Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Nghiên Cứu, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Tiểu Thuyết và Truyện Ngắn Thời Kỳ Bùng Nổ.

0 bình luận ♦ 6.07.2016

 

Trong thời gian đầu thế kỷ 20, văn học Châu Mỹ Latin đã phát triển nhanh về diện thi ca, sau đó là truyện ngắn, còn tiểu thuyết vẫn còn chậm rãi, hướng về Modernismo, không theo kịp đà tiến của các chủ thuyết mới. Thông thường, bất kỳ là nền văn học nào, thơ và truyện cũng có cơ hội phát triển nhanh hơn tiểu thuyết. Lý do cũng dễ hiểu:1- Viết một cuốn tiểu thuyết, tốn nhiều thời giờ, mất nhiều năm tháng. 2- Thông thường tiểu thuyết gia là người có cá tính và năng khiếu khác với thi sĩ. Sự nhạy cảm và khuynh hướng trực giác văn học, khiến cho thi sĩ dễ trở thành nghệ sĩ tiền phong hơn văn sĩ. Người viết truyện ngắn, một nửa là nhà thơ.

Không có nhà văn nào trong thời kỳ này có thể so sánh với vị trí và vai trò văn học của nhà thơ Pablo Neruda hoặc Gabriela Mistral. Phải đợi đến thập niên 1940, một nhóm nhà văn đồng loạt xuất hiện với những tác phẩm giá trị để đưa đến thời điểm 1960, được xem là khởi đầu của cuộc bùng nổ của tiểu thuyết và truyện ngắn. Sau đó, giải Nobel văn chương về tay nhà văn Miguel Ágel Asturias năm 1967 và nhà văn Gabriel Garcia Marquez năm 1982, mới lấy lại sự tương đương với hai giải Nobel thi ca của Mistral và Neruda. Cuộc bùng nổ này đã đưa văn chương CML vào hàng đầu thế giới và tiếp tục ảnh hưởng giới viết trẻ qua thế kỷ 21.

 

Giai đoạn chuẩn bị.

Truyện ngắn, trong đầu thế kỷ 20, vẫn còn đang theo đuổi khuynh hướng của Rubén Darío và Modernismo. Những nhà văn tiền phong còn đang loay hoay với hình thể và khuynh hướng. Sự xuất hiện của nhà văn Uruguaya, Horacio Quiroga (1878-1937) với ảnh hưởng của Edgar Allan Poe, đã đưa ra những truyện ngắn gây chú ý cho giới thưởng ngoạn. Cuộc đời riêng của ông đầy thảm kịch, các nhà phê bình cho rằng những vết thương sâu từ thuở nhỏ đã khiến cho văn phong và nội dung của truyện ông đầy dẫy những bí ẩn. Cuentos de amor de locura y de muerte (Những mẩu truyện về tình yêu, điên cuồng và sự chết), xuất bản năm 1917; Cuentos de la selva (Truyện đường rừng) xuất bản năm 1918, gây chấn động với một hương vị mới cho giới văn chương.

Đặc tính chính trị và bạo lực độc tài thường xuyên xảy ra trên những lãnh thổ này, khiến văn chương hiện thực dễ được chấp nhận và tự nhiên trở thành cơ bản của viết truyện. Mùi vị bí ẩn, âm u của Quiroga trở thành khác biệt và mở đường cho một số nhà văn đang lúng túng trong sáng tác.

Một đặc tính khác, Châu Mỹ gồm nhiều quốc gia và nhiều vùng đất mang nặng tính địa phương, truyện và tiểu thuyết thường được giới hạn theo vùng và quốc gia. Novelas de la tierra, tiểu thuyết theo địa lý, là tên gọi cho đặc tính này. Văn hóa và tình hình thời sự của địa phương là động lực sáng tác.

Phải kể đến đặc tính của chức năng tiểu luận văn học, bén nhạy, thông thái và hiệu quả của những nhà thơ nhà văn nổi tiếng đương thời, gây được phong trào khám phá và phát triển văn chương cá nhân và thế giới. Nhà tiểu luận Dominican, Pedro Henriquez Urena, nhà tiểu luận Peru, José Carlos Mariátegui, nhà văn Mễ Tây Cơ, Samuel Ramos…. và nhiều cây viết, đã đóng góp cho ý thức chung về tình trạng chậm tiến của văn học địa phương. Nhất là luận bản, El laberinto de la soledad, 1950, của nhà thơ Octavio Paz và luận bản La expresión americana, năm 1957 của nhà thơ José Lezama Lima, là những bài viết gây ảnh hưởng mạnh mẽ trong giới trí thức. Ý thức về sự chậm tiến đòi hỏi sự trung thực và vượt lên những mặc cảm. Chấp nhận được, ý thức này sẽ là lý do và động lực cho sự thay đổi vươn lên.

Tiểu thuyết theo địa lý đáng kể thuộc về ba nhà văn:

Nhà văn Argentina, Ricardo Guiraldes (1886-1972); với tiểu thuyết Don Segundo Sombra, 1926.

Nhà văn Colombia, José Eustasio Rivera (1888-1928) với tiểu thuyết La vorágine.

Nhà văn Venezuela, Rómulo Gallegos (1884-1969) với tiểu thuyết Dona Barbara năm 1929. Được sự chú ý của giới phê bình ngoại quốc khi tiểu thuyết vừa xuất bản.

Tiếp theo là những tiểu thuyết liên quan trực tiếp tới cuộc cách mạng ở Mễ Tây Cơ. Hầu hết những tiểu thuyết này vẫn đường xưa lối cũ thời thế kỷ 19. Cốt truyện kể theo dòng thời gian, một mạch từ đầu đến cuối. Hấp dẫn người đọc bằng tình tiết éo le hoặc thương tâm. Xã hội con người trong bạo lực và chiến tranh là căn cơ của câu truyện. Như: tiểu thuyết El águila y la serpiente, 1928, (Chim ưng và con rắn),La sombra del caudillo, 1929, (Chiếc bóng của Caudillo) của nhà văn Martín Luis Guzman (1887-1986); và Los de abajo, 1915, (Người bị đàn áp) của nhà văn Mariano Azuela. Cá nhân của Azuela đã gia nhập vào quân cách mạng của Pancho Villa, làm công việc bác sĩ chữa thương. Sau bị lưu đày và trở về quê hương Mễ Tây Cơ, được tiếp đón trọng thể. Nghệ thuật kể truyện của ông được xem như hàng đầu trong văn chương CML.

Sự kiện gặp gỡ giữa hai nhà văn xa lạ tại Paris đã để lại cho hậu thế những câu truyện bên lề về sự phát triển tăng tốc vào thời điểm bùng nổ. Đó là nhà văn Guatemala, Miguel Ángel Asturias (1899-1974) và nhà văn Cuba, Alejo Carpentier (1904-80). Về sau, Asturias đoạt giải Nobel văn chương năm 1967, nhà văn đầu tiên của CML, không kể hai nhà thơ Mstral và Neruda trước đó.

· Nhà văn Carpentier gốc dân Cuba, là người thành lập phong trào Afro-Cuba (Cuba Phi châu) mang văn học nghệ thuật Africa vào Châu Mỹ, đa phần là âm nhạc và thơ. Chống lại tổng thống Herardo Machado, bị trục xuất sang Paris năm 1928, tham gia trường phái Siêu Thực, tiểu thuyết của ông lúc này có khuynh hướng Lập Thể (Cubism) và Siêu Thực (Surrealism).

· Nhà văn Asturias may mắn hơn, có lẽ vì ông đã ẩn nhẫn 20 năm để xuất bản cuốn tiểu thuyết El senor president năm 1946. Được thế giới nhìn nhận qua tác phẩm Legendas de Guatemala, 1930 chuyên về những chuyện thần thoại bản xứ. Cũng được xem là những giới thiệu bản gốc thần kỳ, hoang đường của văn học Châu Mỹ Latin, một trong căn bản về sau của phong trào Hóa Ảo Hiện Thực (Magic Realism). Tiểu thuyết của ông mang dạng tiền phong và bóng dáng của Siêu Thực. Tác phẩm El senor president được xem là mẫu mực của văn chương cổ điển nhưng vào thời đó là nền móng tân thời cho những cây viết tiền đạo, đang lên, tạo dựng cuộc bùng nổ. Đó là nhà văn Argentina, Jorge Luis Borges (1899-1986); nhà văn Uruguay, Juan Carlos Onetti; nhà văn Paraguay, Augusto Rosa Bastos (1917-2005); nhà văn Mễ Tây Cơ, Juan Rulfo (1918-86)…Họ là những nhà văn thật sự bước vào chủ nghĩa Hiện Đại đang ngự trị Âu Châu và giới văn chương thế giới.

· Nhà văn Onetti nhận được giải thưởng Miguel de Cervantes, Spain, 1990. Ảnh hưởng văn chương của William Faulkner, nhà văn hàng đầu ở miền Nam Hoa Kỳ trong khi miền bắc, được xem như thuộc về nhà văn thế giới Hemingway. Tiểu thuyết của Onetti để lại: El astillero, 1961, (Xưởng đóng tàu); La vida breve, 1959, (Đời sống ngắn ngủi).

· Nhà văn Bastos với tiểu thuyết Yo el Supremo, 1974, (Tôi, người tối cao), cũng đoạt giải thưởng Miguel de Cervantes năm 1990. Ông lưu vong nhiều năm ở Buenos Aires, về sau ở Paris. Tiêu thuyết của ông được xếp vào hàng văn chương tiền đạo.

· Nhà văn Rulfo với hai tác phẩm mỏng, nhưng là hai kiệt tác: 1- Tuyển tập truyện ngắn El llamo en llamas, 1953, (Ruộng đồng nổi lửa); 2- Tiểu thuyết Pedro Páramo, 1955. Tác phẩm của ông khó dịch sang ngôn ngữ ngoại quốc vì văn phong đặc biệt và ngôn ngữ đặc thù bản xứ Mễ Tây Cơ.

· Trong lúc đó, nhà văn Carpentier vẫn tiếp tục xuất bản những tác phẩm mới. El reino de este mundo, 1949, (Vương quốc trần gian), liên quan tới cuộc cách mạng tại Haiti, sự mâu thuẫn giữa Âu Châu và Phi Châu, mang phong thái lịch sử và văn chương với những khám phá hiện thực và bí ẩn. Tác phẩm Guerra del tiempo, 1958, (Chiến tranh thời đại) có ảnh hưởng lớn đến phong trào văn chương nối tiếp.

Năm 1953, tiểu thuyết Los pasos perdidos (Bước chân đã mất) xuất bản trở thành tiểu thuyết được đọc nhiều nhất của ông. Một số nhà phê bình thế giới đã đề nghị giải thưởng Nobel văn chương cho ông trên tác phẩm này. Tiếp theo là El acoso, 1956, (Cuộc săn đuổi), xác định chức năng kể truyện với dữ kiện lịch sử và bút pháp âm nhạc của riêng ông. Ông trở thành thần tượng của giới sáng tác trẻ thời đó. Một trong những nhân vật vượt qua Carpentier để dẫn văn chương CML đi vào một ngả quanh khác, đó là nhà văn Jorge Luis Borges.

 

Giai đoạn Bùng Nổ.

Tác phẩm Ficciones xuất bản 1944 của Borges là tác phẩm bắt đầu cho một thời kỳ mới. Hầu hết các nhà phê bình thế giới đồng ý rằng, những thế hệ trẻ viết văn, không ít thì nhiều, mang nợ nần với văn chương huyền bí, đặc biệt của Borges.

· Borges khởi đầu là nhà thơ. Thơ của ông quí phái và trầm tư. Bản chất của ông là người trí thức, được giáo dục cẩn thận từ nhỏ bởi gia đình. Ông học giỏi tiếng Anh trước khi học tiếng mẹ đẻ Tây Ban Nha. Về sau, trở thành học giả, thông thạo tiếng Đức và Na Uy. Thành lập tạp chí Sur, một tạp chí văn chương ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử văn học Châu Mỹ Latin.

Vì thương tích tình cờ nhà thơ Borges trở thành nhà văn huyền ảo. Từ sự ảnh hưởng này, những nhà văn tiếp theo tạo ra phong trào văn chương, nói đúng hơn là tiểu thuyết và truyện ngắn huyền ảo, mang tên gọi là Hóa Ảo Hiện Thực (Magic Realism).

Ảnh hưởng của ông được những văn tài lớn và những nhà tư tưởng hàng đầu trên thế giới nhìn nhận, như John Barth, Julio Cortazar, Garcia Márquez, Italo Calvino, Umberto Eco, Maurice Blanchot, Michel Foucault, Gerard Genette, Jacques Derrida…….

Borges được thế giới nhận biết kể từ năm 1961, hai năm sau đó là tác phẩm Rayuela (Nhảy lò cò) của Julio Cortazar xuất hiện, như một xác định hiệu lực của chức năng huyền ảo trong việc diễn đạt những gì mà thế giới và văn chương hiện thực không thể chạm tới. Tác phẩm châm ngòi bùng nổ.

Cùng với Borges và Cortazar là nhà văn Colombia, Gabriel Garcia Marquez; nhà văn Mễ, Carlos Fuentes; nhà văn Peru, Mario Vargas Llosa, nhà văn Chí Lợi, José Donoso; nhà văn Cuba, José Lezama Lima, nhà văn Cuba, Guillermo Cabrera Infante……họ đã liên tục xuất bản những tiểu thuyết và truyện ngắn quan trọng và giá trị, tạo nên sự bùng nổ toàn diện văn chương Châu Mỹ Latin và những nền văn chương liên quan với ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Văn học thế giới chú trọng đến sự bùng nổ này. Ngôi vị văn chương Âu Châu với các chủ thuyết văn học ở cao điểm Siêu Thực và Hiện Sinh trước bị sự cạnh tranh của tiểu thuyết hiện thực mới của Hemingway và William Faulkner ở Hoa Kỳ, một lần nữa lại nhường bước cho sự vươn lên của văn chương Châu Mỹ Latin.

Trong tình hình lúc đó, cuộc cách mạng ở Cuba trở thành trung tâm chú ý của thế giới. Hầu hết nhóm nhà văn trẻ đều ủng hộ cuộc đấu tranh cách mạng, tạo ra  một phong trào trí thức toàn diện, qua đó văn chương CML có cơ hội tiếp giáp rộng rãi với thế giới.

Tờ báo Casa de las Américas là nơi tụ tập của các tài năng văn chương CML; và hàng loạt những sinh hoạt văn học khác, trao giải thưởng, diễn thuyết, xuất bản báo chí và tác phẩm văn chương….đã biến thủ đô Havana của Cuba trở thành trung tâm văn học thế giới như Paris, Barcelona, Buenos Aires trước đây … Trung tâm này cũng là nơi các chính trị gia trên thế giới quan tâm, do đó, những tác phẩm quan trọng xuất hiện đều được tiếp nhận một cách kỹ càng. Sau khi nắm quyền ở Cuba, Fidel Castro bắt giam một số các văn nghệ sĩ chống đối. Điều này tạo ra sự chia rẽ chính hướng giữa các văn nghệ sĩ CML. Một phe tiếp tục ủng hộ thể chế và một phe phê phán chống đối chế độ. Cuộc bùng nổ chính trị dù hết hồi sôi sục nhưng hiệu quả văn chương vẫn kéo dài và nền tiểu thuyết của CML được xây dựng vững vàng.

Tạp chí văn chương Mundo Nuevo có ảnh hưởng rộng lớn vì quy tụ hầu hết các văn tài trong và ngoài nước bất kể chính hướng và tư tưởng hoặc quan niệm mâu thuẫn nhau. Mặc dù bị những tin đồn như nhận trợ cấp của tình báo CIA của Hoa Kỳ, bị Castro cấm đoán, nhưng tạp chí này vẫn là tiêu biểu cho tinh thần hợp tác văn chương. Hai nhà thơ đối nghịch chính hướng như Pablo Neruda và Ernesto Cardenal cùng xuất hiện, thơ kề thơ. Cũng trên diễn đàn này, tiểu thuyết và truyện ngắn trong khuynh hướng mới, tiền đạo và đặc thù CML, phát triển, không nhà phê bình nào có thể tiên đoán được giới hạn của nó.

 

Ý nghĩa sự Bùng Nổ.

Có lẽ cho chính xác hơn, nên phân biệt giữa sự Bùng Nổ và sự đổi mới trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Châu Mỹ Latin từ thập niên 1960. Sự đổi mới trong văn chương là chuyện văn học. Cuộc Bùng Nổ có tính cách chính trị và xã hội, trong đó có tình hình văn chương. Nói một cách khác, sự bùng nổ được chú ý đến vì tình thế chính trị sau thế chiến thứ hai. Con người rất nhạy cảm đến những mầm móng có thể gây ra chiến tranh thế giới lần thứ ba. Vụ Vịnh Con Heo giữa Hoa Kỳ và Nga Sô suýt nữa gây ra chiến tranh nguyên tử; sự kiện chế độ Cuba, bị Cộng Sản hoá là điều lo lắng ở sân sau Hoa Kỳ. Lực lượng đồng minh sau hai trận đại chiến đã bệ rạc, chỉ còn trông cậy nơi Hoa Kỳ, làm cảnh sát bảo an thế giới. Một trật tự mới thành lập đang bị uy hiếp.

Đa số văn nghệ sĩ CML đều liên hệ đến chính trị, nếu không theo phe này, tức ở phe kia. Tác phẩm của họ đều có sự kích động hoặc ủng hộ chính kiến của mình và do đó được chú trọng. Điều này cũng có nghĩa là sự quan tâm đến văn học CML không hoàn toàn vì văn chương.

Thậm chí nhiều phê phán về sau còn cho rằng báo chí và chính quyền lẫn những quyền lực chính trị, kinh tế đã "quảng cáo" sự bùng nổ như một hiện tượng vì lợi ích riêng. Và đúng như vậy, sự bùng nổ là hiện tượng chung, có thời gian tính ngắn ngủi. Sự đổi mới tiểu thuyết và truyện là hiệu quả của khám phá và phát triển văn học. Mang tính cách lâu dài qua nhiều thế hệ và tinh túy sẽ trường tồn trong thư viện nhân loại. Sự hiện diện của tiểu thuyết và truyện theo những khuynh hướng mới, thuần túy văn chương, là lối thoát cho sáng tác của truyện đương thời đang bị bế tắc. Philip Swanson, trong Landmark in Modern Latin-American Fiction, nhận định: " …tiểu thuyết mới có thể được xem như một phản ứng chống lại và loại bỏ những giả định [giá trị] và hình thức của truyền thống chủ nghĩa Hiện Thực." (Trích Latin American Boom, Susmitha.)

Trong thực tế, tính theo thời gian, sự đổi mới của tiểu thuyết và truyện đã mầm móng từ 1920, kéo dài đến 1950 thì bắt đầu gia tốc. Thập niên 1960 là đỉnh cao của sinh hoạt văn học, với trung tâm văn chương Havana. Sự đổi mới già dặn và lão luyện tiếp tục sau khi Havana tàn lụi.

Ý nghĩa  văn học duy nhất để có thể giải thích sự bùng nổ, đó là sự đồng loạt ý thức, đồng loạt sáng tác, đồng loạt chuyển hướng của một số đông các nhà văn thuộc nhiều quốc gia và sắc tộc khác nhau trong vùng CML, cũng như những văn nghệ sĩ lưu vong khắp nơi. Trong The Boom in Spanish American Literature: A Personal History, 1972, tác giả Jose Donoso, nhận xét:" … hiện tượng đơm hoa của các nhà văn trong thập niên 1960 đã gây được sự chú ý lớn, bởi vì họ bắt đầu, hầu như một lượt, [những tác phẩm của họ] được dịch ra ngoại ngữ và đưa Châu Mỹ Latin, có thể gọi là thống nhất, trên bản đồ văn học quốc tế lần đầu tiên.." (TríchLatin American Boom, Susmitha.)

Nói như vậy, không có nghĩa phủ nhận tác lực của sự bùng nổ đối với văn chương. Có thể nhận xét một cách tổng quát hơn, sự bùng nổ trong thập niên 1960 đưa tiểu thuyết và truyện ngắn CML vào văn học thế giới với sự chuyển mình, thay đổi cao độ của những tác giả tài hoa và những tác phẩm giá trị. Nhưng chính bản thân sự đổi mới của tiểu thuyết và truyện đã cảm hóa và thay đổi văn học, văn chương thế giới kéo dài sang thế kỷ 21, mặc dù vào cuối thế kỷ 20 đã manh nha những phong trào sáng tác khác, được gọi chung là thời Hậu Bùng Nổ.

bài đã đăng của Ngu Yên


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch