Trang chính » Biên Khảo, Phê Bình, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Thời Hậu Bùng Nổ và Thế Kỷ 21

0 bình luận ♦ 18.07.2016

by-night-in-chile-roberto-bolano

Khi một thời kỳ văn học đạt đến chỗ sung mãn, có nghĩa là một thời kỳ văn học khác khởi đầu. Đó là lẽ tự nhiên của sáng tạo trong văn chương. Những thời kỳ này, chỉ khác nhau ở mức độ, trường độ và phẩm chất. Tính về mức độ và phẩm chất, những thời kỳ văn học về sau khó vượt qua thời kỳ bùng nổ và đổi mới. Tuy nhiên, như một dòng sông, dù quanh co, dù rộng hẹp, dù lưu lượng nước ít hay nhiều, dòng sông vẫn chảy. Nhiều nhà phê bình cho rằng cái chết của Octavio Paz dường như đã kéo theo hồi kết cuộc của phong trào Hóa Ảo Hiện Thực. Trong thực tế và hiệu quả văn học, bất kỳ một phong trào, chủ thuyết, hay một trường phái nào quan trọng trong văn học thế giới đều có bắt đầu và chấm dứt. Nhận xét này thường căn cứ trên thời gian, tác giả và tác phẩm. Trong giá trị, những tinh túy của phong trào, chủ nghĩa, trường phái đều tồn tại trong văn chương về sau, khi mạnh khi nhẹ, khi tỏ khi mờ trong những tác giả sau này, dù là vô tình hoặc cố ý.

Khởi điểm của phong trào Hậu Bùng Nổ.

Nếu thời kỳ sung mãn của Bùng Nổ từ 1960-1980 rồi bảo hòa sau năm 1990-2000, thời kỳ Hậu Bùng Nổ đã manh nha từ thập niên 1970. Theo như nhận định của Elzbieta Sklodowska, thời điểm chính thức của Hậu Bùng Nổ là 1975, với tiểu thuyết Soné que la nieve ardia của Antonio Skármeta. Song song hai loại sáng tác Hóa Ảo và sáng tác trong khuynh hướng mới xuất hiện trong thập niên 1980 trở đi. Bên Hậu Bùng Nổ đưa ra những tác phẩm được quan tâm, như La casa de los Espiritus của Isabel Allende, năm 1982. Cho đến khi những nhà văn thuộc thế hệ sau như Sergio González Rodríguez, Mario González Suárez, Herberto Yépez, …v…v… đặt ra câu hỏi thách thức: Tiểu thuyết Châu Mỹ Latin có còn đủ sức ảo thuật để cống hiến? Và phê bình cho rằng, nhà văn Colombia, Juan Gabriel Vásquez với tác phẩm The Sound of Things Falling, viết về tranh giành của đảng phái xã hội đen, như một mùa màng mới cho các nhà văn đang nỗ lực thoát ly các bóng lớn của văn tài như Cortazar, Marquez, Fuentes, Vargas-Llosa ….

Thế hệ nhà văn trẻ có thể phân chia thành hai nhóm đối nghịch với văn chương hóa ảo một cách rõ ràng: 1)- nhóm MacOndo và 2)- nhóm the Crack.

Nhóm MacOndo là tựa đề rút ngắn của tuyển tập truyện do nhà văn Chí Lợi Alberto Fuguet và Sergio Ómez thực hiện trong năm 1996. Cùng trong năm, một nhóm nhà văn Mễ xuất bản Crack Manifesto (Tuyên ngôn rạn nứt), phản đối một số hình ảnh cũng như sự kiện không thật, hoặc không đúng sự thật trong tiểu thuyết hóa ảo.

Trong bảng danh sách liệt kê những nhà văn trẻ được biết đến và có tác phẩm trong khuynh hướng mới của Donald L. Shaw, trong The Post Boom in Spanish American Fiction, năm 1995, bao gồm:

Jose Agustin (Chí Lợi), Gustavo Sainz (CL), Jorge Aguilar Mora (Mễ), Luis Rafael Sanchez (Puerto Rico), Manuel Puig, EduardoGudiiio Kieffer (Argentina), Reinaldo Arenas và Miguel Barnet(Cuba), Oscar Collazos (Colombia), Sergio Ramirez (Nicaragua), Juan Jose Saer (Agentina), Rafael Humberto Moreno-Duran (Colombia), Jose Emilio Pacheco (Mexico), Mempo Giardinelli (Argentina), Isabel Allende (Chile), Luisa Valenzuela (Argentina), Elena Poniatowska (Mexico) …v…v…

Phản ứng của Hậu Bùng Nổ.

Sự xuất hiện của những nhà văn trẻ với những khuynh hướng quan trọng, được xem như phản ứng chống lại lối sáng tác Hóa Ảo của thế hệ các nhà văn đi trước. Lớp nhà văn trẻ thay thế hình ảnh Châu Mỹ Latin, đã bị toàn cầu hóa, bằng những hình ảnh thực tại ở địa phương và tầng lớp quần chúng cụ thể. Đây là sự chuyển hướng thực dụng. Thay vì chú trọng đến văn hóa đặc thù của dân tộc, họ chú trọng đến “căn cước” cá nhân. Nếu thế hệ trước ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Hiện Đại, họ ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Hậu Hiện Đại hoặc chủ nghĩa Hậu Thuộc Địa. Hơn thế nữa, trào lưu chung của phim ảnh, sách báo, phát thanh, truyền hình chú trọng cổ võ về tìm hiểu và tự tin nơi cá nhân thay vì tập thể. (Echevarría 2012:118). Những phản ứng này dựa trên ba căn cứ:

1- Văn chương nhắm vào tầng lớp ưu tú trong xã hội quá nhiều và không gần gũi người đọc.

2- Văn chương nhắm vào chủ nghĩa thế giới quá nhiều, thiếu bản chất địa phương.

3- Sử dụng thủ thuật và kỹ thuật quá nhiều, bản thân ngôn ngữ chưa có khả năng thể hiện sự huyền ảo.

Trong khi sáng tác của thời Bùng Nổ là nghi vấn về hai cơ bản: 1- Hiện thực và 2- Thể hiện hiện thực. Sáng tác thời Hậu Bùng Nổ cũng đặt lại nghi vấn như vậy, hiện thực và làm thế nào để thể hiện nó.

Hiện thực thì cụ thể và thực tế, nhưng hiện thực trong tâm trí, hiểu biết, kinh nghiệm của mỗi người thì khác biệt. Quan trọng hơn nguồn gốc, chính là quá trình thể hiện cái hiện thực. Những nhà văn thời Hậu Bùng Nổ thử nghiệm và kinh nghiệm về những phương thức thể hiện hiện thực và phát triển theo chiều hướng khác thời Bùng Nổ. Bao gồm việc từ bỏ cách hành văn, phong cách tường thuật lịch sử, cách trình bày nhân vật và quyền hạn của tác giả trong sáng tác. Áp dụng nhãn quang tinh vi hơn về vai trò ngôn ngữ trong tiểu thuyết, và có khuynh hướng “viết vì viết” hơn là “viết vì tạo sự quyến rũ độc giả”. Nhận xét chung, họ tìm cách nhìn lại hiện thực và mang tiểu thuyết về lại Châu Mỹ Latin.

Một chu kỳ khác của chủ nghĩa quốc gia? Không hẳn như vậy, họ đang xác định lại khả năng mô tả và giải thích của nhà văn và xây dựng lại lòng tự tin. Phải chăng, lòng tự tin về tầm nhìn hiện thực đã bị lung lay khi cảm thấy không còn khả năng để giải thích hiện thực một cách rõ ràng, phải sử dụng nghệ thuật hóa ảo?

Các nhà văn Hóa Ảo Hiện Thực trải qua những biến cố lớn của tình hình thế giới và những bạo quyền, đàn áp của xã hội mà họ đang sống. Kinh nghiệm lưu đày và bị ruồng bỏ khiến cho họ mất dần niềm tin vào nhân loại và mờ nhạt bề diện tốt đẹp của con người, do đó, hiện thực dưới nhãn quang của họ đã mờ ảo. Sự trông cậy và thích thú của họ về văn chương và đời sống bị nhiễu xạ bởi thời đại. Nói một cách khác, sự ngắn hạn thể hiện hình dạng hiện thực, mà hiện thực lại có bản chất lâu dài.

Những nhà văn Hậu Bùng Nổ gặp những tình hình chính trị khác, toàn cầu hơn, như sự sụp đổ của bức tường Berlin, sự thay đổi chế độ Cộng Sản của Nga, sự bành trướng của Trung Quốc và hơn hết là sự bạo động, nguy hiểm của khủng bố Al Quaida và Isis. Ý niệm thế giới có thể được tốt đẹp hơn bởi ảnh hưởng văn chương đã là ảo mộng.

Nhà văn Isabel Allende nhận định vài quan điểm về chủ định của thời Hậu Bùng Nổ:

1- Quay về lại lý tưởng của tình yêu với sự lạc quan và kinh nghiệm sống. Tình yêu có thể giải quyết nhiều vấn nạn căn bản của xã hội, của cá nhân. Năng lực này vắng bóng trong tiểu thuyết hóa ảo, tình dục xuất hiện lấn áp tình yêu và khả năng tình dục không hoàn toàn giải quyết được vấn đề bình an, tự tại.

2- Hiện thực đến với độc giả dễ dàng hơn và hữu hiệu hơn. Những thủ thuật của nhà văn hóa ảo thể hiện hiện thực được ghi nhận như thể loại văn phong, bút pháp. Người đọc thường khi gặp khó khăn khi cảm nhận toàn thể cốt truyện. Những chi tiết mơ hồ thường tạo thêm ý nghĩa lạc lõng và cấu trúc hoang đường, thần thoại dẫn đọc giả đi xa hiện thực hơn là nhìn thấy hiện thực. Nói một cách khác, thay vì sử dụng ẩn dụ, tượng trưng hoặc tình huống làm xáo trộn, bối rối như thủ thuật hóa ảo, Hậu Bùng Nổ muốn “tái cam đoan” hiện thực qua cách sử dụng những thủ thuật này. Nhà văn Valenzuela nói rằng: “Tôi nghĩ, một điều mà chúng ta [nhà văn] cần phải làm là nói về những gì đang xảy ra.” Nhà văn Ricardo Piglia nhận định, ” Việc sử dụng thể loại thông thường hiện nay là cách viết tiểu thuyết thực nghiệm.

Tranh cãi về Hậu Bùng Nổ.

Tâm điểm của Hậu Bùng Nổ là sự trở lại một hình thức chủ nghĩa hiện thực tiếp cận với những diện quan trọng và ảnh hưởng mạnh mẽ trong xã hội. Tuy nhiên, nếu nhìn về mặt ký hiệu học, “cái hiện thực biểu hiện” có thể thể hiện rõ ràng qua ngôn ngữ, nhưng “cái hiện thực được biểu hiện” và “cái hiện thực ám chỉ” cần phải có phương pháp và sự giải thích ra ngoài khả năng diễn đạt của ngôn ngữ thông dụng, bao gồm từ vựng, ngữ pháp và văn phong. Allende nhận định thú vị: “Sự dối trá đầu tiên của tiểu thuyết là đặt ra một trật tự hỗn loạn của đời sống. […].. Tất cả chỉ là lời nói dối vì cuộc sống không phải xảy ra như vậy. Mọi thứ xảy ra đồng thời trong một cách hỗn loạn.”

Nhìn ở khía cạnh sáng tạo, nếu mô tả hiện thực theo hiện thực xảy ra, sẽ mang ý nghĩa khách quan mà chưa hẳn đã đúng và không ai có thể kiểm chứng sự đúng sai; như thể triết học nhị nguyên đã dẫn chứng, không có đúng cũng không có sai, chỉ có sự hiện diện của cả hai làm cho cả hai có ý nghĩa. Nếu diễn tả hiện thực qua tưởng tượng hoặc hư cấu, nghĩa là ý nghĩa của hiện thực đã trở thành ý nghĩa chủ quan của tác giả. Làm sao có thể ủng hộ những giá trị công lý, tình yêu, lý tưởng…v…v… khi chúng ta biết rõ chỉ là giá trị chủ quan, sẽ thay đổi?

Mặt khác, Hậu Bùng Nổ đưa ra quan niệm sáng tác rất gần gũi với phong trào Tân Hiện Thực (Neo-Realism), đang lấn đất trong lịch sử tiểu thuyết và truyện ngắn hiện nay. Trước hết là những tiểu thuyết Tân Lịch Sử không tạo được sự cách biệt với tiểu thuyết lịch sử trước đó, không tạo thành phong trào rõ rệt, mạnh mẽ như phong trào tiểu thuyết lịch sử hóa ảo. Họ rời bỏ khía cạnh triết lý, chú trọng về sự kiện, nhưng phải cẩn thận vì tiếp cận quá sát với sự kiện lịch sử, có nghĩa là một loại phó bản của lịch sử. Cũng tương tựa như vậy mô tả tiếp cận những sự kiện thực tế của xã hội và cá nhân, chưa hẳn đã là tiểu thuyết hoặc truyện ngắn. Sự nghi vấn vẫn tồn đọng tại câu hỏi về kiến thức, sự hiểu biết về hiện thực. Ví dụ, sự hiểu biết và lịch sử của Vua Quang Trung, ai có thể biết hiện thực một cách rõ ràng, ai dám bảo đảm những sự kiện xảy ra?

“Hiệu quả của hiện thực” được Hậu Bùng Nổ dùng cấu trúc văn bản để thể hiện ý thức hiện thực. Họ chú trọng chức năng ngôn ngữ diễn đạt hơn thế hệ trước, cùng một lúc, họ quan tâm đến vấn nạn của chính ngôn ngữ. (Shaw 1995: 2-8.)

Điểm nhấn quan trọng ở đây là tranh cãi cũng như ý thức phản kháng lại phong trào Hóa Ảo sẽ khó thuyết phục, nếu như không có tác phẩm chứng minh. Những nhà văn trong nhóm MacOndo và The Crack chưa thực sự có những tác phẩm được công nhận tương đương về giá trị như “Trăm Năm Cô Quạnh” của Marquez và những tác phẩm lớn của phong trào Hóa Ảo Hiện Thực.

Tình hình chung của Hậu Bùng Nổ.

· Hai nhà văn trong thế hệ trẻ được biết đến, được đón nhận:

1- Nhà văn Bolivia, Edmundo Paz Soldán (1967-  ), trong nhóm Mac Ondo. Đã xuất bản tiểu thuyết Eldelirio de Turing (Nỗi ám ảnh của Turing) năm 2003.

2- Nhà văn Mễ, Jorge Volpi (1968-…) thuộc nhóm The Crack. Đã xuất bản tiểu thuyết, En busca de Klingsor (Sự tìm kiềm của Klindsor) năm 1993, đoạt giải Biblioteca Breve; và (El fin de la locura (Cuối cùng của sự điên rồ) năm 2003.

· Hai nữ sĩ đã có mặt từ thời kỳ Bùng Nổ và vẫn tiếp tục xuất bản tiểu thuyết và truyện: 1- Nữ sĩ Chi Lợi, Isabel Allende (1942- ) Bà nổi tiếng ở Âu Châu. Tác phẩm của bà lúc khởi đầu mang ảnh hưởng của Marquez, về sau, bà rời xa dần và thể hiện lối đi riêng.

2- Nữ sĩ Luisa Valenzuela (1938 –  ), con gái của nhà văn Luisa Mercedes Levinson, đã xuất bản truyện từ lúc trẻ. Nhũng tác phẩm bao gồm Cambio de armas (Sự thay đổi của người bảo vệ) năm 1982; Cola de lagartijia (Đuôi con thằn lằn) năm 1983.

· Hai tiểu luận gia được thế giới quan tâm:

Nhà văn Cuba lưu vong, Antonio José Ponte (1964 –  ); và nhà văn Cuba, Rafael Rojas (1965 –  ). Cùng với một số nhà văn thế hệ mới xuất hiện trong tạp chí văn học Letras libres. Đây cũng là truyền thống của văn học, luôn luôn phải có một sân chơi tầm vóc và phẩm chất để trình bày những quan điểm mới, những sáng tạo của thế hệ đương thời.

· Hai nhà văn quan trọng đã mang văn chương Châu Mỹ Latin trở lại trong tầm nhìn khác:

1- Nhà văn Clombia, Fernando Vallejo (1942-  )

2. Nhà văn Chi Lợi, Roberto Bolano (1953-2003).

Vallejo theo học triết và sinh vật học. Qua Rome học về phim ảnh và trở về Colombia sản xuất phim. Năm 1971, phải dời đi Mễ vì trở ngại với chính quyền đương nhiệm. Tác phẩm của ông từ phim ảnh đến tiểu thuyết, đều cởi mở và tiền phong ủng hộ những phong trào mới trong đời sống như Đồng Tình Luyến Ái, Di dân …..

Trong khi đó Bolano là nhà văn thuần túy, ở Châu Mỹ Latin, ông nổi tiếng ngang ngửa với những tác giả thời Bùng Nổ. Được sự kính trọng trong giới văn học vì phẩm chất của những tác phẩm. Ông là con của một tài xế xe vận tải, bỏ học đi làm thơ. Đến Mễ và gia nhập vào nhóm nhà thơ phản kháng. Chính Octavio Paz đã giới thiệu thơ của ông đến người đọc và ông được nổi bật từ đó. Tác phẩm Los detectives salvajes (Thám tử dã man) năm 1998, mang lại cho ông giải thưởng Rómulo Gallegos năm 1999. Đó cũng là tác phẩm được xem có thể so sánh với các tác phẩm lớn của thế hệ trước. Trong lúc bệnh gan phát tác, ông đã sáng tác dữ dội vì biết rõ thời giờ còn lại ngắn ngủi. Tiểu thuyết Nocturno de Chile (Về đêm ở Chí Lợi) năm 2000 xuất bản, tuy chưa được 200 trang nhưng được công nhận như một phó kiệt tác của ông.

Tiểu thuyết Nocturno de Chile.

Câu chuyện mở đầu, kể về nhân vật chính, mang trọng bệnh, đang chờ chết, nhưng vẫn còn có nhiều điều muốn nói, vì những tin đồn vu khống, làm hại đến thanh danh quí trọng của ông, từ một “thanh niên nhăn nheo”. Ông nói rằng, ông sẽ chịu trách nhiệm về tất cả những gì đã làm sai, nhưng những sự dối trá, cần phải mang ra sự thật, trước khi ông qua đời.

Người kể chuyện tự giới thiệu là Sebastian Urrutia Lacroix, một linh mục người Chí Lợi. Kể lại từ lúc khoảng mười ba, mười bốn tuổi vào chủng viện đi tu cho đến khi được thụ phong linh mục. Ông không nhớ rõ, trước hoặc sau khi lễ thụ phong, đã gặp một người tên Farewell, ông ta là nhà phê bình văn học nổi tiếng nhất ở Chí Lợi. Sebastian gặp Farewell tại phòng thư viện trong nhà của Farewell. Say mê trước số lượng sách cao kỳ, Sebastian tuyên bố sẽ đi theo con đường văn học này. Ông cho rằng không có gì trên mặt đất có thể sung mãn hơn là đọc sách và trình bày lại những gì đã biết. Farewell khuyến khích người bạn trẻ, tuy nhiên, cảnh cáo cho Sebastian biết về thực tế, cuộc sống khó khăn, đất nước Chí Lợi còn chậm tiến, văn học là chuyện lạ kỳ, chẳng ai xem trọng, cũng không biết làm sao để thu nhận.

Sau đó, Farewell mời Sebastian đến viếng thăm trang trại của ông trong một ngôi làng nhỏ. Tham dự tuần lễ văn học với những nghệ sĩ thành danh, Sebastian đến sớm hơn khách mời và sung sướng, hãnh diện được đàm đạo văn học cùng một trí tuệ hiểu biết sâu rộng. Hôm đầu tiên, ông đi dạo chung quanh trang trại, Chứng kiến đời sống nghèo khổ của các công nhân, khi trở về thư viện, ông bắt gặp một người đàn ông đứng ngoài lan can, xoay lưng, mặt hướng nhìn mặt trăng và đang lầm bầm điều gì. Ông nhận ra chính là thi sĩ hàng đầu vùng Châu Mỹ Latin, Pablo Neruda.

Sau buổi cơm tối, uống rượu quá nhiều, Sebastian cảm thấy chóng mặt, ông ra đứng ngoài bao lơn, thở không khí trong lành. Farewell xuất hiện đứng phía sau lưng, trong lúc trò chuyện về thi tài Neruda, Farewell nói Sebatian quay lại ngắm vầng trăng, rồi ông bắt đầu tấn công tình dục với linh mục trẻ. Sebatian mất phương hướng, bối rối giữa thích thú và viễn cảnh ngày tận thế trong sách Thánh. Bất chợt Neruda xuất hiện, khiến Farewell đành phải rút lại bàn tay đang đặt trên mông của Sebastian.

Hôm sau, nhiều khách phương xa kéo đến. Sebastian đi dạo ra ngoài trang trại và lạc vào rừng sâu. Gặp những cảnh đẹp của thiên nhiên bên cạnh những cảnh đói nghèo, khổ sở của hai đứa trẻ con, trần truồng như Adam và Eva; rồi ông lại gặp những nông dân với “linh hồn thất lạc trong sa mạc.”

Khi về lại trang trại, ông nghe Neruda đọc thơ và đàm đạo với những người khách của Farewell. Chuyến viếng thăm chấm dứt. Suốt một tuần lể sau, về Santiago, Sebastian mang những hình ảnh hỗn loạn theo những chiêm bao lạ lùng, kể cả giấc mơ về người cha lái xe vận tải bị đốt cháy.

Sebastian bắt đầu dạy học ở đại học công giáo, xuất bản thơ và viết phê bình văn học. Ông lấy bút hiệu H.Ibacache khi viết phê bình nghiên cứu và giữ tên thật khi sáng tác thơ. Chẳng bao lâu sau, tên tuổi H. Ibacache nổi tiếng hơn tên thật. Ông muốn cho tên tuổi của Ibacache trở thành “tinh khiết”, đại diện cho công tâm, thẳng thắn về suy tư văn học và phê bình văn chương.

Trong buổi tiệc ở nhà người quen, Don Salvador Reyes, ông được chủ nhân giới thiệu về một người bạn của ông, nhà văn Đức Ernst Junger, là một nhà văn thuần khiết nhất, tác giả vài tác phẩm về thế chiến I. Ông tiếp tục kể câu truyện ông cùng Junger gặp nhau tại Paris trong thời chiến tranh, trên căn gác của họa sĩ người Guatemala. Người họa sĩ này từ chối rời khỏi nơi cư trú, nhịn ăn, thiếu uống. Reyes phải tiếp tế thực phẩm, thức uống và sách. Người họa sĩ mắc “hội chứng u uất hoang tưởng”. Trước khi nghe hết câu chuyện, Sebatian bất ngờ cũng lâm vào tình trạng u uất như căn bệnh “Black Bile”. Ông đã bị lây nhiễm, đưa đến ngày hấp hối trên giường bệnh. Chính Don Salvador trong lúc chăm sóc cho người họa sĩ cũng nhiễm chứng u uất. Cho đến khi gặp nhà văn Junger, đã hướng dẫn ông thoát ra sự mệt mỏi buồn sầu bởi nét đẹp tinh tế của thẩm mỹ.

Những người quan tâm về văn học CML đều biết rằng, sau khi Bolano qua đời, sẽ còn hàng trăm Bolano khác đang sáng tác trong bóng tối. Sẽ có ngày, ánh sáng chiếu dọi đến họ. Vì sao? vì cá tính và truyền thống của văn chương Châu Mỹ Latin là ý thức vai trò và mục tiêu của văn học. Sáng tác bằng sáng tạo và nỗ lực đưa đến tác phẩm có phẩm chất. Truyền thống và cá tinh này đã được chứng minh và sẽ được tiếp tục thực hiện.

Tham Khảo:

Amith, Verity. 2000. Concise Encyclopedie of Latin American Literature. Fitzroy Dearborn Publisher, Chicago, Illinois, USA.

Echevarría, Roberto González. 2012. Modern Latin American Literature. Oxford University Press, Inc. 198 Maison Ave. New York, New York 10016.

Poey, Delia. 2002. Latino American Literature in the Classroom. University Press of Florida.

Kristal. Efrain. 2005.The Latin American Novel. Cambridge University Press.

Rave, María Eugenia B. 2003. Magical Realim and Latin American. A Master Project. The University of Maine.

Smith, Verity. 1997. Encyclopedia of Latin American Literarture. Fitzroy Dearborn Publisher, Chicago, Illinois, USA.

Shaw, Donald L. 1995. The Post-Boom in Spanish American Fiction. Studies in 20th Century Literature. Volume 19. Article 3.

Solé, Carlos A. 2002. Latin American Writers. Charles Scribner’s sons, Gale Group.

Susmitha. Latin American Boom.

http://shodhganga.inflibnet.ac.in/bitstream/10603/31012/7/07_chapter%201.pdf

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch