Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Sang Việt ngữ, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

“VĂM” VÀ VĂN PHẠM CỦA CLARICE LISPECTOR


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 7.07.2016

clarice-lispector young portrait

Clarice Spector

 

LTS: Đây là bản dịch từ lời giới thiệu “Glamour and Grammar” của Benjamin Moser, cho tuyển tập The Complete Stories (2015) của Clarice Lispector, do nhà xuất bản New Directions ấn hành. Benjamin Moser là người viết tiểu sử của Clarice Lispector và cũng là chủ biên – cùng với dịch giả Katrina Dodson – đảm nhiệm ấn bản đồ sộ của New Directions bao gồm tất cả các tác phẩm của Clarice Spector.  Theo học giả Moser, nét quyến rũ của Clarice Spector, ngoài sắc đẹp sẵn có, còn dựa trên “ma thuật” trong văn phong của bà. Huyền thoại về Clarice vẫn còn tồn tại ngay cả bây giờ, gần bốn mươi năm sau khi bà qua đời.

 

Trong ngày lễ Phục Sinh, tín đồ Công Giáo thường được hỏi, “Các con có chối bỏ những quyến rũ của tà ma và sự chiếm ngự của tội lỗi hay không?” Câu hỏi nầy chất chứa một sự kết hợp, ngày nay rất hiếm hoi, giữa sự quyến rũ và ma thuật: sự quyến rũ là một thứ dễ làm bối rối, có thể biến chuyển hình dạng, và phủ lên sự vật một vầng hào quang huyền bí; nó là, như Ngài Walter Scott nói, “một mãnh lực phù phép bao trùm thị giác của con người, và làm cho ngoại diện của một vật thể hoàn toàn khác hẳn với thực tế.”

Clarice Lispector xinh đẹp như một huyền thoại, cao thon và tóc vàng, với cặp mắt kiếng đầy biểu tượng và những nữ trang nổi bật của một mệnh phụ ở Rio de Janeiro vào giữa thế kỷ, đúng như tiêu chuẩn những gì chúng ta cho là quyến rũ ngày nay. Bà đã từng là ký giả thời trang nhiều năm nên rất hiểu biết cần phải ăn diện như thế nào. Tuy nhiên Clarice Lispector cũng quyến rũ theo ý nghĩa xưa cũ hơn của từ nầy: như một nữ phù thủy đầy ma thuật, có sức mê hoặc thật sự, bóng ma bồn chồn của bà ám ảnh mọi lãnh vực của nghệ thuật Ba Tây.

Ma thuật của bà vẫn phát triển không ngừng sau khi bà qua đời. Thời đó, năm 1977, nếu ai nói bà là một nhà văn hiện đại nổi bật thì họ có thể được cho là phóng đại thái quá. Ngày nay, khi chuyện đó không còn nữa thì câu hỏi về tầm mức quan trọng của bà trong nghệ thuật, nói chung, không còn đáng kể nữa. Điều người ta nói đến bây giờ là cái tình yêu thu hút như từ lực mà bà đã đem đến cho những ai yêu thích bà. Đối với họ, đọc văn chương của Clarice Lispector là một trong những trải nghiệm đầy xúc cảm nhất trong đời. Tuy nhiên cái quyến rũ của bà là một thứ nguy hiểm. “Phải cẩn thận với Clarice,” một người bạn nói với một độc giả, gọi bà bằng chỉ một tên mà thôi cũng như mọi người khác. “Đó không phải là văn chương. Đó là ma thuật của phù thủy.”

Mối kết nối giữa văn chương và ma thuật từ lâu đã là một phần quan trọng trong thần thoại về Clarice. Thần thoại nầy, với sự hỗ trợ lớn của internet, đã chuyển biến một cách thần kỳ những lời đồn đãi ra thành sự thật, đã gầy dựng lên những phân nhánh mang phong cách ba-rốc đầy kịch tính và hoa mỹ đến độ ngày nay nó có thể được xem là một tiểu chi nhánh của văn chương Ba Tây. Trên mạng, Clarice sau khi chết đã trở thành một nhân vật mơ ảo, giống như chân dung của các nữ tài tử, được liên tục tái tạo không ngừng và thay thế chỗ cho nhân vật nguyên thủy.

Nếu kỹ thuật internet đã biến đổi hình thái của thần thoại, thì chính thần thoại đó vẫn không thay đổi gì cả. Clarice Lispector trở thành nổi tiếng vào cuối năm 1943, khi bà xuất bản tác phẩm Near to the Wild Heart (Cận Kề Trái Tim Hoang Dã). Bà lúc đó là một sinh viên vừa tròn hai mươi ba tuổi, xuất thân từ giới di dân nghèo hèn. Quyển truyện đầu tiên của bà mang đến một chấn động đến nỗi, một ký giả viết, “chúng ta không nhớ ra được một tác phẩm đầu tay nào đầy cảm xúc hơn, và nó đã đưa một tên tuổi vô danh chỉ mới một thời gian ngắn ngủi trước đó lên đẳng cấp xuất chúng.” Tuy nhiên chỉ vài tuần lễ sau khi nổi tiếng, bà đã rời khỏi Rio với chồng bà, một nhân viên lãnh sự quán. Và họ sinh sống ở hải ngoại gần hai thập niên sau đó.

Mặc dù bà vẫn về thăm nhà thường xuyên, bà đã không trở về hẳn cho đến năm 1959. Trong khoảng thời gian đó, những huyền thoại sinh sôi nẩy nở. Cái tên ngoại quốc kỳ lạ của bà trở thành một đề tài để người ta bàn luận – một nhà phê bình cho rằng đó chỉ là một bút hiệu – và nhiều người khác nghi ngờ rằng có khi bà thật ra là một người đàn ông. Chung quy, những huyền thoại trên phản ảnh một nỗi bất ổn, một cảm giác cho rằng bà là một cái gì đó khác hơn cái mà người ta nhìn thấy.

Trong 85 câu chuyện bà viết, Clarice Lispector biểu hiện, trước mọi thứ khác, chính mình-nhà văn. Từ câu chuyện đầu tiên, ấn hành vào năm bà 19 tuổi, cho đến những đoạn văn ngắn ngủi sơ sài trong câu chuyện cuối cùng mà người ta tìm thấy sau khi bà qua đời, chúng ta có thể theo dõi một con đường dài cả đời nghệ thuật sáng tạo qua vô số phương thức và thử nghiệm khác nhau. Không phải bất cứ ai cũng hợp sở thích với văn chương của bà: ngay nhiều độc giả kiến thức Ba Tây cũng từng sững sờ trước những cơn nóng sốt gần như tà đạo của bà mang đến. Tuy nhiên đối với những ai hiểu bà bằng trực giác, niềm ái mộ con người của Clarice Lispector rất đột phát và khó giải thích. Nghệ thuật của bà làm cho chúng ta muốn tìm hiểu về người đàn bà trong bà; và bà là người đàn bà làm chúng ta muốn tìm hiểu về nghệ thuật trong bà. Qua những câu chuyện của bà chúng ta có thể lần mò theo cuộc đời nghệ thuật của bà, từ thời niên thiếu đầy hứa hẹn qua giai đoạn trưởng thành vững vàng cho đến lúc nổ sụp khi bà cận kề – và gọi mời – tử thần.

Tuy vậy, khi nhìn lại đồng loạt các câu chuyện trên như một tổng thể, còn một thứ bất ngờ hơn nữa, một thành quả mà ngay chính tác giả cũng không biết, vì nó chỉ xuất hiện khi nhìn ngược lại quá khứ mà thôi. Thành quả nầy nằm trong một người đàn bà thứ hai mà bà đã biểu hiện. Clarice Lispector là một nghệ nhân vĩ đại; bà cũng là một người vợ và mẹ trong giới trung lưu. Nếu chân dung của nghệ nhân đó phi thường hấp dẫn bao nhiêu, thì chân dung của người nội trợ tầm thường, với cuộc đời làm đề tài trong các câu chuyện của bà, cũng không khác mấy. Khi người nghệ sĩ trưởng thành, người nội trợ cũng trở thành già giặn đi. Khi Lispector còn là một thiếu nữ bướng bỉnh với đầy tham vọng trong đầu – về nghệ thuật, trí thức và tính dục – thì những thiếu nữ trong các câu truyện của bà cũng giống vậy. Khi đời sống, hôn nhân và sự làm mẹ của chính bà thay thế một tuổi thơ đầy sinh động thì các nhân vật của bà cũng phát triển lên theo. Khi hôn nhân của bà tan vỡ, khi con cái của bà rời khỏi gia đình, những ly biệt đó cũng xuất hiện trong các câu chuyện của bà. Khi tác giả, đã từng một thời xinh đẹp lộng lẫy, nhìn thấy hình hài mình hư hoại nhăn nheo và phì mập, các nhân vật của bà cũng nhận biết những hư hoại tương tự trên thân thể họ; và khi bà đối mặt với những tàn phá sau cùng của già nua, bệnh hoạn và chết chóc, những điều này cũng xuất hiện giống vậy trong các câu chuyện của bà.

Đây là tiểu sử trọn cuộc đời của một người đàn bà, được ghi chép lại qua cả khoảng thời gian dài trọn đời bà ấy. Vì thế, nó có thể là một bộ tiểu sử đầu tiên dưới dạng nầy, trong bất cứ ngôn ngữ nào, được ghi chép lại theo thể loại truyện viết. Lời tuyên bố trên cần được kiểm chứng. Một người vợ và mẹ; một người đàn bà Tây Phương trung lưu dị tính luyến ái. Một người đàn bà không gặp trở ngại: một người đàn bà đã không bắt đầu viết lách muộn màng trong đời, đã không vì hôn nhân hay sinh con đẻ cái mà ngừng sáng tác, đã không tự huỷ diệt đời mình bằng ma túy hay tự vẫn. Một người đàn bà, không khác nhiều tác giả nam giới, đã bắt đầu từ lúc niên thiếu và tiếp tục cho đến phút cuối. Một người đàn bà, nói về phương diện dân số học, rất giống như phần đông độc giả của bà.

Câu chuyện của những người đó đã chỉ được viết ra một phần nào thôi. Trước thời Clarice, sự kiện một người đàn bà sáng tác trọn suốt cuộc đời về chính cuộc đời đó là một điều rất hiếm hoi đến nỗi chưa hề nghe thấy. Câu tuyên bố nầy có vẻ thái quá, tuy nhiên cho đến nay tôi vẫn chưa hề tìm ra ai trước đó giống như vậy.

Kiểm chứng là chuyện quan trọng, tuy nhiên ngay nếu như điều trên có sai đi nữa thì chúng ta cũng nên ngạc nhiên rằng rất ít tác giả phái nữ có thể sáng tạo nhiều tác phẩm như vậy. Và những phụ nữ có thể làm được điều nầy chính là những người đã không phải hứng chịu những trở ngại làm cho phần đông phụ nữ không thể sáng tác được. Tillie Olsen đã tóm lược về những trở ngại dạng nầy trong tiểu luận nổi tiếng của bà năm 1962, “Những Câm Nín trong Văn Chương,” những trở ngại đã khiến cho phụ nữ, theo Olsen ước tính, chỉ chiếm “một phần mười hai” con số những tác giả trong thế kỷ hai mươi. Olsen viết, “Trong thế kỷ của chúng ta cũng như trong thế kỷ trước đó, hầu như tất cả những thành tựu nổi danh đều là những phụ nữ không có con cái.” Edith Wharton hoàn toàn không thuộc giới trung lưu; Colette đã không sống, và viết về, cuộc sống trung lưu tiêu biểu. Những tác giả khác – Gabriela Mistral, Gertrude Stein – đã là, giống như nhiều tác giả nam giới, những phụ nữ độc thân.

Clarice Lispector, như những câu chuyện của bà cho thấy, rất quen thuộc với những trở ngại trên. Các nhân vật của bà phải vật vã chống chọi lại hệ tư tưởng về vai trò đúng đắn của phụ nữ; đối diện với những ràng buộc thực tế với chồng con; lo âu về tiền bạc; đối phó với những nỗi tuyệt vọng riêng tư dẫn đến rượu chè, điên loạn và tự vẫn. Cũng như rất nhiều tác giả phụ nữ ở mọi nơi, bà đã từng bị các nhà xuất bản không ngó ngàng đến một cách đau đớn qua nhiều năm; bà đã từng bị những học giả và phê bình gia đồng nhất đặt vào một cấp hạng riêng (thấp hơn). (Tuy vậy bà đã kiên trì bền bỉ, và có lần đã nói rằng bà không thích bị so sánh với Virginia Woolf vì Woolf đã từng bỏ cuộc: “Nghĩa vụ đáng sợ nhất là phải đi cho đến cùng.”)

Tuy vậy, mối thương cảm của bà dành cho những phụ nữ câm lặng và bị giữ câm lặng hiện rõ trong những câu chuyện của bà. Những câu chuyện Clarice viết đầu tiên trong thời niên thiếu và khi còn là một thiếu nữ hai mươi thường về những nhân vật nữ trẻ bồn chồn bất an và có xung khích với một nam nhân, thí dụ như trong truyện “Jimmy và Tôi”:

Má, trước khi lấy chồng, theo lời kể của dì Emilia, là một trái pháo sẵn sàng bùng nổ, một bà nàng tóc đỏ bạo dạn, với những ý tưởng riêng của bà về tự do và bình đẳng cho phụ nữ. Nhưng rồi Ba xuất hiện, rất nghiêm trang và cao lớn, cũng với ý tưởng riêng của ông ấy, về … tự do và bình đẳng cho phụ nữ. Và việc trùng hợp ý tưởng nầy đã gây ra sự bất ổn.

Nếu những phụ nữ trong truyện thỉnh thoảng sa ngã bởi vài người đàn ông oai nghiêm, quyến rũ thì những phụ nữ đó cũng trở thành cứng rắn hơn khi tuổi đời của tác giả lớn lên. Tuy vậy đó là một loại cứng rắn khác. Cái nữ quyền ồn ào của Clarice trong những năm còn là sinh viên được thay thế bằng một cái gì đó ít lộ liễu hơn, những nhân vật của bà không còn hô hào về tư tưởng “tự do và bình đẳng cho phụ nữ” của họ nữa. Họ chỉ sống cuộc đời bình dị của họ một cách nghiêm túc nhất mà họ có thể. Trong văn chương cũng như trong đời sống, điều đó thường không xảy ra nhiều lắm.

Phần đông họ câm lặng. Người bà trong truyện “Chúc Mừng Sinh Nhật” quan sát những đứa con cháu tầm thường nhỏ nhen của bà với một sự nhờm tởm không lời. Người đàn bà thổ dân nhỏ bé xứ Congolese trong truyện “Người Đàn Bà Nhỏ Nhất Thế Giới” không có ngôn ngữ để diễn tả tình yêu của cô. Con gà mái trong truyện “Con Gà” không có từ ngữ để cho biết rằng nó sắp đẻ trứng, để khỏi bị giết chết. Trong truyện “Kẻ Tội Đồ bị Hỏa Thiêu và Những Thiên Thần Hài Hòa”, cô nàng ngoại tình không hề thố lộ một lời, và cuối cùng rồi nàng cũng bị kết tội là phù thủy và bị hỏa thiêu. Tại cuộc hành quyết của cô, chồng cô cảnh cáo đám đông rằng, “Hãy cẩn thận với những ả đàn bà mộng mơ.”

Clarice sau nầy kể lại bà chỉ mới chín tuổi khi Virginia Woolf đưa ra câu hỏi:
”Ai sẽ đo lường sự nhiệt huyết và hung bạo trong trái tim của một thi sĩ khi bị bắt giữ và vướng mắc trong thân thể một người đàn bà?” Câu hỏi đó, Woolf tin rằng, áp dụng cho phụ nữ trong thời đại bà cũng giống như cho phụ nữ trong thời đại của Shakespeare. Làm sao Clarice Lispector –giữa tất cả mọi người– thành công ở một thời đại mà biết bao nhiêu phụ nữ khác đều bị câm nín?

Bà sinh ra ngày 10 tháng Mười Hai, 1920 trong một gia đình Do Thái ở phía tây Ukraine. Đây là một thời kỳ của hỗn loạn, đói rách, và chiến tranh chủng tộc. Ông của bà bị giết chết; mẹ của bà bị cưỡng hiếp; cha của bà bị lưu đày, không một xu dính túi, sang phía bên kia trái đất. Những người sống sót trong gia đình tả tơi của bà trôi dạt đến miền đông bắc Ba Tây năm 1922. Ở đó, người cha tài hoa của bà, phải hạ mình đi bán giẻ rách dạo, kiếm vừa tạm đủ để nuôi gia đình; ở đó, lúc Clarice chưa tròn 9 tuổi, mẹ bà qua đời vì các thương tích từ thời chiến tranh.

Em gái Elisa của bà viết lại rằng người cha phóng khoáng của họ, người đã mang mộng ước học cao không thành vì phong trào chống ghét Do Thái, “nhất tâm muốn thế giới biết đến tài sức của các con gái ông.” Nhờ sự khuyến khích của ông, Clarice đã được học đến trình độ cao hẳn hơn những đứa bé gái trong các gia đình sung túc hơn nhiều. Chỉ sau vài năm đến được thủ đô, Clarice gia nhập một trong những thành trì của giới thượng lưu, Khoa Luật Pháp Quốc Gia của Đại Học Ba Tây. Trong trường luật nầy, con số học sinh Do Thái (zê-rô) còn hiếm hoi hơn cả so với con số nữ sinh viên (ba).

Học vấn về khoa luật của bà không đi đến đâu lắm. Lúc đó bà đã bắt đầu theo đuổi sự nghiệp ký giả của bà trong những phòng truyền thông ở thủ đô, nơi mà sắc đẹp và sự thông thái của bà đem đến nhiều ấn tượng sáng chói. Chủ của bà viết, bà là “một cô gái thông minh, một ký giả xuất sắc, và trái với hầu hết tất cả phụ nữ, thật sự biết viết lách.” Ngày 25 tháng Năm 1940, bà xuất bản tác phẩm đầu tiên được biết đến, “Chiến Thắng.” Ba tháng sau, cha bà qua đời ở tuổi năm mươi lăm. Trước ngày sinh nhật hai mươi tuổi, Clarice đã trở thành mồ côi. Năm 1943, bà lấy một người chồng đạo Công Giáo – một điều chưa từng xảy ra cho bất cứ thiếu nữ Do Thái nào ở Ba Tây. Cuối năm đó, không lâu sau khi bà xuất bản tác phẩm đầu tiên, hai vợ chồng rời khỏi Rio. Trong một khoảng khắc ngắn ngủi, bà đã rời bỏ không những gia đình của bà, cộng đồng sắc tộc của bà, và xứ sở của bà, mà còn cả sự nghiệp của bà, ký giả, trong lúc danh tiếng bà đang nở rộ.

Bà không chịu nổi đời sống lưu vong, và trong 15 năm xa xứ nỗi trầm cảm của bà càng lúc càng buốt nhói hơn. Tuy vậy, mặc dù có những trở ngại, nhưng có lẽ sự lưu vong – chuỗi dài lưu vong nầy – giải thích được lý do tại sao bà có thể viết. Gốc gác di dân của bà làm cho bà ít bị ảnh hưởng bởi những định kiến trong xã hội Ba Tây. Và nếu chỉ nói về tài chính thì cuộc hôn nhân của bà là một thăng tiến. Bà chưa bao giờ giàu có, tuy nhiên ngày nào bà còn có chồng thì ngày đó bà không phải làm lụng gì cả, ngoài việc sáng tác. Bà có hai đứa con, tuy nhiên bà cũng có người giúp việc thường trực. Có nghĩa là bà có thời giờ rảnh rỗi mỗi ngày, và một căn phòng riêng cho bà.

Những đề tài truyền thống về phụ nữ – như hôn nhân và đời làm mẹ, trẻ con và thời trang – dĩ nhiên đã được nhiều người trước đó viết đến. Nhưng đã có ai bao giờ diễn tả một bà lão 77 tuổi mơ mộng chuyện làm tình với một tài tử nhạc trẻ, hay một người đàn bà 81 tuổi thủ dâm? Hơn nửa thế kỷ sau khi những câu chuyện của Clarice được viết ra, khi đọc lại ở trong một kỷ niên hoàn toàn khác hẳn, vẫn hoàn toàn giữ nguyên sự mới mẻ của chúng.

Những đề tài mới cần có một ngôn ngữ mới. Chúng ta có thể thấy cái văn phạm có phần lạ lùng của Clarice phát xuất từ ảnh hưởng lớn bởi những huyền thoại Do Thái mà cha bà đã đem đến cho bà. Tuy nhiên một phần khác của nét lạ lùng đó là vì bà cần và muốn sáng tạo một đường hướng riêng. Nếu ai đọc qua hết những câu chuyện của bà từ đầu cho đến cuối thì sẽ thấy, chúng trải qua một cuộc tìm kiếm không ngừng nghỉ về ngôn ngữ, với một văn phạm bất ổn định, và điều đó làm cho người ta không thể đọc chúng một cách hối hả được.

Độc giả – chớ nói gì đến dịch giả – thường bị loạng choạng bởi những hình sắc hầu như vạn thể của các câu chuyện đó. Trong vài câu chuyện sau nầy, sự khó khăn đó càng rõ rệt hơn. Tuy nhiên, nhiều sự tái tạo thứ tự của Clarice rất tế nhị, và dễ bị bỏ lướt qua. Thí dụ, trong truyện “Tình Yêu” chúng ta thấy câu: “Họ trưởng thành lên, tắm gội, đòi hỏi theo ý họ, nghịch ngợm, những giây phút càng toàn hảo hơn.” Câu đó, cũng giống như nhiều câu khác của Clarice, khi đọc nhanh thoáng qua thì nó có nghĩa – và rồi, khi đọc lại, chậm chạp, thì nó bắt đầu tan biến mất đi. Trong truyện “Chúc Mừng Sinh Nhật”, giữa không khí ngượng ngập của một buổi ăn mừng, một đứa trẻ diễn tả một giây phút im lặng vụng về như sau: “Mẹ chúng nó, chấm phẩy!” ‘Their Mother, comma’.

Trong Tại Sao Thế Giới Nầy, quyển tiểu sử tôi viết về Clarice, tôi đã quan sát nguồn cội viết của bà ăn rễ trong thần thoại Do Thái và sự thúc đẩy hầu như huyền bí đã làm sống động những tác phẩm của bà. Cũng như những thầy tu Do Thái cổ Kabbalah tìm thấy ý nghĩa thiêng liêng bằng cách thay đổi thứ tự các chữ viết, lập đi lập lại những âm thanh vô nghĩa, phân tích những đoạn thơ, và tìm kiếm một hệ thống lý luận hơn sự hợp lý, bà cũng vậy. Trừ một vài ngoại lệ, tính chất huyền bí có thể làm văn vẻ của bà gần như trừu tượng nầy ít thấy rõ trong các truyện ngắn bằng trong những quyển truyện dài như “Sự Say Mê Theo Cái Nhìn của G.H.” hay “Trái Táo trong Bóng Tối.” Tuy nhiên nếu muốn nhìn thấy văn chương của Clarice một cách trọn vẹn thì phải hiểu được mối quan hệ mật thiết giữa niềm yêu thích của bà về ngôn ngữ và niềm yêu thích của bà về cái – vì không có từ ngữ nào hay hơn – mà bà gọi là Thượng Đế.

Trong những câu chuyện của bà, phép lạ trổi dậy từ bên dưới những cuộc sống bình thường. “Nàng đã giữ gìn đời sống được an lành,” bà viết trong một câu chuyện, “cẩn thận hết sức để không cho nó bùng nổ lên.” Khi sự bùng nổ bất khả kháng đó xảy ra, người ta có thể thấy những đổi hướng trong cách dùng văn phạm của bà cảnh báo điều đó khá lâu trước khi nó xuất hiện trong câu chuyện. Laura, một người nội trợ buồn chán không con cái trong truyện “Sự Bắt Chước một Đóa Hồng,” có một “sở thích rất chu đáo về sự ngăn nắp thứ tự” – cho đến khi, nàng phải tìm cách giải thích với người bạn tên Carlota về chính mình, thì văn phạm của nàng bắt đầu rối rắm lên.

Carlota chắc sẽ sửng sốt khi biết rằng họ cũng có một đời sống riêng tư và có những thứ họ không bao giờ kể ra, nhưng cô sẽ không kể ra cho ai biết, thật là uổng phí khi không thể kể ra được, Carlota chắc chắn đã nghĩ là cô chỉ là một người kỹ lưỡng và nhàm chán và hơi dễ gây bực mình, và nếu cô phải cẩn thận không trút đổ quá nhiều chi tiết lên người khác, có khi cô thư thái và trở thành hơi bực bội những lúc với Armando, nhưng việc đó cũng không hề gì vì anh ta sẽ giả bộ như đang lắng nghe trong khi thật sự không lắng nghe mọi thứ cô kể, và điều đó cũng không làm cô phiền lòng, cô rất hiểu là những điều cô nói có thể làm người ta mệt mỏi đôi ít, tuy nhiên có lẽ hay hơn nếu có thể giải thích tại sao cô đã không tìm ra chút thịt nào cả mặc dù Armando lắc đầu và không lắng nghe, cô và cô giúp việc trò chuyện rất nhiều, thật ra cô nói nhiều hơn cô giúp việc, và cô cũng cẩn thận không làm phiền cô giúp việc là người đôi khi kềm chế được tính nóng nảy và có thể hơi thô lỗ một chút, đó là lỗi của cô vì không phải bất cứ lúc nào cô cũng làm cho mình đáng được kính trọng.

Những dấu hiệu trên có thể rất ngắn gọn, như trong “Sự Say Mê Theo Cái Nhìn của G.H.”, khi một người nội trợ khác kể lại một chấn động tâm linh xảy đến với cô ngày hôm trước. Nhớ lại chính mình lúc đó, G.H. nói, “Sau cùng thì tôi trổi dậy khỏi chiếc bàn ăn sáng, người đàn bà đó.” Sự biến chuyển diễn tả trong quyển truyện – từ lúc đó đến bây giờ, từ hôm qua đến hôm nay, từ cô ấy đến tôi, từ ngôi thứ nhất đến ngôi thứ ba – được nối kết lại trong cách tuỳ tiện phá quy tắc về văn phạm, và sự gẫy đổ của văn phạm là biểu tượng hoàn hảo về sự gẫy đổ trong cuộc đời người phụ nữ đó. Cũng như rất nhiều những câu tuyệt vời khác của Clarice, câu đó sang trọng chính vì nó gạt bỏ qua một bên những quy tắc về phong cách sang trọng của những áng văn hay.

“Trong hội họa cũng như trong âm nhạc và văn chương,” bà viết, “tôi thấy những gì gọi là trừu tượng thường là những biểu tượng của một thực tế mỏng manh và khó khăn, và khó thấy bằng mắt phàm.” Cũng như những họa sĩ trừu tượng vẽ chân dung dựa trên trạng thái tâm thần và tình cảm hơn là diễn tả xác thực trực tiếp, và cũng như những nhà soạn nhạc buông thả các luật lệ hòa âm cổ điển, Clarice tháo bỏ những lề lối ràng buộc trong văn phạm. Bà thường phải nhắc nhở độc giả rằng cách nói “ngoại quốc” của bà không phải là hậu quả của việc bà sinh đẻ ở Âu Châu hay là vì bà không hiểu biết tiếng Bồ Đào Nha.

Đó cũng không phải là, đương nhiên, cách thức đàng hoàng mà phụ nữ dùng để diễn đạt họ. Dưới tư cách một tác giả chuyên nghiệp về thời trang, bà diễn tả thỏa thích dung dạng hình sắc của các nhân vật trong truyện của bà. Và rồi bà làm y phục họ luộm thuộm đi, làm mascara của họ nhòe nhoẹt, tóc họ rối bời, nhuộm lên những khuôn mặt bình thản một vẻ quyến rũ rợn người theo cách mà Ngài Walter Scott đã diễn tả. Với những câu chữ đảo lộn, bà biểu hiện một thế giới kỳ lạ – và biểu hiện luôn Clarice Lispector: một nữ Chekhov trên những bãi biển của Guanabara.

Mối kết nối giữa văn chương và ma thuật từ lâu vẫn là một phần quan trọng trong huyền thoại về Clarice. Huyền thoại đó vẫn còn tồn tại ngay cả bây giờ, gần bốn mươi năm sau khi bà qua đời.

bài đã đăng của Benjamin Moser


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch