Trang chính » Biên Khảo, Phê Bình, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Mario Vargas Llosa: ngọn lửa cháy sáng của tiểu luận và những giấc mơ

 

MVL cover

 

Mario Vargas Llosa được trao giải Nobel Văn Học năm 2010. Peter Englund, Thư ký thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển, khi tuyên bố giải, cho biết Mario Vargas Llosa được tôn vinh vì các trang viết của nhà văn đã “vẽ nên tấm bản đồ của các cấu trúc quyền lực và thể hiện những hình ảnh sắc nét về sự kháng cự, sự nổi loạn và sự thất bại của những con người cá nhân.”

Là một nhà văn Mỹ Latinh gốc Peru, Vargas Llosa là một trong mấy trụ cột của Boom Latino Americano, một phong trào văn học nổi bật trong thập niên 1960 – 70, đã khiến văn chương Mỹ Latinh tạo được ảnh hưởng rộng rãi khắp Âu châu và toàn thế giới. Cùng với Vargas Llosa là Carlos Fuentes, Julio Cortázar, Gabriel García Marquez, José Ortiz và José Donoso. Ngoài Vargas Llosa, như đã nói, thuộc Peru, những người kia thuộc Mexico, Argentina, Columbia và Chile. Dù đến từ nhiều đất nước khác nhau, chữ nghĩa của họ, cái tố chất Mỹ Latinh bao trùm phong cách và tư tưởng của họ đã tạo thành một luồng gió lạ lẫm và đặc thù thổi khắp thế giới.

Đa số họ là những nhà văn trẻ, trong giai đoạn thập niên 60 -70 như đã nói, chịu ảnh hưởng của phong trào Vanguardia, mang tinh thần tiền vệ, tiền phong của Mỹ Latinh, cũng như chịu ảnh hưởng của các trào lưu, trường phái văn học Âu Mỹ. Những con người trẻ đầy thiết tha và hăng hái này đi tìm một dải đất mới cho mình, không chịu tiếp tục bước theo con đường cũ của truyền thống, vốn, trong cái nhìn của họ, là những lối mòn đã nát dấu chân người. Họ muốn thử nghiệm với những cái mới, cái khác. Văn chương của họ, dù sao, không chỉ đưa vào những kỹ thuật mới, nó còn phản ánh cái khuôn mặt xã hội, chính trị mang nét đặc thù của châu Mỹ Latinh, với một phong cách đầy kỳ ảo và cuốn hút của những vùng đất mà nó cưu mang.

Vargas Llosa nhận giải Nobel Văn Học năm 2010, sau Gabriel García Marquez (Nobel 1982) những 28 năm. Thế nhưng, ngay từ thập niên ’70 của thế kỷ trước, ông đã là chủ nhân của bảy tác phẩm hư cấu bề thế và hai tác phẩm nghiên cứu phê bình xuất sắc, tạo được tiếng vang lớn, là La Orgía Perpetua: Flaubert y “Madame Bovarry” (1975), nghiên cứu về Flaubert và tác phẩm “Madame Bovary”, và Gabriel García Marquez, Historia de un Deicidio (1971), một nghiên cứu phê bình sâu sắc về Marquez, kẻ “sát thần”, “giết Chúa”, mà có những tác giả cho là đã, phần lớn, giúp cho người bạn văn này của Vargas Llosa chiếm được giải Nobel Văn Học năm 1982. Cũng trong mạch nghiên cứu nhưng có phần nghiêng về tiểu thuyết hóa, hai tác phẩm kinh điển khác của ông sau này là một cuốn viết về Victor Hugo, La Tentación de lo Imposible (2008), cuốn kia viết về Flora Tristan và Paul Gauguin, họa sĩ hậu ấn tượng nổi tiếng thế giới, cháu ngoại của Flora, một nhà văn có khuynh hướng xã hội sống ở nửa đầu thế kỷ XIX, cũng là một nhà tranh đấu nữ quyền: El Paráiso en la Otra Esquina (2003).

Những tác phẩm hư cấu của Vargas Llosa được liên tiếp xuất bản và được sự đón nhận tốt đẹp từ phía người đọc. Những tác phẩm này cho thấy Vargas Llosa đã làm chủ được nhiều kỹ thuật mới lạ của tiểu thuyết, khiến các câu truyện kể của ông không nhàm chán vì phải đi vào những lối mòn cũ kỹ mà những người khác đã từng dẫm bước. Tiểu thuyết của ông có một cấu trúc rất phức tạp, với những góc nhìn, điểm nhìn và các tầng cấp thời gian thay đổi. Đối thoại của các nhân vật cũng thế, lúc ẩn lúc hiện, chuyển động, đan xuyên qua nhiều tầng thời gian khác biệt; đặc biệt là khái niệm “vasos comunicantes”, hai đối thoại độc lập về mặt không gian và thời gian được bện quyện làm một. Những diễn trình tư tưởng chảy tràn vào nhau trong những độc thoại nội tâm và dòng ý thức. Sự phân mảnh hay ánh xạ của những kinh nghiệm đời thường trong cuộc sống hằng ngày. Con người, trong cái nhìn của ông, chỉ là một thể loại khác của “hệ động vật”. Ông dùng từ này trong nhiều tác phẩm khác nhau. Và, như Thomas Mallon nhận xét, Vargas Llosa có một sự trìu mến thiết tha của một chủ vườn thú cho “hệ động vật” yêu mến của mình. Chỉ xét riêng về mặt tiểu thuyết, qua một phong cách mới mẻ, dựng nên được những hình mẫu nhân vật đặc sắc, và việc trình bày được những chủ đề đặc thù, phản ánh được những khuôn mặt xã hội và khung cảnh chính trị của Peru nói riêng, Mỹ Latinh nói chung, Vargas Llosa, từ lâu, đã xứng đáng được nhận giải Nobel cho những đóng góp của ông.

Có lẽ việc giải Nobel đã được trao cho Vargas Llosa một cách khá chậm trễ là do vấn đề chính trị. Ông đã “bay” từ tả phái sang hữu khuynh. Và đó lại là một cuộc bay với khá nhiều ồn ào trong suốt quá trình “bay ngược” của ông. Đặc biệt là việc ông từ bỏ J. Paul Sartre như một lý tưởng thời tuổi trẻ của mình (với những quan niệm của Sartre được ông yêu mến thời trẻ như “Viết là hành động”, “Ngôn từ là hành vi”, đã là ngọn lửa sáng soi chiếu cho sự tham dự vào đời sống văn chương của ông) khi thấy Sartre không những không kết án mà còn cổ vũ cho cuộc cách mạng văn hóa do Mao phát động tại Trung Quốc. Và ông hoàn toàn thất vọng khi nghe Sartre tuyên bố rằng trước một đứa trẻ chết đói, văn chương không có giá trị gì cả, và rằng các nhà văn ở thế giới thứ ba, là những nước đói nghèo, nên tạm thời buông bỏ ngòi bút để đi làm cách mạng, hay đi dạy học. Như thế, văn chương ở những đất nước nghèo đói là một điều xa xỉ? Thậm chí là một “tội ác”?

MVL1

Trong cuộc “bay ngược” ấy, Vargas Llosa cũng đã “chia tay” với Cuba, đất nước mà ông đã dành nhiều cảm tình trong thời “tuổi trẻ cách mạng” của mình khi chính ông, trong khi được mời đến Cuba tham dự vào ban giám khảo của các giải văn chương và vào các ủy ban văn hóa tại đây vào những năm ’60, đã chứng kiến những cung cách đối xử răn đe của nhà nước với những nhà văn “đồng tính”. Và ông phẫn nộ khi thấy Fidel Castro, vào năm 1968, tán thành việc Liên Xô đưa xe tăng vào Tiệp Khắc (1). Niềm tin vào cánh tả của ông hoàn toàn đổ vỡ. Sự đổ vỡ này lôi kéo theo nó sự xa cách với các nhà văn tả khuynh từng đồng hành với ông thời trước, và vẫn tiếp tục con đường đó, đặc biệt là với Gabriel García Márquez.

Giải Nobel, nói chung, thường không dành ưu ái cho những tác giả bên cánh hữu. Và, ban giám khảo Nobel cũng thường thích tìm kiếm những khuôn mặt lạ, những tiếng nói có phong cách nhưng chưa được để ý đủ. Vargas Llosa hình như là đã ở vào đúng cái điểm mù trong “cảnh quan” vừa nói. Ông là một nhà văn hữu khuynh vào thời điểm được xét giải Nobel, và ông đã được cả thế giới để ý, theo dõi từ mấy chục năm trước đó.

Vì cùng có nguồn gốc châu Mỹ Latinh, lại là bạn thân một thời của nhau, cùng có tài và cùng được giải Nobel, Vargas Llosa thường hay được mang ra so sánh với Márquez. Vì nhận giải sau Márquez những 28 năm, và cũng vì những tác phẩm của người bạn văn này của Vargas Llosa quá nổi tiếng, thường là sự so sánh khá bất lợi cho ông. Đúng là những tác phẩm của Marquez quá xuất sắc, nhưng nếu đánh giá kỹ, người ta có thể thấy là sức sáng tạo của Vargas Llosa mãnh liệt, phong phú hơn. Ông cũng viết được nhiều thể loại hơn. Biên khảo, phê bình văn học, kịch, tiểu thuyết, các bài báo, tiểu luận, v.v. Và, đặc biệt, nổi bật lên trong những cái viết phi-hư cấu của ông, người ta phải kể đến những tiểu luận, đặc biệt những tiểu luận văn học. Nếu chỉ xét riêng sự đóng góp của Vargas Llosa trong thể loại này, ông cũng xứng đáng được nhận giải Nobel. Về lĩnh vực này, trong các nhà văn Mỹ Latinh, có lẽ chỉ có Octavio Paz, nhà thơ, nhà phê bình và nhà viết tiểu luận (giải Nobel 1990), mất năm 1998, là có thể so sánh với ông. Dù sao, Paz lại không hề viết tiểu thuyết.

Tiểu luận của Vargas Llosa có những nét tinh tế sâu sắc, cho thấy sự uyên bác, đọc nhiều hiểu rộng của ông. Chúng cũng cho thấy ông là một người quan tâm đến nhiều khía cạnh của cuộc sống con người, cuộc sống xã hội; dù sao, những vấn đề văn học vẫn là những khía cạnh được ông quan tâm nhiều và trình bầy sâu sắc nhất. Những bài và những tập tiểu luận đã được phổ biến/xuất bản của ông như Why Literture? (Văn Chương, Tại Sao?), In Praise of Reading and Fiction (Ca Ngợi Sự Đọc và Văn Chương Hư Cấu), Making Waves (Khơi Sóng), Touchstones (Những Hòn Đá Thử Vàng), A Writer’s Reality (Hiện Thực của Một Nhà Văn), v.v., đã cho thấy rõ tầm vóc tư tưởng và cung cách diễn đạt của ông. Một nhà văn, một giáo sư đại học, một người đọc uyên bác, và một người thiết tha với văn học/văn chương cùng những gì gắn bó với nó. Có nghĩa là với cả cuộc đời. Như chính Vargas Llosa đã viết: “Văn chương là một sự cần thiết tuyệt đối để văn minh tiếp tục tồn tại, đổi mới và bảo quản trong ta những gì tốt đẹp tinh túy nhất mang tính người, để chúng ta không bị triệt thoái vào cái man dã của sự cách ly và đời sống không bị giảm thiểu vào chủ nghĩa thực dụng…” (In Praise of Reading and Fiction)

Tập tiểu luận A Writer’s Reality được xem là một tác phẩm mang tính tự truyện một cách vừa trí thức vừa nghệ thuật. Những tiểu luận trong tập sách này tiết lộ một số “bí mật” trong những thực hành đầy tính sáng tạo của Vargas Llosa để tạo nên những tác phẩm của ông. Không sợ hãi là những “tiết lộ” ấy có thể đem đến sự “giải thiêng” và làm mất bớt hào quang những tác phẩm mình, ông cho thấy bằng cách nào những chuyện xảy ra trong cuộc sống của ông đã hình thành phần chất liệu thô cho những tác phẩm mang nhãn hiệu Vargas Llosa, tạo nên một phần của sự cuốn hút người đọc, không chỉ riêng tại các nước thuộc Mỹ Latinh mà toàn thế giới, đối với văn chương châu Mỹ Latinh. Người ta không cần đọc những tác phẩm mà ông đã viết để có thể hiểu được những lập luận và sự trình bày của Vargas Llosa trong hành trình sáng tạo của ông; nhưng việc đọc những trang viết thông minh, đầy chất xám và mang nhiều tính kích thích này khiến người ta rất khó cưỡng lại việc tìm đọc các tác phẩm của nhà văn.

Cũng thế, trong hai quyển Making WavesTouchstones, người ta cũng có thể tìm được những tiểu luận và những đề tài mang tính “khiêu khích” đầy nét trí tuệ. Rất khó để tìm được một tác giả như Vargas Llosa, một người, qua những tiểu luận của mình, trình bày được rất nhiều mặt của cuộc sống với những suy tư, lý giải đậm chất bác học mà vẫn hết sức sống động. Ta hãy thử đọc một vài những nhận định sâu sắc ấy:

—Về sự “vỡ mộng” khi đọc lại Sartre: “… những sáng tác của ông ta sẽ khó mà đứng vững, và mặc dù ông có một trí thông minh thiên bẩm và, xét chung, là một trí thức chân chính, những ý tưởng và vị trí của nhà văn này thường là sai hơn là đúng. Về ông, chúng ta có thể nói điều mà Josep Pla đã nói về Marcuse: ông ta đã đóng góp với nhiều tài năng hơn bất cứ người nào khác cho sự rối loạn, rối rắm, rối bời của thời đại chúng ta.” (Making Waves, trang 131)

—Về ảnh hưởng của Faulkner đối với văn chương hư cấu Nam Mỹ: “Ông có lẽ là nhà văn đương đại duy nhất mà tác phẩm có thể được so sánh, về lượng cũng như về phẩm, với những tác phẩm kinh điển…”, “Ông ta viết bằng tiếng Anh nhưng ông là một người của chúng ta.” (Making Waves, trang 131)

—Về Nabokov: “… rất khó tưởng tượng trong những nhà văn của thế kỷ này một người lại ít quan tâm đến các vấn đề phổ cập và mang tính thời đại đến thế—ngay cả không thèm quan tâm đến chính hiện thực, một từ mà, ông viết, chẳng có ý nghĩa gì nếu nó không được đặt ở giữa hai ngoặc kép…” (Touchstones, trang 106)

—Về sự thiếu vắng kỳ lạ những nhà trí thức quần chúng ở nước Mỹ: “Ở Hoa Kỳ có những nhà văn hay và những nhà trí thức quan trọng, nhưng hai lĩnh vực này rất hiếm khi gặp gỡ nơi một con người.” (Making Waves, trang 306)

“Hoa Kỳ hiện tại có thể là không có đối thủ trên các mặt chính trị và quân sự; nhưng, xét về mặt văn hóa, nó là một gã khổng lồ có đôi chân bằng đất sét.” (Making Waves, trang 308)

—Về Che và Castro của Cuba: “Cách mạng Cuba mà Che đã góp phần xây dựng sau một chiến dịch hào hùng trong đó ông là nhân vật chính vĩ đại thứ hai giờ chỉ còn là một cảnh quan đáng thương, một vùng đất tháp ghép thoái hóa và đầy áp chế, hoàn toàn bị đóng kín trước mọi dạng thể của sự thay đổi…” (Making Waves, trang 295)

—Về đấu bò: “… Không có một lập luận hợp lý nào có thể biện hộ cho sự độc ác giấu đằng sau khung cảnh đẹp đẽ, sự vô nhân đạo nằm bên dưới vẻ duyên dáng, lịch thiệp, can đảm và tính kịch không thể nào diễn tả nổi mà một cuộc đấu bò hấp dẫn có thể đạt đến.” (Touchstones, trang 213)

—Về ngôi sao túc cầu Diego Maradona của Argentina: “Maradona làm phức tạp sự phân cách mà chúng ta nghĩ là có giá trị giữa lối túc cầu mang tính khoa học, điển hình của Âu châu với kiểu túc cầu nghệ thuật, mang tính Mỹ Latinh. Gã tiền vệ người Argentina cùng lúc là cả hai thứ ấy và chẳng thuộc về bên nào rõ rệt; gã là một sự hỗn hợp kỳ lạ, trong đó sự thông minh và trực giác, sự tính toán và tính sáng tạo, luôn luôn có mặt. Giống như chuyện đã xảy ra trong văn chương, Argentina sản xuất một phong cách túc cầu theo lối diễn tả mang tính Âu châu nhất về việc là Mỹ Latinh.” (Making Waves, trang 170)

—Về xu hướng đi tới việc đọc sách trên thiết bị điện tử: “Giản dị là tôi không thể quan niệm được là làm sao người ta có thể có được cũng một cảm xúc thân mật mà việc đọc sách [trên trang giấy], một hành động phi-thực dụng và phi-chức năng, mang lại khi đọc nó từ một màn hình máy tính… Tôi tin tưởng, cho dù không thể chứng minh, là với sự biến mất của sách, văn chương sẽ phải chịu một đòn kinh khủng, có thể đưa đến chuyện tử vong.” (Touchstones, trang 142)

Trong tiểu luận “Literature and Exile” (“Văn Chương và Lưu Vong”), phổ biến năm 1968, lý giải về hoàn cảnh lưu vong mang tính văn học của một số nhà văn trên thế giới, trong đó có cả ông, và lập luận rằng “lưu vong”, tự nó, không hề mang một giá trị “âm” hay “dương” nào, lại càng không bao hàm một chọn lựa đạo đức của nhà văn, Vargas Llosa đưa ra nhiều ví dụ để trình bày cái nhìn của mình:

Trong văn học Mỹ Latinh, các ví dụ còn thậm chí nhiều hơn nữa. Ngay cả khi các giá trị văn học của những bài thơ [mang vóc dáng ca thi] của Bello có thể gây tranh cãi, tính chính xác trong những miêu tả về cây cối và động vật của ông là không thể bàn luận, và hệ thực vật và động vật mà ông đưa vào những bài thơ chỉ từ ký ức mình khi đang ở tại London đúng là những thảo mộc và muông thú ở châu Mỹ. Sarmiento đã viết những luận văn hay nhất của ông về đất nước mình, Facundo Memorias de provincia, trong khi sống ở rất xa Argentina. Không ai nghi ngờ sáng tác của Marti mang nét dân tộc sâu sắc, cho dù bốn phần năm của nó đã được viết trong cuộc sống lưu vong. Và phải chăng những mô tả về mặt phong tục hay dạng thức văn hóa mang màu sắc chủ nghĩa hiện thực địa phương/vùng miền trong những tiểu thuyết cuối cùng của Blest Gana, được viết nhiều thập kỷ sau khi ông đến Paris, không trung thành với thực tại của Chile bằng những cuốn sách ông viết khi ở Santiago?

Đấy chỉ đơn giản là một danh sách các ví dụ và số liệu thống kê trong trường hợp này để đưa ra một cái nhìn chứ không phải là để trình bày một luận cứ đâu vào đấy. Đó có phải là một dấu chỉ cho thấy lưu vong không làm giảm tính sáng tạo của nhà văn và sự vắng mặt thể đối với đất nước của hắn không bao hàm một sự mất mát, hoặc làm giảm giá cái nhìn về thực tại mà những cuốn sách của hắn tìm cách chuyển tải không? Bất kỳ sự khái quát nào về chủ đề này cũng có nguy cơ chết đuối trong sự phi lý. Bởi lẽ chắc chắn là chẳng khó khăn gì trong việc đưa ra nhiều ví dụ đối lập để cho thấy là, trong một số lớn các trường hợp, khi nhà văn rời bỏ đất nước của mình, họ đánh mất đi sự sáng tạo hoặc viết những cuốn sách làm méo mó cái thế giới mà họ cố gắng mô tả. Đối với những thống kê phản chứng này—chúng ta đã trong lĩnh vực của sự phi lý—người ta sẽ phải trả lời với một loại ví dụ khác trình hiện số lượng vô số các nhà văn, vốn chẳng bao giờ đặt chân lên một vùng đất xa lạ nào, đã viết những cuốn sách tầm thường hoặc không chính xác về quốc gia mình. Và nói thế nào đây về các nhà văn tài năng đã được chứng minh, vốn không hề sống lưu vong, đã viết các tác phẩm không phản ánh thực tại của đất nước họ? (2)

Là một nhà văn, thậm chí một nhà văn hóa, thiết tha với cái viết, để chia sẻ chính mình, để khỏi tự che lấp mình trong cõi cô đơn, để kết nối với những con người khác trên khắp mặt địa cầu, và với cái đọc, để cảm thông với những con người, với những dân tộc, với những nền văn hóa khác, và để đi tìm cái mẫu số chung mang tính người, Vargas Llosa viết nhiều về các vấn đề văn chương/văn học, về sự đọc, về việc sáng tạo những hiện thực trong văn chương hư cấu.

Về sự cần thiết của văn chương/văn học, của sự đọc, ông viết:

Một trong những hiệu quả có ích đầu tiên của nó diễn ra ở cấp độ ngôn ngữ. Một cộng đồng không có một nền văn học viết sẽ biểu lộ chính mình ít chính xác hơn, ít giàu có hơn trong các sắc độ tình cảm, và cũng ít rõ ràng hơn so với một cộng đồng có phương cách tương giao chính, là từ ngữ, được vun bồi và hoàn chỉnh qua các văn bản văn chương. Một nhân loại thiếu vắng sự đọc, không được văn chương chạm vào, thì sẽ giống như một cộng đồng của những người mù lòa câm điếc và vướng bệnh vong ngữ (3) , phải khốn khổ vì những khó khăn khủng khiếp trong tương giao vì sự sơ sài thô thiển của ngôn ngữ nó dùng. Điều này cũng đúng đối với từng cá nhân. Một kẻ không đọc, hoặc ít đọc, hoặc chỉ đọc những thứ rác rến, là một kẻ gặp trở ngại: hắn có thể nói lắm nhưng chẳng phát biểu được là mấy, bởi lẽ từ vựng của hắn bị khuyết lõm phương tiện giúp hắn tự biểu hiện.

Điều này không chỉ là một sự hạn chế về mặt ngôn từ. Nó còn cho thấy một hạn chế trong tri thức và trong óc tưởng tượng. Đấy là sự thiếu nghèo về tư tưởng, bởi lẽ lý do đơn giản là các ý tưởng, các khái niệm mà qua đó chúng ta nắm bắt được những bí ẩn của cuộc sống con người, không tồn tại bên ngoài ngôn ngữ.

Và Vargas Llosa đưa ra một sự đánh giá khiến chúng ta sợ hãi, vì nó chỉ ra đúng sự thật kinh khủng mà con người rơi vào khi không có văn học/văn chương:

Thấp kép, man dã, thiếu nhạy cảm và thô tháp trong lời nói, ngu muội và bám vào bản năng, trơ lỳ thiếu vắng đam mê và thô lỗ trong tình yêu, cái thế giới không có văn chương này, cơn ác mộng mà tôi đang phác ra này, chắc hẳn sẽ có những đặc điểm chính của nó là thái độ tuân phục và sự cúi rạp người thường thấy trước sức mạnh. Trong nghĩa đó, cái thế giới này hẳn nhiên cũng chỉ có thể là một thế giới thuần súc vật. Những bản năng gốc sẽ quyết định các cung cách sống đời hằng ngày của một cuộc sinh tồn mà đặc trưng là sự tranh sống, sự sợ hãi trước cái không biết, và sự thoả mãn các cần yếu về mặt thân xác. Sẽ chẳng có chỗ nào cho tâm hồn. Hơn nữa, trong thế giới này, cái đơn điệu tàn bạo của cuộc sống sẽ đi cùng với cái bóng hiểm độc của nỗi bi quan, cái cảm giác rằng đời người là cái nó phải là và sẽ luôn mãi là như vậy, và không một ai hay một điều gì có thể chuyển đổi được nó.

Trong bài diễn văn nhận giải Nobel Văn Chương 2010, “In Praise of Reading and Fiction” (“Ca Ngợi Việc Đọc và Văn Chương Hư Cấu”), một tài liệu văn học và cũng là một tiểu luận tuyệt vời, được in thành một tập sách mỏng 40 trang sau đó, và thường được dùng làm một món quà tặng ý nghĩa trong những dịp lễ ra trường của các sinh viên đại học, Vargas Llosa đã trình bày một cách sâu sắc về ý nghĩa và lợi ích của việc đọc, đối với mỗi người nói riêng, và đối với toàn thể nhân loại nói chung. Và việc đọc đó gắn liền với văn học/văn chương của con người. Văn chương/văn học, cũng như sự đọc, kết hợp con người và đưa nó lên một tầm cao xứng đáng trong sự đi lên của nhân loại.

Một nền văn học tốt đẹp tạo dựng những chiếc cầu nối giữa các dân tộc khác nhau, và qua việc làm chúng ta hân thưởng, đau khổ hoặc cảm thấy kinh ngạc, kết hợp chúng ta trong chiều sâu, tách khỏi những khác biệt về ngôn ngữ, niềm tin, thói quen, phong tục, và thành kiến vốn chia rẽ chúng ta. Khi con cá voi trắng chôn vùi thuyền trưởng Ahab trong lòng biển, trái tim người đọc cũng run rẩy, thắt bóp giống nhau ở Tokyo, Lima, hay Timbuctu. Khi Emma Bovary uống thạch tín, Anna Karenina gieo mình trước xe lửa, và Julien Sorel bước lên đoạn đầu đài, và khi, trong tác phẩm “El Sur” (4), vị bác sĩ lịch lãm Juan Dahlmann bước chân ra khỏi quán rượu trên vùng đồng cỏ để giáp mặt với lưỡi dao của gã vô lại, hay khi chúng ta nhận thức ra rằng tất cả dân cư ở Comala, trong cái làng của Pedro Páramo (5) đều chết cả, sự rùng mình là y hệt như nhau nơi người đọc, cho dù người ấy thờ kính đức Phật, Khổng Tử, chúa Kitô, Allah, hay là một người theo thuyết bất khả tri, dù hắn mặc áo khoác ngoài và thắt cà-vạt, áo jabala, áo kimono hoặc bombachas. Văn học tạo nên một tình huynh đệ bên trong cái đa phức của con người và làm che khuất đi những đường biên được dựng lên giữa đàn ông và đàn bà bởi sự vô minh, các ý thức hệ, các tôn giáo, các ngôn ngữ, và sự ngu xuẩn.

Và Vargas Llosa đi đến kết luận về vai trò của văn chương/văn học, của sự đọc, sự viết, sự chia sẻ mộng mơ, kiến thức và sự tưởng tượng, tất cả làm thành cái mạng lưới đan dệt quanh con người, bao phủ lấy thân phận nó, dắt tay và hướng dẫn cặp mắt và linh hồn nó, để con người biết rằng mình là một nhân loại không cô đơn và có ý thức. Văn chương/văn học và cái đọc là một điều thiết yếu làm nên thân phận và vóc dáng con người.

Từ hang động cho đến toà nhà chọc trời, từ cái chày gỗ đến những vũ khí huỷ diệt hàng loạt, từ cuộc sống rườm rà thô lặp của bộ lạc tới kỉ nguyên toàn cầu hóa, những hư cấu của văn chương đã làm trùng bội những kinh nghiệm của con người, ngăn ngừa chúng ta khỏi cơn quỵ ngã vào sự ù lì, vào sự chỉ biết có mình, vào sự đành chấp nhận cái không đáng. (…) [N]hờ văn chương, (…) chúng ta có thể trở thành những nhân vật chính trong những cuộc phiêu lưu lớn, những niềm đam mê lớn mà cuộc sống thực không bao giờ trao cho chúng ta. Những dối trá của văn chương trở thành những sự thật qua chúng ta, người đọc được chuyển hóa, bị/được lây nhiễm với những khát khao, và qua con đường của văn chương hư cấu, thường xuyên chất vấn một thực tại xoàng xĩnh, tầm thường. (…)[C]húng ta phải tiếp tục mơ mộng, đọc và viết, phương cách hiệu quả nhất mà chúng ta đã tìm ra để làm nhẹ đi cái thân phận tử vong của mình, để đánh bại sự mòn ruỗng của thời gian, và để chuyển hoá cái bất khả thành điều có thể.

Cám ơn Vargas Llosa đã nói hộ và nhắc nhở cho chúng ta tất cả những điều ấy. Chúng ta phải biết ơn tất cả các nền văn chương/văn học của nhân loại. Văn chương/văn học chính là mộng mơ, đồng thời cũng là niềm đam mê sống tới của con người. Sống tới, vươn tới những kỳ vọng xứng đáng. Và không chịu khuất phục.

Vargas Llosa, nói như Gerard Martin, là một “hiệp sĩ rong ruổi của sự tưởng tượng phong phú, phóng khoáng”.

Vargas Llosa, tôi muốn nói, không phải chỉ là một nhà tiểu thuyết lớn, một nhà văn đoạt giải Nobel. Với tôi, nhiều hơn, ông là một nhà tiểu luận lớn. Một người hạnh phúc và đầy năng lực trong việc chia sẻ những ý tưởng, những suy nghĩ, những giấc mơ của mình với những người khác. Một cách hết sức thiết tha và sinh động.

Hãy tiếp tục cùng đọc, nuôi lớn mãi và chia sẻ những giấc mơ của mỗi một chúng ta.

Bùi Vĩnh Phúc

Tustin Ranch, California

Mồng 1 tháng Sáu, 2016

___________________________________

Tài liệu tham khảo:

· A Writer’s Reality, Mario Vargas Llosa. New York: Houghton Mifflin Company, 1991.

· Making Waves, Mario Vargas Llosa. New York: Farrar, Straus and Giroux, 1996.

· Touchstones, Mario Vargas Llosa. New York: Farrar, Straus and Giroux, 2011.

· Why Literature?, Mario Vargas Llosa, the New Republic, 2001.

· In Praise of Reading and Fiction, diễn văn nhận giải Nobel của Vargas Llosa, 2010.

· Mario Vargas Llosa: an unclassifiable Nobel winner, William Boyd, Enotes, 2010.

· Mario Vargas Llosa’s True Genius, Allen Barra, The Daily Beast, 2011.

· Mario Vargas Llosa – An Intellectual Journey, Julio H. Cole, The Independent Review, 2011.

· Mario Vargas Llosa: Errant Knight of the Liberal Imagination (1987). Trong “On Modern Latin American Fiction”, do John King biên tập. New York: Farrar, Straus and Giroux, 1989.

· Restless Realism – Mario Vargas Llosa’s Imagined Lives, Thomas Mallon, The New Yorker, 2015.

Chú thích:

(1) Với cùng cung cách như thế, trước đó, vào ngày mồng 4 tháng Mười Một năm 1956, Liên Xô đã đưa quân đội và xe tăng vào Budapest và nhiều vùng đất của Hung-gia-lợi để trấn áp dã man cuộc nổi dậy của sinh viên và người dân đất nước này. Ở Việt Nam, trong tinh thần liên đới và chia sẻ, vào tháng Mười Hai cùng năm, Thanh Tâm Tuyền đã làm bài thơ “Hãy cho anh khóc bằng mắt em những cuộc tình duyên Budapest”: Hãy cho anh khóc bằng mắt em / những cuộc tình duyên Budapest / Anh một trái tim em một trái tim / Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác (…) Hãy cho anh chết bằng da em / trong giây xích chiến xa tội nghiệp / Anh sẽ sống bằng hơi thở em / hỡi những người kế tiếp…

(2) “Literature and Exile”, 1968, trong tập tiểu luận Making Waves. Xin xem toàn văn bản dịch tiểu luận “Văn Chương và Lưu Vong” của Bùi Vĩnh Phúc.

(3) Nguyên văn: “A humanity without reading, untouched by literature, would resemble a community of deaf-mutes and aphasics, …”. “Aphasics”, từ chỉ những người bị bệnh vong ngữ, là do từ “aphasia” ( với a- ("không”, “phi") + phásis (φάσις, "lời nói"), sự mất đi (hay thiếu vắng) một phần hay toàn bộ khả năng diễn đạt tư tưởng hoặc khả năng hiểu ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ viết, do việc bị chấn thương não hay hư hoại não, thường là, về mặt bệnh lý học, do bị “stroke” (“tai biến mạch máu não”), nhưng cũng có thể gây nên bởi bất cứ một tổn thương nào đến những phần của não liên hệ đến việc kiểm soát ngôn ngữ. Ví cộng đồng những người không đọc sách, không có văn chương/văn học chạm vào, như cộng đồng của những người bị chứng vong ngữ, Vargas Llosa, tôi nghĩ, muốn nhấn mạnh đến tính chất thui chột nguy hiểm, theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen, của khả năng làm việc của não cũng như sự nhanh nhậy của não, trong sự hiểu và diễn đạt, khi người ta không có sự “động não” thường xuyên qua việc đọc và hân thưởng văn chương.

(4) “Phương Nam”, tác phẩm của Jorge Luis Borges.

(5) “Pedro Páramo”, tiểu thuyết của Juan Rulfo (tên toàn vẹn là Juan Nepomuceno Carlos Pérez Rulfo Vizcaíno), một nhà văn Mexico. Gabriel García Márquez có nói rằng nhờ may mắn khám phá ra tác phẩm này của Rulfo vào năm 1961, ông đã thoát khỏi cơn khủng hoảng sáng tạo sau khi đã viết được bốn tác phẩm đầu tay. Tác phẩm này của Rulfo đã mở hướng đi cho tiểu thuyết nổi tiếng, Cien Años de Soledad” (“Trăm năm cô đơn”) của Márquez, như Márquez thú nhận. Ông còn nói là mình có thể kể lại toàn bộ tiểu thuyết này của Rulfo từ đầu đến cuối, hoặc theo chiều ngược lại. Borges thì cho rằng “Pedro Páram” là một trong những tác phẩm vĩ đại nhất, viết bằng bất cứ ngôn ngữ nào, từ trước đến nay. Tác phẩm này đã được dịch ra trên 30 thứ tiếng.

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    … “hắn có thể nói lắm nhưng chẳng phát biểu được là mấy, bởi lẽ từ vựng của hắn bị khuyết lõm phương tiện giúp hắn tự biểu hiện.” (Mario Vargas Llosa)

    Trong thực tế, nhiều người đều nhìn thấy, văn học VN hiện tại không thiếu sách vở để đọc, dư thừa văn nhân, báo chí tràn ngập, hội đoàn văn học kếch sù, trường học to và nhiều … vậy mà tiếng nói vẫn làm … sao đó. Nghèo. Theo tôi nghĩ, còn một yếu tố tối quan trọng mà ai cũng biết: ý chí tự do trong biểu đạt và trong sáng tác, về mặt ngôn ngữ. Từ vựng bị “khuyết lõm” có thể do thiếu đọc. Mà cũng có thể do thừa đọc, nhưng buộc (không cách nào hơn) phải nhập kho “chữ” đọc của người khác.

  • black raccoon viết:

    Tiểu luận

    小论 :1.细碎的言论。 2.简短议论。
    Tiểu luận: 1. Tuế toái đích ngôn luận. 2. Giản đoản nghị luận
    Tiểu luận là: 1, lời nói lý luận vụn vặt. 2, những nghị luận đơn giản và ngắn

    Dĩ nhiên đấy là định nghĩa của người Hoa về tiểu luận, không hẳn phải là của người Việt. Người VN hiện nay dùng từ ghép tiểu luận, có lẽ từ chữ essay chăng (?). Nhà văn Mario Vargas Llosa được xem là novelist và cả essayist. Vậy, nếu tiểu luận là essay thì theo tôi lại có vấn đề sau:

    Essay theo người Anh là: a short piece of writing that tells a person’s thoughts or opinions about a subject. Là một đoản văn, luận văn ngắn (từ vài trang đến mươi trang). Thực tế quyển A Writer’s Reality của Mario Vargas Llosa dày 166 trang gồm 8 essays. Dĩ nhiên những luận đề được nhà văn viết chẳng vụn vặt hay đơn giản chút nào theo lối “tiểu luận”.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch