Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Nghiên Cứu, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Tác Giả và Tác Phẩm trong Thời Đổi Mới

0 bình luận ♦ 15.07.2016

.

Sự đổi mới như một cơn bão tích tụ và xoay cuốn bởi những tác giả có khả năng là các tôn sư của môn phái văn học. Họ sáng tác những tác phẩm hoàn toàn mới, đoạn lìa dòng văn học Âu Châu và Hoa Kỳ, và là những tác phẩm có phẩm chất cao về trí tuệ lẫn văn chương. Sự đoạn lìa này chính là sự ngạc nhiên và khâm phục của thế giới Tây Phương, vốn là cái nôi của văn học thế giới.

Những tôn sư này kết hợp với nhau bằng tính thần thoại, hoang đường có gốc rễ từ dân gian truyền thuyết của các sắc dân trong Châu Mỹ Latin. Nếu nhận xét cho đúng đắn hơn, là một sự đồng dạng của tiểu thuyết Tây Phương thời trở về với thần thoại Hy lạp và La Mã. Sự kiện này, nhìn thấy trong thi ca của CML, những thiên anh hùng ca tuy rất thời sự nhưng đều mang gốc rễ từ tôn giáo, thần thánh, huyền thoại của dân gian.

Tuy nhiên với kỹ thuật viết đương thời, từ biểu hiện, tương trưng, siêu thực, tâm lý, hiện đại, hoà hợp với nhau, cộng với cá tính riêng của tác giả, đã tạo ra phong cách diễn đạt mới lạ về những chuyện hoang đường. Các nhà phê bình chính thức gọi phong cách này là Magic Realism hoặc Magical Realism. Một số nhà phê bình khác, không yêu chuộng lắm, gọi là False Realism.

Câu chuyện Magic Realism.

Giải quyết về tên gọi này, đúng nhất là xét về tính chất và chức năng của nó, thay vì căn cứ trên hiện tượng. Người Việt gọi chung là Hiện Thực Huyền Ảo, tức là dịch cụm từ Magic Realism.

Magic Realism không phải là học thuyết, chủ nghĩa hoặc trường phái, chỉ là phong trào. Nhiều nhà văn tài danh ở nhiều nơi cách biệt, thậm chí, không có liên hệ liên lạc, cùng viết qua cung cách sử dụng những hư cấu, tưởng tượng có tính hoang đường, thần thoại hoặc siêu tưởng như Cortazar. Họ không có qui tắc, điều lệ, mỗi người mỗi kiểu thể hiện điều họ muốn nói. Nhìn một cách tiếp cận hơn, đây là cách diễn đạt. Khi văn chương hiện thực ngự trị và cai quản lâu dài với những văn tài bậc nhất như Hemingway, Faulkner…v..v… mà những thao thức của con người vẫn không thể giải tỏa, cần một cách giải quyết khác, hóa ảo, chính là cách diễn đạt về những hiện thực không bằng hiện thực mà bằng thế giới ảo. Hóa ảo là chức năng của diễn đạt trong quan niệm này. Chữ Magic ở đây có nghĩa là ảo thuật, không phải là ma thuật, phép thuật, không phải là phép lạ. Ảo thuật có nghĩa làm chuyện không thật cho người xem tưởng là thật do ảnh hưởng giữa kiến thức thị giác và kinh nghiệm tâm lý , tâm linh. Nhưng dù nhà ảo thuật giỏi đến đâu, cũng chỉ là thủ thuật. Vì vậy, lẽ ra nên gọi là Hiện Thực Hóa Ảo.

Riêng về cách gọi False Realism, mang một chút dè dặt, "Hiện thực giả", một chút phê phán. Nếu giả hiện thực trong nghĩa mô phỏng hiện thực, thì tất cả mọi sản phẩm của con người đều là giả hiện thực, tùy vào mức độ nhiều hoặc ít. Nếu "giả" có nghĩa thấp kém phẩm chất như thức ăn giả, nước hoa giả, thuốc giả….thì nghệ thuật diễn đạt của Magic Realism không giả, bằng chứng là phẩm chất của các tác phẩm và công trình học hỏi của tác giả. Chứng minh bằng các giải văn chương quốc tế và giải Nobel văn chương.

Tuy nhiên cá nhân tôi dùng cụm từ "Hóa Ảo Hiện Thực" như một danh từ riêng cho phong trào. Từ "Hóa Ảo" dùng trong chức năng văn phạm như động từ, để cụm từ "Hóa Ảo Hiện Thực" sinh động và đúng ý nghĩa của diễn đạt hiện thực bằng những cách thức ảo.

 

Tác giả và tác phẩm trong thời Đổi Mới.

Nhà văn Borges có công khai phá, sau ông là những nhà văn xây dựng, như:

· Julio Cortazar (1914-1984).

Sinh ra tại Brussels, Bỉ, sau dọn về Argentina. Lấy chứng chỉ và đi dạy tiểu học  cho đến đầu thập kỷ 1940s. Năm 1952, dời sang Paris, hành nghề thông dịch viên cho UNESCO và sinh sống tại đây cho đến cuối đời. Những tuyển tập truyện ngắn của ông: Bestiario, 1951; Final del juego, 1956; las armas secretas, đã xuất hiện, trước khi tiểu thuyết quan trọng Rayuela (Nhảy lò cò) xuất bản năm 1963. Truyện của ông đầy tính chất hoang đường, kỳ lạ. Sự tưởng tượng trong cốt truyện của ông, tiến gần với Siêu Thực. Nhân vật của ông trẻ hơn nhân vật của Borges, thường đối diện với những tình huống khác thường, bi ẩn. Ảnh hưởng của thời đại, càng về sau, nhân vật của ông càng nghiêng về ảnh hưởng tâm lý.

Tiểu thuyết Rayuela (Nhảy lò cò) vừa xuất bản đã nổi tiếng, trở thành một trong những tác phẩm bán chạy nhất trong thời điểm đó. Do Gregory Rabassa dịch, cuốn này đoạt giải Nationak Book năm 1966. Một cấu trúc khác thường với hơn 600 trang. Cách đọc cuốn tiểu thuyết này được chỉ dẫn bởi một bản hướng dẫn ngay từ lúc bắt đầu, Cho độc giả được phép chọn cách đọc 155 chương sách. Một số chương được xác định là "nghịch tiểu thuyết" antinovel, chữ dùng của Cortazar, thực chất là những chương bổ túc, mở rộng thêm phạm vi của cốt truyện. Cuốn tiểu thuyết chia làm ba phần; 1- Del lado de alla (Mặt bên kia) là Paris; Del lado de aca (Mặt bên này) là Buenos Aires; De otros lados (Mặt khác) chứa những chương mở rộng. Ông đề nghị độc giả truyền thống nên đọc từ chương1 đến chương 56; độc giả tân thời nên đọc từ chương 73 đến 153.

Độc giả bình thường sẽ bắt đầu câu chuyện xảy ra:

… ở Paris, với nhân vật Horacio đang tìm kiếm người yêu La Maga, bị mất tích vô duyên cớ. Horacio sống chung với La Maga nhưng gặp trở ngại vì đứa con riêng của nàng.

Chàng trở về Buenos Aires, gặp lại người bạn cũ, Manolo Traveller, làm việc trong một gánh xiệc. Traveller kết hôn cùng Talita. Horacio làm việc chung trong gánh xiệc và trở thành thân thiết với Traveller. Sự thân thiết này gây ra mối tình cảm hoang mang giữa Horacio và Talita.

Khi gánh xiệc không còn hoạt động, cả hai cùng về làm việc chung trong một bệnh viện. Lúc này, Horacio bắt đầm lầm lẫn Talita với La Maga. Một đêm, chàng thấy nàng chơi nhảy lò cò ngoài sân, chàng đã kể lại chuyện tình La Maga với Talita. Trong một cơn cảm xúc, chàng đã hôn nàng. Trò chơi lò cò là biểu tượng cho trò chơi của đời sống, mà Horacio đang tìm kiếm một điều gì.

Sáng hôm sau, Traveller đến gặp Horacio và hăm dọa sẽ giết chàng, gây ra chấn động trong bệnh viện. Traveller và Horacio trò chuyện để giải quyết vấn đề và cũng để ổn định tinh thần của Horacio.

Sau cùng chàng có ý định tự vẫn, nhảy xuống từ chiếc cầu bắt giữa hai tầng lầu. Cuốn tiểu thuyết chấm dứt, không ai biết số phận của Horacio ra sao.

Nếu đọc hết những chương mở rộng, sẽ thấy được kết cuộc của câu truyện.

 

· Garcia Marquez (1927-2014)

Trong thập niên 1950, Marquez làm việc tại Paris cho một tòa báo Colombia. Sinh ra trong ngôi làng nhỏ ở Aracataca, Clombia. Ông bỏ ngang việc học luật để trở thành lãng tử, sống bằng nghề viết báo. Hai cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông La hojarasca (Bão lá), 1955 và La mala hora (Trong giờ tai họa), 1962 xuất bản trước khi kiệt tác Cien anos de solrdad (Trăm năm cô quạnh) ra đời năm 1967, đưa ông đến đỉnh cao Nobel văn chương 1982. Sau đó, những tác phẩm quan trọng khác như El otono del patriarca (Mùa thu của vị tộc trưởng), 1975; Crónica de una muerte anunciada (Biên niên sử của một cái chết được báo trước) 1981; El amor en los tiempos del cólera (Tình yêu trong thời dịch tả) 1985; El general en su laberinto (Đại tướng trong thời hỗn loạn) 1989; Del amor y otros demonios (Tình yêu và những quái quỷ khác) 1994….

 

Tiểu thuyết Cien anos de soledad, Trăm năm cô quạnh.

Đây là một cuốn tiểu thuyết dài, băng qua nhiều giai đoạn, kể cả cuộc nội chiến. Để dễ theo dõi, trước tiên cần sơ lược về các nhân vật chính:

1- José Arcadio Buendia: Tộc trưởng của gia tộc Buendia. Là người sáng lập ra làng trấn Macondo. Ông là người tò mò, hiếu học nhưng tính khí kỳ lạ. Ông đam mê đeo đuổi những kiến thức huyền bí để thực hiện vào thực tế. Cuối đời, bị ám ảnh bởi bóng ma, một người ông đã giết chết khi còn trẻ, ông trở nên điên loạn, bị gia đình cột vào thân cây sau nhà, nói toàn tiếng Latin, chỉ có các tu sĩ mới hiểu.

José Arcadio Buendia kết hôn cùng Ursula Iguaran và là cha của José Arcadio, đại tá Aureliano và trinh nữ Amaranta.

2- Ursula Iguaran: Vợ của tộc trưởng. Bà là người kiên cường nhất trong gia đình Buendia. Sống thọ hơn 100 tuổi. Lúc nào cũng nỗ lực bảo vệ gia đình.

Bà và chồng bà là hai anh em họ. Khi kết hôn phải bỏ trốn làng quê, đi nơi xa, vì hôn nhân loạn luân, không được gia đình chấp thuận. Nơi họ định cư đã trở thành làng phố Macondo. Bà luôn luôn bị ám ảnh rằng sự loạn luân sẽ sinh ra những quái thai là những đứa con có đuôi heo.

Tuy con cháu của bà sinh ra bình thường nhưng sau nhiều đời, con của Aureliano II, đứa cháu trai này, quả nhiên mọc một cái đuôi heo. Chết vì bị bầy kiến ăn thịt.

3- Amaranta: Con gái của gia đình Buendia. Chết cay đắng và cô đơn, vẫn còn đồng trinh. Amaranta đại diện cho một loại phụ nữ luôn luôn mặc cảm có tội khi yêu.

4- Đại tá Aureliano Buendia: Con trai thứ hai của José Arcado Buendia, Ông là người cô độc và bì ẩn. Tham gia cách mạng, lên chức chỉ huy quân đội chống lại chính phủ. Chồng của Remedios Moscote và có 17 người con, đều đặt tên Aureliano và kèm theo tên 17 phụ nữ khác nhau.

5- José Arcadio: Con trai trưởng, thừa hưởng vóc dáng mạnh mẽ và tính bốc đồng của người cha. Bỏ nhà đi theo một thiếu nữ gypsy, lãng tử du ca. Sau đó, trở về kết hôn cùng Rebeca. Đứa trẻ mồ côi được gia đình Buendia nuôi nấng.

Tóm tắt: Câu truyện về lịch sử của làng trấn Macondo bị cô lập và gia đình Buendias, cũng cùng chung số phận. Từ khi thành lập, làng trấn này không thể liên lạc với thế giới bên ngoài, ngoại trừ những lãng tử du ca thỉnh thoảng ghé qua, buôn bán những món hàng mới mẻ, như đá ngọc, thảm dệt, kính hiển vi, nam châm, la bàn….

Vị tộc trưởng của gia đình, José Arcadio Buendia, là người lãnh đạo tận cùng cô độc. Khi đứa con đầu José Arcado bỏ nhà đi theo tiếng gọi ái tình với cô gái Gypsy, người mẹ Ursula đã đi tìm kiếm khắp nơi. Và vô tình khám phá ra con đường thông thương với làng phố khác. Người bên ngoài bắt đầu đến Macondo. Dần dần, thị trấn mất đi tình trạng cô quạnh khi có số lượng người lạ lui tới và cư ngụ. Chính quyền gửi một thị trưởng đến cai quản.

Một trận dịch hạch tràn vào làng phố, giết người và làm mất trí nhớ của những ai sống sót. Thủ lãnh của Gypsy là Melquiades biết cách chữa bệnh và dạy cho Aureliano về cổ thư.

Cuộc nội chiến bắt đầu, chiến tranh mang đến bạo lực và chết chóc, làm mất sự bình yên của thị trấn Macondo. Một kinh nghiệm trước đây chưa hề có. Aureliano trở thành lãnh tụ của quân kháng chiến giải phóng tự do. Lên đến chức đại tá. Dọc theo thời gian, làng trấn Macondo thay đổi, từ một nơi thôn dã, huyền bí, an toàn, trở thành một thị trấn mở rộng đón đưa thế giới bên ngoài, qua danh tiếng của đại tá Buendia. Trong giai đoạn chiến tranh và về sau, chính quyền cai quản nơi này thay đổi vài lần. Có một lần, Arcado, đời thứ ba, người tàn ác nhất trong gia tộc Buendia, cai trị một cách hà khắc độc tài, sau cùng bị xử bắn. Một người khác được bổ nhiệm làm thị trưởng, đời sống dân chúng được bình an hơn cho đến khi ông bị một nhóm dân nổi loạn giết chết. Cuộc nội chiến chấm dứt. Một hiệp ước hòa bình được ký kết.

Hơn một thế kỷ trôi qua, những sự kiện thay đổi chung quanh đời sống trong thị trấn được tác giả mô tả dưới nhãn quan huyền ảo. Những chuyện như sinh sản, chết chóc, hôn nhân, ngoại tình….Một số đàn ông ở Buendia hung hăng và tham lam tình dục, thường xuyên lui tới các động gái. Một số khác lặng lẽ và cô đơn, thích ẩn thân trong phòng vắng để làm những con cá vàng nhỏ xíu hoặc nghiên cứu kinh thư cổ đại. Phụ nữ cũng vậy, đủ hạng người, kể cả kẻ trắng trợn như Meme, mang về nhà bảy mươi hai người bạn ở nội trú, cùng với Fernanda del Carpio, người đàn bà đạo mạo đứng đắn, thích mặc áo ngủ có khoét sẵn một lỗ ở đáy, thuận tiện khi cô giao hôn với chồng.

Mang cảm tưởng về số phận tồn tại của gia tộc, một cách kiên cường, bà Ursula Iguaran, vợ của vị tộc trường, đã tận tụy làm hết sức mình để san bằng những khác biệt, mâu thuẫn giữa những người bên trong. Như đối với gia tộc Buendia và toàn cả thị trấn, những động lực văn minh, hiện đại có sức công phá, chia lìa không thể ngăn cản. Chủ nghĩa tư bản xâm nhập vào Macondo qua các công ty Hoa Kỳ, khai thác đất đai, khai khẩn đồn điền trồng chuối, mở hãng xưởng, thuê mướn công nhân. Họ cư trú trên một phần đất có rào cản bao che, ngay trong thị trấn. Tức giận vì sự bốc lột và cách đối xử vô nhân đạo, công nhân hãng làm chuối đình công. Quân đội theo phe các chủ nhân đồn điền đã tàn sát hàng ngàn người chống đối. Tất cả xác chết được đem thả xuống biển.

Từ lúc đó, năm năm liên tục trời đổ mưa, gây ra lụt lội,. đưa thị trấn đến cảnh suy thoái tận cùng. Sau bao năm bị bạo quyền cai trị, phồn vinh giả tạo, đời sống ở Macondo dần dần suy sụp, bao gồm cả gia tộc Buendia.

Giai đoạn kết luận là những hoài niệm về thời gian đã mất. Cuốn tiểu thuyết kết thúc gần giống như phần mở đầu, về ngôi làng, một lần nữa, bị cô lập và quạnh hiu. Nhân vật sống sót cuối cùng của gia tộc Buendia, Aurelinado II, tìm thấy lời tiên tri cổ đại trong cuộn sách xưa, do các thủ lãnh Gypsy để lại. Lời sấm truyền đã có dự đoán cả câu truyện toàn bộ lịch sử gia tộc Buendia, từ đời tộc trưởng cho đến đứa con sơ sinh có đuôi heo.

Khi ông đọc xong câu truyện, một trận bão lớn thổi qua, quét sạch ngôi nhà và làng phố. Tất cả chỉ còn lại trí nhớ và lịch sử.

 

· Carlos Fuentes (1928-2012).

Trong nhóm Magic Realism, ông là người có khuynh hướng chủ nghĩa thế giới nhiều nhất. Con của gia đình trí thức, sinh ra ở Panama. Lớn lên ở Washington D.C. Hoa Kỳ. Dời đi nhiều nơi. Học luật ở đại học Mexico và Geneva. Trở thành nhà ngoại giao, làm đại sứ ở Pháp. Thường xuyên đối diện với tình hình chính trị và tình trạng sắc tộc di dân hợp pháp và bất hợp pháp của người Mễ, ông viết tiểu luận và viết bài cho báo. Những mâu thuẫn chính trị xuất hiện trong tiểu thuyết của ông, mặc dù ông chú trọng tư tưởng và thẩm mỹ. Tiêu thuyết quan trọng của ông, La muerte de Artemio Cruz, 1962, (Cái chết của Artemio Cruz). Khởi đầu ông ủng hộ cách mạng Cuba, về sau bất đồng với chính sách của Castro, ông ly khai và trở thành nhà văn chống đối. Cùng năm 1962, ông xuất bản tiểu thuyết Aura (Aura, [tên của cô gái] ), được xem là tiểu thuyết hay nhất của ông. Những tác phẩm khác như, Cambio de piel, 1967, (Làn da thay đổi); Zonna sagrada, 1967, (Khu vực thiêng liêng); Cumpleanos, 1969, (Sinh nhật); Terra Nostra, 1975, (Đất của chúng tôi), được xem là tác phẩm đại diện cho công trình sự nghiệp của ông.

Tiểu thuyết Aura của Carlos Fuentes.

Aura là một cuốn tiểu thuyết ngắn, một câu truyện kỳ hoặc, mang tính hóa ảo hiện thực của văn chương Châu Mỹ Latin.

Nhân vật chính là Felipe Montero, tốt nghiệp trường Sorbonne, tìm thấy một quảng cáo trả lương cao cho công việc sử học, cần Pháp ngữ. Hôm sau anh tìm đến địa chỉ, gõ cửa và được góa phụ quí tộc Senora Consuelo tiếp đón trong một nội thất âm u, khác thường. Bà muốn anh ta hoàn tất cuốn hồi ký của người chồng đã qua đời. Chồng bà nguyên là tướng lãnh quen biết Napoleon III. Tuy không nói rõ lý do, bà đòi hỏi anh ta phải ở trong nhà, suốt thời gian làm việc. Sau khi chấp nhận, anh ta gặp cô Aura, cháu gái của bà, nhan sắc mỹ miều, nhất là đôi mắt xanh quyến rũ. Cô đưa anh ta lên phòng trú, trên tầng cao. Rồi hướng dẫn anh đi thăm toàn ngôi nhà. Bàn ăn để bốn chiếc ghế cho ba người sống và một người chết. Ngày đêm nghe tiếng mèo kêu réo. Cô Aura giải thích vì khu nhà ở có quá nhiều chuột.

Felipe vào phòng bà Consuelo để tìm đọc hết tài liệu mà chồng bà để lại. Anh trông thấy bà quỳ cầu nguyện trước bức tường có các biểu tượng tôn giáo. Hình ảnh và ý nghĩa đầy phẫn nộ và ảm đạm. Anh ta phát giác, chỉ có khuôn mặt quỷ là hân hoan. Sau đó, bà đưa cho anh ta chìa khóa mở một chiếc rương, chứa nhiều tài liệu của chồng bà.

Anh vừa làm việc vừa nghe mèo kêu thảm thiết. một hôm, anh khám phá ra, tiếng kêu đó từ một đám mèo bị cột lại một chùm và bị đốt sống, trên một thân cây bên ngoài, gần cửa sổ phòng anh. Anh cố quên đi, cho rằng mình tưởng tượng.

Hành vi của Aura với người dì trong lúc ăn sáng đã khiến Felipe nghi ngờ, nàng là một loại tù nhân theo ý muốn của bà Consuelo.

Một đêm ngủ đày ác mộng, anh thức giấc và thấy Aura trần truồng, đè lên người anh, hôn hít. Không nói một lời nào, họ lặng lẽ làm tình. Sau đó, Aura nói anh ta là chồng của cô, anh ta nhận lời và hẹn gặp lại lúc trời đêm.

Anh ta lại đến phòng của Consuelo để lấy thêm tài liệu. Anh thấy bà nhảy đầm với bộ quân phục của người chồng. Anh về phòng đọc ráo riết những di cảo của người chồng và hiểu thêm về bà góa phụ. Bà lấy chồng năm mười lăm tuổi, trong khi ông đã bốn mươi bảy. Bà cũng như Aura, mắt xanh và thường mặc áo đầm xanh. Ông qua đời đã sáu mươi năm, anh đoán chừng bà góa phải vào khoảng một trăm lẻ chín tuổi.

Khi thức dậy, anh ta đi tìm Aura, thấy cô đang chặt đầu con dê trong nhà bếp, với gương mặt vô cảm. Anh trở lên lầu và bắt gặp bà góa cũng đang cử động cánh tay và nét mặt giống như hành động của Aura.

Đêm đến anh ta vào phòng Aura, nhìn thấy cây thánh giá đen treo trên tường. Họ ôm nhau nhảy luân vũ như bà góa đã từng nhảy với bộ quận phục. Sau khi hành lễ trụy lạc, họ truy hoan suốt đêm. Khi thức dậy, anh khám phá ra bà Consuelo đã ngồi trong phòng, theo dõi họ làm tình.

Khi thực sự thức tỉnh anh có cảm giác một điều gì kỳ lạ hiển hiện trong căn phòng, mặc dù cả hai dì cháu đã bỏ đi. Cảm giác lạ lùng này khiến cho Felipe quay trở lại phòng bà góa. Mở rương lấy những tấm ảnh cũ. Anh kinh hoảng vì phát giác hình của bà Consuelo lúc trẻ, giống hệt như Aura; còn chồng bà thì hoàn toàn giông như anh.

Anh ta ngủ thiếp đi và thức dậy, không biết là ngủ bao lâu, tình cờ vào phòng của bà Consuela và làm tình với Aura và Aura từ từ biến thành một bà già lụ khụ.

 

  • Mario Vargas Llosa (1936-….)

Ông là nhà văn trẻ nhất trong nhóm này, gốc Peru, lớn lên ở Bolivia. Khi còn trẻ, ông dời sang Lima, theo học ngành sử học và trở thành nhà báo. Viết truyện ngắn. đoạt được giải thưởng. Vào khoảng thập niên 1950, ông sang Paris và yêu chuộng văn hóa, văn học của thành phố này. Lúc đó, tiếng nói của Sartres và Camus đang ngự trị giới trí thức.

Năm 1962, lúc ông hai mươi hai tuổi, đã đoạt được giải Seix Barral với cuốn tiểu thuyết đầu tay, La ciudad y los perros (Thành phố và những con chó), được dịch sang Anh ngữ dưới tựa đề: The Time of the Hero (Thời đại anh hùng). Kể chuyện về đời sống của thiếu sinh quân trong quân trường quân đội Lima. Đưa ra nhiều khía cạnh từ nhãn quan không thuộc về quân đội, vẽ lại học viện này với những lỗi lầm của giới lãnh đạo. Một ngàn ấn bản cuốn tiểu thuyết này đã bị thiêu đốt vì chính quyền cho rằng nội dung bôi nhọ Peru.

Năm 1965, tiểu thuyết, La casa verde (Ngôi nhà màu xanh), tên đặt theo một căn nhà thổ, được xuất bản. Đoạt giải thưởng Rómulo Gallegos của Venezuela. Ông cũng thoát ly ảnh hưởng của Castro và được xem là tiếng nói mạnh mẽ nhất của phong trào Hóa Ảo Hiện Thực.

Sau giai đoạn thành công, 1960-1970, tác phẩm La fiesta del chivo ( Lễ hội con dê) năm 2000, viết về những vụ ám sát nhà độc tài Rafael Trujillo ở Cộng hòa Dominican và diễn biến sau đó. Từ hai quan điểm khác biệt đã chia thành hai giai đoạn: 1- Ngay sau khi vụ ám sát tháng Năm 1961; 2- Ba mươi lăm năm sau, 1996, phản ảnh thời đại nhà độc tài cai trị. Cuốn tiểu thuyết được xây dựng trên ba cốt truyện: 1- Kể về người phụ nữ, Urania Cabral, trở về Công hòa Dominican thăm viếng người cha, sau một thời gian đi xa. 2- Tập trung kể lại ngày cuối cùng của nhà độc tài. 3- Mô tả các sát thủ ám sát nhà độc tài. Hầu hết là những người trung thành với chính quyền trước. Điểm nhấn là mỗi câu truyện cho thấy một quan điểm khác về môi trường chính trị ở quốc gia này.

Có lẽ tác phẩm La guerra del fin del mundo (Chiến tranh tận thế) năm 1981, được nhiều nhà phê bình xem là kiệt tác của ông. Kể lại câu chuyện xảy ra ở Brazil trong thế kỷ 19, về một tôn giáo chống chính quyền xây dựng một thành phố riêng, một quân đội riêng. Sau trận chiến đã bị chính quyền giải tán. Năm 2010, ông đoạt giải Nobel văn chương.

Năm nhà văn chính thức: Borges, Fuentes, Marquez, Cortazar và Llosa, được xem là sáng lập viên của phong trào Hóa Ảo Hiện Thực. Một số nhà phê bình, xem Borges như là nhà văn Tiền-Hóa Ảo Hiện Thực. Dù nhận định thế nào, ảnh hưởng của Borges trên văn phong hóa ảo vẫn được số đông công nhận.

Có lẽ phải tìm nguồn gốc sâu xa hơn, sự học hỏi và thấm nhuần văn học Âu Châu của các nhà văn Châu Mỹ Latin là chuyện đương nhiên và cần thiết cho khuynh hướng tự phát triển, tự sáng tạo. Hai nhà văn ảnh hưởng đến cốt truyện và nội dung hoang đường, bí ẩn của Hoá Ảo Hiện Thực là nhà thơ Edgar Allan Poe (1809-1849) và nhà văn Franz Kafka (1883-1924).

Cùng thời với các nhà văn sáng lập, những nhà văn có liên hệ với Hóa Ảo Hiện Thực, được xem như trong phong trào sáng tác này, phải kể: Nhà văn Chí Lợi, José Donoso (1924-1996); nhà văn Cuba, José Lezama Lima (1910-1976); nhà văn Cuba, Guillermo Cabrera Infante (1929-2005).

Thế hệ tiếp theo, những nhà văn trẻ như: Nhà văn Cuba, Severo Sarduy (1937-1993); nhà văn Argentina, Manuel Puig (1932-1980); và nhiều nhà văn khác, rải rác khắp nơi trên thế giới, đã sáng tác theo khuynh hướng hóa ảo. Dĩ nhiên, mỗi tác giả có mức độ hóa ảo khác nhau, hoặc tiến gần hiện thực, hoặc tiến gần siêu thực, hoặc đào sâu tâm lý.

Thời kỳ thay đổi, phát triển văn học của Châu Mỹ Latin, từ thập niên 1940 gia tốc đến điểm cao 1960 và xây dựng vững vàng vào thê kỷ 21, đã mang lại cho dòng văn học này sáu giải Nobel văn chương.
1945: Gabriela Mistral (thơ)
1967: Miguel Angel Asturias (văn)
1971: Pablo Neruda (thơ)
1982: Gabriel Garcia Márquez (văn)
1989: Octovia Paz (thơ)
2010: Mario Vargas Llosa (văn).

Có lẽ dòng văn chương này đã đến độ bão hòa, đạt được vị trí văn học thế giới và giá trị toàn cầu, nên những khuynh hướng sáng tác khác bắt đầu xuất hiện. Các nhà phê bình hôm nay gọi là: Thời Hậu Bùng Nổ.

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch