Trang chính » Biên Khảo, Phê Bình, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Thơ Từ Modernismo đến Hiện Đại

0 bình luận ♦ 11.07.2016

Những nhà thơ đi sau, muốn vượt qua Modernismo không phải là chuyện dễ dàng, vì những nhà thơ tài hoa trước đó và cái bóng dềnh dàng của Darió che mọi ngả đường thơ. Nói một cách khác, giới thưởng ngoạn đang say mê thơ Modernismo, khó có loại thơ nào có thể chen chân.

Tuy nhiên, chính Darió vào gần cuối đời đã biểu lộ thơ qua Tượng Trưng (Symbolism). Một trong những khó khăn để thưởng ngoạn thơ Châu Mỹ Latin (CML) thời trước là họ sử dụng quá nhiều thành ngữ, như một cách biểu lộ văn phong và thẩm mỹ. Mãi đến thời Hiện Đại, những nhà thơ tiền phong mới bắt đầu tránh sử dụng thành ngữ và chữ nghĩa văn hoa. Hình ảnh và ngôn từ thông dụng xuất hiện thay thế cho văn phong quí tộc và cách diễn đạt triết học đầy khép kín và bí hiểm.

Trường phái Tượng Trưng tránh dùng những qui luật làm thơ. Họ chỉ giữ một điều: Cảm xúc sâu sắc của nhà thơ sẽ quyết định nơi dừng lại và chiều dài của mỗi câu, nghĩa là không chấm dứt theo vần. Đúng hơn là theo ngữ pháp nhịp điệu, dùng chấm, phết và các dấu văn phạm, cũng như kiểu xuống hàng để sáng tạo âm nhạc trong thơ. Những điều này thể hiện rõ trong thơ Verlaine và Mallarmé, hai bậc tôn sư của trường phái Tượng Trưng. Câu hỏi là tượng trưng cái gì? Tượng trưng cho những yếu tố, điều kiện sâu thẳm bên trong để xác định mặt bên ngoài của nó. Vạn vật, thiên nhiên và nhân tạo, không gì khác hơn là những hình ảnh năng động, những hình ảnh chồng chất khổng lồ, những hình ảnh sinh hoạt với nhau. Ý nghĩa có hay không, có như thế nào, là do người cảm nhận; còn khách quan, các hình ảnh ấy vẫn hoạt động không ngừng. Tượng trưng là một sinh hoạt tâm lý, vì hình ảnh khách quan bên ngoài khi nhập vào tri thức, sẽ trở thành chủ quan. Tượng trưng là nỗ lực mang hình ảnh chủ quan trở thành khách quan để đa số có thể cảm nhận ý nghĩa từ khách quan một cách chủ quan mà ý nghĩa có chức năng gần giống nhau ở mỗi người cảm nhận.

Con đường đi đến chủ thuyết Hiện Đại bắt đầu như vậy của dòng thi ca CML, vẫn còn bày tỏ ý nghĩa một cách chủ quan. Biểu cảm lãng mạn, tô điểm thẩm mỹ, chốn giấu ý nghĩ… Sự phá vỡ bắt đầu từ Nam Mỹ.

· Nhà thơ Argentina, Leopoldo Lugones (1874-1938) đã vượt ra lãnh địa Modernismo, chiếm ngự văn học Argentina khoảng 30 năm. Ông chẳng những tài hoa về thơ mà còn là một học giả, nổi tiếng trong nhiều lãnh vực khác. Những tiểu luận, luận văn đều được giới trí thức ngưỡng mộ. Ông cũng tham gia vào chính trị, ủng hộ chính quyền đương thời. Tác phẩm của ông: Las montanas de oro (Núi vàng), 1897; Los crepúsculos del jardín (Trong vườn mờ tỏ) 1905. Thơ của ông tiến gần phái Thi Sơn (Parnassian) pha lẫn Tượng Trưng. Ví dụ:

Qua đám mây hồng,
Chim nhạn, đuổi bắt
Con bướm vô hình,
vạch những chữ bí ẩn
như viết lời biệt ly

(Echevarría 2012:54)

Tác phẩm nổi tiếng của ông Lunario sentimental, 1909, (Lịch trăng đa cảm) đã đưa ông đi xa hơn Modenismo.

· Nhà thơ Uruguay, Julio Herrera y Reissig (1875-1910), bị bệnh tim từ nhỏ, phải sử dụng thuốc suốt cả một cuộc sống ngắn ngủi. Vì hoàn cảnh đặc biệt, ông đã có thể đọc nhiều sách, tự học tiếng Latin và Hy Lạp. Sự bệnh hoạn và kiến thức văn chương Hy Lạp đã mang đến thơ ông những hình ảnh có tính thần thoại. Tác phẩm của ông Los peregrisnos de piedra (Những người hành hương bằng đá), 1910, là tác phẩm được yêu chuộng tại Paris và lan tràn về lại Châu Mỹ Latin. Các nhà phê bình về sau cho rằng, Reissig đã đi xa hơn Lugones, tiến gần những trường phái mới ở Âu Châu như Đa Đa và Siêu Thực (Surrealism). Thơ ông có nhiều ẩn dụ với bút pháp tiền phong.

· Một nhóm nữ sĩ xuất hiện trong giai đoạn này: nữ sĩ Cuba, Juana Borrero (1877-96); nữ sĩ Chí Lợi, Gabriela Mistral (1889-1957); nữ sĩ Uruguay, Delmira Agustini (1886-1914); mang đến cho dòng thi ca những tâm tư và nhãn quan phụ nữ. Kể cả những khía cạnh siêu hình, người phụ nữ cũng tiếp cận một cách khác hơn.

-Nữ sĩ Delmira Agustini gặp Darió ở Buenos Aires. Sau khi đọc thơ của bà, Darió đã viết lời tựa cho tác phẩm Los cálices vacíoa (Những chén thánh trống rỗng), 1913. Thơ của bà xuất hiện như một cú sốc trong xã hội đương thời. Tính dục phơi bày trong thơ vượt qua những giới hạn của cộng đồng còn đang thờ phượng giáo điều. Bút pháp của bà tự do nhưng đầy sinh lực của nhịp điệu.

Dưới ánh sáng trăng

Mặt trăng tái nhợt và buồn bã, mặt trăng vô cảm và vô tình.
Trăng lưỡi liềm như mặt người chết nhìn nghiêng…
Màu tái nhợt ngọc trai Ả Rập nổi tiếng được ca tụng
Tôi thích hơn màu hồng của nụ hoa.
Trong một góc trần gian với sắc màu đời sống,
Tôi ngưỡng mộ mặt trăng tái nhợt và mặt người chết này!
Trên bàn thờ bầu trời đêm, như bông hoa thắp sáng
Tỏa mùi hương lạ khiến hồn tôi đê mê.
Tôi biết đôi môi héo hon vì rượu và lời báng bổ,
Sau cuộc truy hoan họ hôn dấu trăng in trên con đường sau lưng,
Những kẻ điên, chết vì hôn trăng in trên mặt hồ…
Bởi ánh trăng trong trắng, bởi ánh trăng huyền ảo
Nhuộm màu trắng, vạn vật hóa trắng,
Ngay cả linh hồn đen đúa gặp trăng, trở thành sáng mơ hồ.(1)

· Nữ sĩ Uruguayan, Juana de Ibarbourou (Juanita Fernández Morales) (1895-1979), được gọi là Juana de América, là nhà thơ được sự tiếp nhận của giới trẻ vì bà đem nét đẹp của phụ nữ vào thơ, vượt qua mặc cảm tội lỗi của tôn giáo khi ca ngợi thân xác. Tuy nhiên không vì vậy mà thơ bà hời hợt. Trong những trình bày sắc dục, bà đào sâu về những thao thức muôn thuở của con người.

Người canh giữa hồn trần truồng

Tôi tặng anh linh hồn trần truồng,
như pho tượng không gì che đậy
Khỏa thân mà ngây thơ thuần khiết
như trái cây, ngôi sao, hoa hồng;
tất cả thứ đó đều vô tư miên viễn
như Eva trước khi bị lời nguyền.
Tất cả những vật này,
trái cây, ngôi sao, và hoa hồng,
không xấu hổ khi tỏ bày tình dục
không một ai bắt chúng mặc áo quần.
Phô trương như thân thể nữ thần thanh nhã
Trắng như màu hoa Huệ trắng vô ngần!
Khỏa thân và biểu dương tất cả
bởi ái tình muôn thuở khát khao.(2)

· Nhà thơ Chí lợi, Gabriela Mistral (Lucila Godoy Alcayaga, 1889-1957), do bởi ảnh hưởng hai nhà văn bà yêu thích, Gabriele d’Annunzio và Frédéric Mistral, bà đã kết hợp và tự tạo một văn phong đầy giai điệu. Tự học, trở thành cô giáo ở tuổi 15. Về sau với học vấn cao, bà giữ những chức vị quan trọng như cố vấn cho Naples, Madrid, Lisbon và sống vài năm cuối cùng ở Hoa Kỳ. Bà dẫn đầu cổ động chương trình cứu trợ trẻ em nghèo và mồ côi vì chiến tranh. Sự làm việc xã hội và tài thi ca của bà đã đem lại cho bà giải thưởng Nobel văn chương năm 1945.

Cuộc đời của bà là một bi kịch. Bắt đầu khi người tình đầu tiên của bà tự vận bằng súng. Chuyện đau thương này ám ảnh bà suốt cả đời, nhập vào trong tác phẩm đầu tiên, Sonetos de la muerte (Ngợi ca về một cái chết), 1914. Sau khi xuất bản, tác phẩm này đã đoạt giải văn chương trong vùng, gây sự chú ý trong quốc gia Chí Lợi. Tiếp theo là tập Desolación (Tan tác), xuất bản tại New York, 1922, gây sự chú ý cho giới văn chương thế giới. Năm 1924, tác phẩm Ternura (Mong manh) ra đời và tác phẩm quan trọng nhất làm thế giới biết đến thơ của bà, là Tala (Đốn cây), 1938.

Nói về người tình đầu, chết chôn dưới mồ sâu, bà viết:

Thượng Đế, người cha lặng lẽ đong đưa
ru ngàn thế giới.
Tôi cảm thấy tay ngài trong bóng đêm
ru chàng đong đưa.

(Echevarría 2012:61)

Nói chung, thơ của bà mang một chiều sâu của cảm xúc và sự nhạy cảm đối với sự kiện chung quanh. Bà trải qua hai cuộc chiến lớn của thế giới, nhìn thấy và cảm nhận biết bao điều nhiễu nhương, mất còn, tang thương, dâu bể. Ghi nhận những sự việc ấy vào thơ với ảnh hưởng của Tượng Trưng, khiến cho thơ của bà có chiều dày trí thức và văn hóa.

Những người không biết nhảy

Đứa bé tật nguyền hỏi:
”Làm sao tôi nhảy múa?”
Chúng ta trả lời:
”Hãy nhảy múa bằng con tim.”
Rồi người tàn phế hỏi:
Làm sao tôi có thể hát?”
Chúng ta trả lời:
“Hãy hát bằng con tim."
Rồi cây hoa Kế Sữa tàn héo hỏi:
Còn tôi, làm sao nhảy?”
Chúng ta trả lời:
Hãy để con tim bay theo gió.”
Rồi từ trên cao Thượng Đế hỏi:
Làm sao ta xuống được khỏi trời?”
Chúng ta trả lời:
Xuống nhảy với chúng tôi qua ánh sáng.”
Tất cả thung lũng đều nhảy múa
dưới ánh nắng mặt trời,
và con tim Ngài gia nhập chúng tôi
không trở về cát bụi.(3)

 

Người mẹ buồn phiền

Ngủ đi, ngủ đi, con yêu,
đừng lo âu, đừng sợ hãi,
linh hồn mẹ sẽ không ngủ đâu.
và mẹ sẽ không dừng nghỉ.
Ngủ đi, ngủ đi, vào ban đêm
cho hơi thở con nhẹ nhàng hơn
cánh lá cỏ
nhẹ hơn lông cừu mượt mà.
Xương thịt mẹ ngủ trong con,
mẹ lo lắng, mẹ run rẩy.
Trong con, mắt mẹ khép dần
và nhịp tim rơi vào giấc ngủ.(4)

 

Phong phú

Tôi có hạnh phúc thật
rồi đánh mất:
như có một hoa hồng
rồi bị gai nhọn đâm.
Những gì bị đánh cắp
vẫn luôn luôn của tôi:
Tôi có hạnh phúc thật
rồi đánh mất
Tôi giàu có màu tím
với lòng u sầu.
Ôi, làm thế nào người yêu là hoa hồng,
làm thế nào yêu được gai nhọn!
Như viền đôi trái cây song sinh
Tôi có hạnh phúc thật
rồi đánh mất.(5)

Thế kỷ 20 bắt đầu với tư tưởng áp đảo của Nietzsche, hiệu quả của Freud và thuyết Tương Đối của Einstein. Những tri thức quan trọng này trở thành động cơ làm thay đổi quan niệm trong đời sống, mang theo sự thay đổi nội tại của thi ca. Những phong trào, trường phái, chủ thuyết văn học, nghệ thuật mới lạ thi đua xuất hiện, nhất là ở khu vực Âu Châu.

Văn học tại Châu Mỹ Latin cũng đã sẵn sàng để tiếp nhận sự thay đổi. Những tài năng trẻ trong vùng đất rộng lớn này phát triển theo những khuynh hướng văn học mới mà giữ được gốc rễ. Như một thân cây trồng ở bên này nhưng cành nhánh vươn dài qua Âu Châu, hấp thụ nắng mưa mà sinh hoa trái. Với những nhà thơ trẻ, tài hoa, hiếu học và sáng tạo như Pablo Neruda, Vincente Huidobro, Federico Garcia Lorca, Vincente Aleixandre, Jorge Guillén, Rafael Alberti, Pedro Salinas, Dámaso Alonso, José Lezama Lima và Octavio Paz… họ đã tạo dựng một thời kỳ Hoàng Kim cho thi ca Châu Mỹ Latin và cả Thế giới. Nếu thời kỳ Hoàng Kim của thơ Đường, Trung Hoa đã ảnh hưởng cả vùng Á Châu, về sau tràn qua Tây Phương, như thế nào, ảnh hưởng của thơ trong thời Hoàng Kim Châu Mỹ Latin còn rộng lớn và giá trị hơn nữa.

 

Ghi:

(1) Al Claro De Luna

La luna es pálida y triste, la luna es exangüe y yerta.
La media luna figúraseme un suave perfil de muerta…
Yo que prefiero a la insigne palidez encarecida
De todas las perlas árabes, la rosa recién abierta,
En un rincón del terruño con el color de la vida,
Adoro esa luna pálida, adoro esa faz de muerta!
Y en el altar de las noches, como una flor encendida
Y ebria de extraños perfumes, mi alma la inciensa rendida.
Yo sé de labios marchitos en la blasfemia y el vino,
Que besan tras de la orgia sus huellas en el camino;
Locos que mueren besando su imagen en lagos yertos…
Porque ella es luz de inocencia, porque a esa luz misteriosa
Alumbran las cosas blancas, se ponen blancas las cosas,
Y hasta las almas más negras toman clarores inciertos!

(2) Te Doy Mi Alma Desnuda

Te doy mi alma desnuda,
como estatua a la cual ningún cendal escuda.
Desnuda con el puro impudor
de un fruto, de una estrella o una flor;
de todas esas cosas que tienen la infinita
serenidad de Eva antes de ser maldita.
De todas esas cosas,
frutos, astros y rosas,
que no sienten vergüenza del sexo sin celajes
y a quienes nadie osara fabricarles ropajes.
Sin velos, como el cuerpo de una diosa serena
¡que tuviera una intensa blancura de azucena!
Desnuda, y toda abierta de par en par
¡por el ansia del amar!

(3) Không có bản tiếng Spanish. Bản tiếng Anh:
http://www.poemhunter.com/poem/those-who-do-not-dance/

(4) La madre triste

Duerme, duerme, dueño mío,
sin zozobra, sin temor,
aunque no se duerma mi alma,
aunque no descanse yo.
Duerme, duerme y en la noche
seas tú menos rumor
que la hoja de la hierba,
que la seda del vellón.
Duerma en ti la carne mía,
mi zozobra, mi temblor.
En ti ciérrense mis ojos:
¡duerma en ti mi corazón!

(5) Riqueza

Tengo la dicha fiel
y la dicha perdida:
la una como rosa,
la otra como espina.
De lo que me robaron
no fui desposeída;
tengo la dicha fiel
y la dicha perdida,
y estoy rica de púrpura
y de melancolía.
¡Ay, qué amante es la rosa
y qué amada la espina!
Como el doble contorno
de dos frutas mellizas
tengo la dicha fiel
y la dicha perdida.

 

 

Tranh minh hoạ: hoạ sĩ Anna Bella Geiger (1933-)- Brazil

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch