì tự do (không gì bí bách hơn một con lợn-sống-trong-thành-phố), thì những thành tròn trơn tuột của cái bồn dễ dàng thủ tiêu mọi cơ hội thành công, biến những nỗ lực nghiêm túc của nó thành trò trượt băng trẻ con. Con vật có thể húc xung quanh nếu nó muốn, cho tới khi cuối cùng cũng phải ngưng lại vì đói hay kiệt sức, loạng choạng đổ vật xuống đáy bồn. Nhưng hậu quả nghiêm trọng mà lũ lợn mang lại thì đâu chỉ dừng ở đó: lại còn cái cảnh tượng náo động mà chúng gây ra. Chẳng hạn, sáng nào tôi và hàng xóm láng giềng cũng bị tỉnh giấc bởi tiếng ồn ào của cả một chân trời lợn, những tiếng ré ngút ngàn rất xa con sông nhưng lại rất gần cuộc đời chúng tôi. Vậy mà kì diệu thay: vào một ngày lạ thường, sự ồn ào chợt đi dần vào tĩnh lặng, và mặc dù mẹ đã giải thích cho tôi hiểu những nguyên nhân đặc biệt khác thường đằng sau tất cả những chuyện ấy, tôi vẫn muốn chứng thực bằng chính mắt mình, theo tiêu chí “chỉ những gì từng nhìn thấy mới đáng tin”. Tôi đi vào nhà người hàng xóm cuối cùng vẫn còn một con lợn đang kêu gào ầm ĩ, và ở đây, tôi đã thấy

một bác sĩ thú y

Bắt tay vào việc thôi, ông ta nói.

Và đây là tất cả những gì tôi được thấy: viên bác sĩ thú y mở cái cặp đặc trưng dành cho bác sĩ trông khá quê kệch của ông ta ra, lục lọi trong đó vài giây, rồi đột ngột giơ tay, vung lên cao một ống tiêm kim loại đã được gắn sẵn kim tiêm trông giống kiểu kim tiêm của các nha sĩ, nhưng to hơn nhiều. Rồi ngài chuyên gia lựa chọn thế đứng sao cho phù hợp, giống như những gì một người đấu bò dày dạn kinh nghiệm thường làm trước hiệp cắm cờ; trong lúc nhìn ông ta, tôi vẫn không bỏ lỡ việc quan sát con lợn, con vật dường như đã cảm nhận được phần nào một tương lai ám mùi thịt xông khói đang chờ đợi nó phía trước, và hiểu được âm mưu hắc ám của những kẻ xung quanh, nó cứ thế lùi dần cho tới khi chạm góc bồn tắm. Đấu sĩ cầm ống tiêm cũng đang dần thu hẹp khoảng cách; và trước cảnh tượng ấy, đây chính là thời điểm cỗ-máy-ngấu-nghiến-mọi-thứ-ngoại-trừ-chính-mình quyết định phải tự cứu lấy mạng sống của nó. Như một con quỷ đầu trâu, nó lấy hết sức bình sinh quăng mình thật mạnh vào kẻ giao chiến; nhưng rủi thay, kẻ mà nó phải đối đầu là một đối thủ quá đáng gờm. Hất áo choàng ra phía sau lưng, và nhằm khi con thú tấn công, người đàn ông khẽ hạ cánh tay cầm vật nhọn với tốc độ của một con ong bắp cày, rồi ngay lập tức, cắm phập ống tiêm vào thắt lưng con vật. Phải trải qua một khóa huấn luyện y tế đặc biệt đến thế nào mới có thể ra được cú đòn vừa rồi. Nhưng trông con lợn kìa, vừa lăn tròn vừa rít lên chói óc, vừa ra sức cào bới thành bồn tắm, nó đang làm đủ mọi cách để khiến mũi tiêm rơi khỏi thân mình. Mũi tiêm lúc này đã rời ra khỏi ống nhưng vẫn còn cắm lỏng chỏng trên tấm lưng đen của con thú. Chẳng mấy chốc nó đã làm được cho mũi tiêm rơi xuống sàn bồn tắm, và đối diện với khuôn mặt đang tối sầm lại của ngài bác sĩ, con lợn có vẻ như đã hoàn toàn chẳng còn ý niệm gì về chuyện vừa xảy ra (dường như cũng quên hẳn sự hiện diện của tên đao phủ mang mặt nạ thầy thuốc đang lù lù trước mắt), vươn cái mõm xù xì thô nhám ra phía trước, rồi điềm nhiên tọng cái mũi tiêm khổng lồ vào miệng, và bắt đầu nhai. Trước sự sửng sốt của viên bác sĩ thú y, con lợn vẫn nhai không ngừng, dù bị mũi tiêm chọc sâu vào nướu hết lần này đến lần khác. Nhưng thuốc gây mê đã bắt đầu phát huy tác dụng, con vật bắt đầu lắc lư thân mình, được một lúc thì đổ vật xuống, mũii tiêm mắc lủng lẳng trên cái lưỡi đang thè ra ngoài của nó. Gương mặt của viên bác sĩ càng lúc càng tươi dần lên như trái chín mùa xuân. Ông ta nói với bác hàng xóm: Con lợn của bác vừa tự xỏ lưỡi. Làm thế tốt cho việc quan hệ tình dục qua đường miệng đấy, họ bảo nhau. Viên bác sĩ cúi xuống, lôi từ trong hộp đồ nghề nho nhỏ ra một cái kìm khủng bố có gắn một cái dao mổ. Giúp tôi giữ cho miệng nó há ra với, ông ta nói. Và trong lúc người hàng xóm run rẩy ra tay trợ giúp, loạng choạng giữ lấy cái bề mặt sần sùi nhớp nháp vì máu và dãi nhớt của mõm con lợn, viên bác sĩ dùng cái kẹp dài gắn mũi dao, ngoáy sâu vào cái họng đang há hốc của con thú phải đến vài phút, cuối cùng lôi ra vài mẩu thịt hồng hồng mà thực chất là dây thanh quản. Thế là xong chuyện: con lợn sẽ không bao giờ có thể gây ra một cảnh tượng om sòm nào nữa. Khi thuốc gây tê cục bộ đã mất tác dụng với cỗ-máy-tăm-tối-ngấu-nghiến-mọi-thứ-ngoại-trừ-chính-mình, nó ra sức quẫy như một con giun bị bơm căng và phun phì phì đống bọt mép xanh xanh đỏ đỏ. Nhưng đến lúc này mọi lời kêu ca phàn nàn của nó cũng chẳng là gì ngoài vài tiếng ụt ịt ngô ngọng, dẫu rằng thói ham ăn vô độ thì chẳng bao giờ mất đi.

Không đếm xỉa đến lối chăn nuôi lợn quả thực tài tình, cũng chẳng thèm đếm xỉa tới niềm hạnh phúc của những người láng giềng khi món lợn quay đã lại nằm trong thực đơn, mấy viên thanh tra xuất hiện, ra lệnh cấm đoán và bắt phạt tất cả những kẻ nào còn cố tình nuôi lợn trong bồn tắm. Nhưng rõ ràng, tất cả những ngăn chặn trấn áp này (bất kể chúng xã hội chủ nghĩa đến độ nào) lại thường chỉ kích động thêm những phản ứng chống đối. Một trong những phương sách chống đối ấy cần phải kể đến, mặc dù ví dụ này cũng có thể được coi như một ẩn dụ cho hình thù hòn đảo, là

con cá sấu

theo nghĩa đen và nghĩa bản thể học của nó, thuộc sở hữu của Nieves, người hàng xóm của tôi. Và dẫu rằng đây không phải là một hình ảnh ẩn dụ, mà thực chất là một cá thể động vật tồn tại cụ thể, đủ sức vinh danh cho những sự thật vốn được tôi đúc rút chỉ từ những trải nghiệm thực tế, vẫn cần phải lưu ý ở đây rằng việc nuôi cá sấu của Nieves thực ra cũng không phải là một trường hợp phổ biến cho lắm. Tuy nhiên, phát hiện này cho phép tôi củng cố niềm tin vào câu chuyện đang được người dân bàn tán xôn xao về sự biến mất của vài giống vật đặc thù trong vườn thú. Đối với mọi người đang sống trong cái vũ trụ được gọi là khu xóm giềng này (ở đây, đâu đâu cũng có thể được biến thành trung tâm, và đường vành đai của nó thì mở rộng ra vô tận), Nieves vốn được biết đến như một người đã dành cả đời mình để làm công việc sản xuất bè tự chế, những chiếc bè mà trên đó không biết bao nhiêu người dân đảo đã lên đường cao chạy xa bay sang thế giới bên kia để mở rộng hơn nữa đường biên xóm giềng. Với tài năng trời phú vốn đã khiến cô mang danh là một doanh nhân đáo để, Nieves quyết định lên kế hoạch kiếm thêm kế sinh nhai. Lúc tôi qua chơi, cô dẫn tôi đi xem xưởng làm bè trước, rồi mới chỉ cho tôi con cá sấu. Xưởng làm bè ở sân sau nhà, nằm ngoài trời; cá sấu cũng nằm ở sâu sau, nhưng bị xích lại. Nieves giảng giải với tôi rằng cá sấu là một trong những loài vật sinh lời nhất: nó ăn tất, chẳng trừ thứ gì, nhất là một khi đã chẳng còn một tí thức ăn nào, cô có thể đãi nó món súp kem làm từ mớ báo rách và bìa cũ ngâm đường, chỉ cần đun sôi lên là được. Cá sấu lại còn chẳng bao giờ gây ồn ào. Nó răn đe những kẻ phá hoại trong vùng hãy từ bỏ ngay ý đồ trộm cắp vật liệu làm bè của cô; thịt nó vừa mềm lại vừa ngon; và một khi bị xả thịt, thì da nó là món hàng đáng thèm muốn đối với bất cứ vị khách du lịch nào. Còn lợi thế nào nữa nhỉ: Chẳng có luật nào cấm người ta xích cá sấu trong sân nhà họ. Vì thế, việc này còn không phạm pháp nữa chứ. Bởi vậy mà, chủ nhật nào cũng như chủ nhật nào, món hầm cá sấu lại được bày lên bàn ăn nhà Nieves.

Tôi trở về nhà mình, nhà của bố mẹ tôi, ngôi nhà cũ kĩ từ thời tổ tiên để lại ở khu Buenavista, nơi mẹ tôi đóng vai trò bà nội của cô con gái tôi, dù bà gần như chẳng còn bất cứ thức gì để đặt lên bàn ăn khi đến bữa. Nhưng cái gì đây, vào buổi tối hôm ấy, chính tại thời điểm ấy, ngay khi cái kẻ lắm lời vốn ngồi sẵn trong bụng từ lúc tôi mới chào đời đang kêu réo ầm ĩ bất chấp mọi nỗ lực thương lượng hòng xoa dịu, thì người mẹ yêu quý nhất đời của tôi đặt lên bàn một đĩa thức ăn mà ngay cả trong mơ tôi cũng không thể tưởng tượng ra nổi, trên đó đặt chĩnh chện một con

thỏ quay

Chúng tôi ăn ngấu nghiến như thể những con lạc đà mang hình dạng người, với một nỗi thèm thịt vô biên của những sinh vật sống trên một vùng đảo cằn cỗi bị rơi vào quên lãng. Thỏa mãn vô cùng, và sau tiếng ợ hơi phải phép, tôi mới hỏi mẹ về nguồn gốc xuất xứ của bữa tối hoang toàng vừa rồi. Bà chỉ giải thích với tôi vỏn vẹn: thỏ vùng cao. Nhận ra nỗi sửng sốt bất chợt trồi lên trên gương mặt tôi như một cái mụn viêm, bà mới bảo: lên mái, tự đi mà coi lấy. Tất nhiên, nếu bạn chẳng thấy điều gì, thì sự kém cỏi về năng lực nhìn của bạn sẽ chẳng thể nào phủ nhận được những gì chính mắt tôi đã được chứng kiến.

Trèo lên mái, rồi như thể bị lạc vào một mê cung gương, tôi chỉ có thể đoan chắc rằng toàn bộ dân tình trong vùng đã sai phái cháu con dòng dõi của họ lên đây, ai ai cũng trang bị đầy đủ đồ nghề đi câu. Bóng tối dần phủ trùm lên tất cả, vì điện bị ngắt, mà cũng vì bói mãi chẳng kiếm đâu ra được một cái bóng đèn. Ai đó, có lẽ là một trong những cậu con trai nhà Nieves ra hiệu bắt tôi phải cẩn trọng giữ im lặng, cậu ta sẵn sàng chia sẻ một phần mái hiên nhà mình để chỉ bảo tôi các quy trình kĩ thuật của việc câu trên cao. Từ tay cậu, dây câu văng đi theo một đường vòng cung đầy sinh lực, với con cá vàng đã được mắc sẵn vào móc làm mồi. Phải quăng thế nào sao cho dây và mồi câu nằm gọn trên bề mặt tối và gồ ghề của mái nhà hàng xóm. Đó mới chỉ là xong phần chính. Phần còn lại phụ thuộc vào sự nhạy bén xúc giác của một người thợ đồng hồ, vào kinh nghiệm và tính chính xác của một chiến binh. Người đi câu phải nhận biết được ngay khi con mèo vừa cắn mồi qua cú giật nhẹ của sợi dây, từ từ tiến lại gần, vờ như không để ý. Đến khi con mèo nuốt mồi cũng là lúc nó bắt đầu lao vào cuộc chiến của riêng nó, bởi cái con vật ngờ nghệch dễ lừa phỉnh đang nổi cơn cuồng loạn lên kia nào có hiểu được điều gì đang xảy ra với mình. Nó nằm phơi bụng lên, phát ra những tiếng gào quái đản nghe như tiếng khóc trẻ sơ sinh; và rồi nó sẽ vồ lấy bất cứ thứ gì nhìn thấy bằng bộ móng sắc nhọn của loài mèo; khi đó hãy bất thình lình giật mạnh sợi dây, con mèo sẽ nhảy dựng lên theo. Cách duy nhất để đánh bại con mèo là trao cho nó sợi dây, cho nó được thở hắt từng hơi dài như một cách rút kiệt dần sinh lực, rồi lại cuộn căng dây, sau đó nới lỏng dây một lần nữa, xong lại cuộn mạnh hết sức có thể cho đến khi cả thân con mèo, trên đó gắn đôi mắt thất thần hoảng loạn, treo lủng lẳng trên đỉnh cần câu. Sau khi con mèo đã bị lột da và chặt đi cái đầu, người ta sẽ chẳng thể bằng mắt thường mà phân biệt được nó với một con thỏ. Mẫu vật mới này được đặt một cái tên tránh phạm húy hết mức là “thỏ vùng cao”.

Trước khi trèo từ trên mái xuống, tôi ngước nhìn vầng trăng. Có một nỗi khó chịu bực bội trong lòng mà tôi hi vọng rằng căn nguyên của nó nằm ở chỗ tôi là một kẻ quá khắt khe cứng nhắc, chứ không phải do bị choáng váng trước cảnh tượng bạo lực mà mình vừa chứng kiến. Tôi mở mắt, rồi nhắm mắt. Tôi nhìn sâu vào tâm tưởng mình, và rồi, tôi lại chẳng nhìn thấy gì khác ngoài cái Thực đơn dân đảo.

Thế là tôi đã vừa chạm đến vùng cấm trung tâm trong câu chuyện của mình. Đó là nguyên nhân sâu xa của nỗi tuyệt vọng trong tôi dưới tư cách là một người cầm bút. Mọi ngôn ngữ chẳng là gì khác hơn một hệ thống các kí hiệu mang sẵn trong nó một quá khứ mà cả cộng đồng sử dụng nó cùng chia sẻ. Làm thế nào có thể giúp các bạn hình dung được cái Thực đơn dân đảo dài vô tận ấy, khi kí ức đầy lo sợ của tôi hầu như chẳng chứa nổi nó. Tất cả đang đồng thời hiện lên trong tâm trí tôi, trong khi những gì tôi đang ghi lại đây thì mạch lạc theo chiều tuyến tính. Ngôn ngữ bắt tôi phải vậy. Tôi đã nhìn thấy biển cả trù phú bao quanh quần đảo, dưới lòng biển, tôi trông thấy những lưới là lưới, và trong lưới tôi trông thấy lúc nhúc đủ mọi giống tôm, thấy chúng đã nằm trên các bàn ăn gia đình tự bao giờ dưới những mặt người đang cúi xuống cười mãn nguyện, thấy những quả lê đã được xắt thành miếng và xếp gọn gàng trên đĩa, hình một con ngựa vằn xanh được làm nổi lên trên bề mặt gốm, thấy cả miếng đuôi bò lấp ló bên dưới lớp sốt kem đỏ màu ớt, thấy mực ống và bạch tuộc chìm nghỉm trong nước mực của chúng, thấy đầy những chuối lá, táo, khế, hồng xiêm, na, mãng cầu, xoài, rồi là những con tôm hùm to bự chảng đang bốc mùi thơm ngào ngạt mời gọi quyến rũ không chừa một cái mũi nào, ngay đó là một mê cung đang được xây dựng lại (chính là Havana đấy), và nhìn kìa, ở khoảng sân sau một ngôi nhà trên một con phố nào đó trong khu Buenavista, một cái bàn dài dành cho bữa tiệc cuối tuần đã được bày biện ăm ắp nào là một con lợn quay thơm phức, trước được nuôi ở trang trại hẳn hoi chứ không phải trong bồn tắm, nào là món bò khô chiên ngâm trong nước sốt đỏ, xung quanh viền trang trí những lát cà chua chín ngọt, lại thấy những củ khoai môn luộc trong đáy mắt một cậu bé có vô vàn khuôn mặt, những quả dưa chuột, củ cải trắng, cải xoong, củ cải đỏ, cà rốt, màu xanh lục của rau diếp, và những bắp cải vạm vỡ như những người phụ nữ Nga, còn đây nữa, một khoảnh đất màu mỡ ngay bên lề đường nơi cây hạnh nhân xưa chưa bị chặt đi, này đây, trong một hiệu sách trên đường 17 đang có bán bản gốc cuốn Recetas Cricollas (những công thức nấu ăn của Nitza Villapol), và ô kìa, cô đang làm biên tập cho một chương trình truyền hình đưa tin về “những công thức nấu ăn dễ-làm dành cho mọi người dân trong vùng”, tôi cũng đã thấy những con cá tươi rói nơi những người bán cá, bánh mì nướng, gà gô quay, những con hàu trong đĩa thủy tinh, những miếng phô mai cắt hình trăng lưỡi liềm, phô mai xanh, phô mai Pacma, kem, những thanh sôcôla đang chui dần vào miệng những người đàn ông da đen mình đẫm mồ hôi, và mẹ tôi thì đang cười sung sướng trước chạn thức ăn trang trí hoa văn ba-rốc, siêu thị Ciar lại được đón chào những người dân thị trấn chứ không phải những vị khách du lịch xa lạ từ đâu đến, hạt tiêu rang, một cậu nhóc con tầm mười hai tuổi đang tu sữa (món bị loại khỏi thực đơn của trẻ em sau mười một tuổi), thấy cơm trộn đậu, trắng trộn đen trong món moros, bánh cuộn brazos gitanos, bánh ngọt Pháp, cơm Trung Hoa, khoai tây Tây Ban Nha, những món cao lương mĩ vị của phương Đông, cơm bò sốt đặc sản vùng Mĩ Latinh picadillo – món khoái khẩu của Pinera, thêm cả món bánh pudding khoai ngọt mà Lezama cực kì ưa thích, thấy cả những tàn tích gớm ghiếc còn sót lại sau những bữa tiệc tuyệt vời, một con lợn quay cho đêm Giáng sinh, những chiếc răng đang ngấu nghiến thức ăn và sự xoa dịu cơn đói cồn cào, tôi thấy Thực đơn dành cho dân đảo có ở tất cả mọi nhà, thấy nhà mình trong Thực đơn ấy, và lại thấy Thực đơn ấy ở trong nhà mình, trong tờ Thực đơn lại có nhà tôi, tôi trông thấy miệng mình, bụng mình, và cái miệng đầy ắp thức ăn của bạn hiện ra, rồi cảm thấy chóng mặt buồn nôn, tôi khóc, bởi mắt tôi đã vừa nhìn thấy điều bí mật, điều mà thường xuyên được bóng gió ám chỉ tới nhưng cái tên thật của nó đã bị chính những người dân đảo vứt bỏ đi, vậy mà có xa xưa gì cho cam, mới đây thôi, họ vẫn còn đang được nhìn thấy nó: một Thực đơn tuyệt vời dành cho dân đảo.

Khi ấy, tôi chợt thấy lòng dâng lên một niềm yêu mến vô biên, một cảm giác nuối tiếc lớn lao. Tôi lo sợ rằng ấn tượng về những gì tôi đã mất đi, ấn tượng về những gì họ đã lấy đi khỏi tôi, rồi sẽ chẳng bao giờ buông tha tôi. May làm sao, sau vài đêm chong chong mất ngủ, chứng quên của tôi đã trở lại phát huy tác dụng.

Thực đơn dân đảo có tồn tại ở sâu trong tâm hồn tôi hay không? Có phải đúng là tôi đã được nhìn lại nó vào chính cái đêm mà tôi nhìn ngược trở lại vào tâm trí mình hay không, và lúc này đây phải chăng tôi đã hoàn toàn lãng quên mất nó? Rõ ràng là kí ức đảo của chúng tôi quá dễ bị ảnh hưởng bởi chứng lãng quên. Chính tôi đây, dưới sự xói mòn khốc hại của thời gian, đang làm biến dạng và đánh mất mùi vị của trứng và bánh mì hàng ngày.

– Cho cha mẹ tôi

bài đã đăng của Ronaldo Menéndez


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch