Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Nghiên Cứu, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Thi Ca Châu Mỹ Latin: Tân Cổ Điển, Lãng Mạn, và Modernismo

0 bình luận ♦ 5.07.2016

 

 

Bên văn xuôi tạo ra sự bùng nổ và được văn học thế giới ghi nhận là thời điểm chuyển mình của văn học Châu Mỹ Latin (CML), trong khi thơ không theo chân bùng nổ mà tạo ra một thời hoàng kim của thi ca với những thi sĩ liên tiếp đoạt giải Nobel thi ca thế giới như Pablo Neruda, Octavio Paz… và những tài hoa vượt bậc như Federico Garcia Lorca, Rafael Alberti, Dámaso Alonso…

Trước hết, khi thoát ra được dòng thơ cổ điển, là dòng thơ Tân Cổ Điển pha trộn chủ nghĩa Lãng Mạn rồi tạo ra phong trào Modernismo. Một phong trào Hiện Đại mang cá tính đặc thù của địa phương, gọi là chủ nghĩa Hiện Đại Châu Mỹ Latin.

 

Chủ nghĩa Tân Cổ Điển và chủ nghĩa Lãng Mạn

Trong thế kỷ 19, xúc động bởi sự tranh đấu giành lại độc lập với đế quốc Tây Ban Nha; ý thức sự chia cắt, đa văn hóa, đa tư tưởng hệ, đa chính quyền địa phương; những bức xúc này thể hiện trong dòng thơ bắt đầu chuyển hướng.

Có thể nói, bắt đầu với nhà thơ Ecuador, José Joanquin Olmedo (1790-1847), trường ca La victoria de Junin: Canto a Boliviar, (Chiến thắng ở Junin: Ca khúc cho Boliviar), là loại thơ Tân Cổ Điển mang nội dung ca ngợi người anh hùng giải phóng dân tộc Simón Boliviar. Trận chiến tại Junin bắt đầu từ ngày 6 tháng 8 kéo dài đến ngày 9 tháng 12 năm 1824, chấm dứt sự cai quản của Tây Ban Nha trên hầu hết những vùng đất quan trọng trong CML. Đây là một thiên hùng sử ca độc đáo, khởi điểm cho quốc gia mới và thể hiện sự chuyển hướng dòng thơ cổ điển.

[…]

"Chiến thắng, hòa bình, người hỡi,
hòa bình muôn đời.
Phẫn nộ chiến tranh,
chôn sâu theo thế giới lật đổ
Chấm dứt tội tình và nước mắt trần gian

[…]

"Ngợi ca, nhưng không nghỉ ngơi"
Bỗng dưng nàng thét tiếng xé trời;
vang lại, vang lại, rồi vang lại
Họ la theo
"Ngợi ca, nhưng không nghỉ ngơi…"(1)

[…]

(Trích La victoria de Junin. Olmedo)

Nhà thơ Venezuela, Ándrés Bello (1781-1865) vừa là nhà nghiên cứu văn phạm, tư tưởng gia, luật sư, học giả, dịch giả, tiểu luận gia; ông tái soạn văn phạm cho ngôn ngữ Spanish; giúp phác thảo mã hiệu cho ngôn ngữ Chí Lợi; sáng lập viên đại học Chí Lợi; cố vấn cho Bolivar, sáng lập viên báo El repertorio americano. Sống tại Anh quốc từ 1810 đến 1829. Thâm nhập chủ thuyết Lãng mạn. Dịch thơ Byron. Nhưng đa số thơ của ông vẫn trong dạng Tân Cổ Điển pha màu Lãng Mạn. Ông nghiên cứu nguồn gốc bản địa ngược đến thời Columbus. Tác phẩm thơ của ông được nhắc đến là Alocusción a la poesia, Địa chỉ cho Thi Ca, 1823 và quan trọng hơn là A la agricultura de la zona tórrida, Nông nghiệp trong vùng Torrid, 1826.

[…]

Ôi, những quốc gia non nớt, thất thủ
Hãy vượt cao gây sửng sốt Tây Phương
Vòng quế nguyệt đội lên đầu ngươi sớm!
Tôn vinh ruộng đồng, tôn vinh đời đơn sơ
Nông dân sống mộc mạc và cần kiệm.
Được vậy, nơi này vĩnh viễn người tự do,
Thoát tham vọng, xa thánh đường giáo luật.
Những người đi trên con đường bất tử
hiểm họa và gian nan,
Họ thêm can đảm, nhìn ngươi tiêu biểu

[…] (2)

(A la argricultura de la zona tórrida. Bello.)

Nhà thơ Cuba, José Mariá Heredia (1803-1839) bắt đầu từ thuở nhỏ, ông thực sự làm thơ vào tuổi vị thành niên. Trước tuổi 20, ông đã xuất bản những bài thơ tầm vóc. Lúc này, đất nước Cuba chưa được độc lập, ông đã tuyên bố quan điểm chính trị của mình và bị trục xuất qua Hoa Kỳ, sau đó về Mễ Tây Cơ. Ông trở thành nhà thơ lưu vong với đường hướng lãng mạn. Được đời sau nhắc đến như người tiền phong dẫn đường đến chủ nghĩa Hiện Đại. Thơ của ông là sự phản ảnh của thiên nhiên và xã hội. Tác phẩm chính là Niágara, 1824.

Chưa bao giờ, cảm thấy như hôm nay
Đời ruồng bỏ, cô đơn bất hạnh
Nỗi khổ đau, vì không có tình yêu
Làm thế nào hồn đam mê giông bão
được hân hoan mà không cần ái tình?
Ôi, chỉ một thiếu nữ xinh đẹp
Xứng đáng để tôi yêu
chia sẻ cùng tôi ý tưởng mông lung
và bước chân cô quạnh
đi ven bờ vực sâu.
Tôi thật thích nhìn mặt nàng tái nhợt
Khi sợ hãi làm cho đẹp thêm
Rồi nàng cười, ôm tay tôi thật chặt!
Tơ tưởng làm gì, tôi đang lưu đày!
Không quê hương và không tình ái,
Chỉ thấy mình đang khóc với sầu đau.(3)

(Trích Niagara, Heredia. Bản dịch Anh ngữ Keith Ellis)

Bên Nam Mỹ, chủ nghĩa Lãng Mạn thâm nhập theo con đường quân sự, nhà thơ Argentina, Esteban Echeverría (1805-1851) đến Paris năm 20 tuổi, cư ngụ ở đó 4 năm. Trong thời gian này, ông học hỏi những tác giả danh tiếng ở Pháp. Khi trở về Buenos Aires, ông chẳng những xuất bản thơ trong sắc điệu lãng mạn, mà còn thành lập nhóm Asociación de Mayo, (Nhóm Tháng Năm, tháng Argentina được độc lập), mục đích cổ võ những phong trào văn chương mới, gây ra ảnh hưởng lớn, lan rộng qua những quốc gia lân cận. Về sau, ông dấn thân vào chính trị, chống đối nhà độc tài Juan Manuel de Rosas, bị lưu đày và chết biệt xứ. Tác phẩm còn lại của ông là La cautiva, Người phụ nữ bị giam cầm, 1837. Tuy nhiên, ông được biết đến về sinh hoạt văn học và chính trị nhiều hơn là tác phẩm.

Vào giữa thế kỷ 19, một nhóm văn nghệ sĩ, nhà phê bình và học giả, theo chân thế hệ trước, nhận thức tầm quan trọng để phát huy văn học dân tộc. Họ tụ tập tại Paris và trong những thành phố lớn ở CML. Họ là những nhà ngoại giao, những người lưu vong hoặc những trí thức dấn thân. Họ nỗ lực làm báo, sáng tác và dịch thuật. Sáng tác trong gia đoạn này đa số bị ảnh hưởng bởi chủ thuyết Lãng Mạn. Số lượng chữ nghĩa và tư tưởng của họ gửi về, lan rộng trong vùng CML, như một kích động lớn cho sáng tác ở quê nhà. Tác phẩm quan trọng của giai đoạn đó là Tuyển tập América poética của Juan Maria Gutiérrez (1809-1878).

Nữ sĩ Cuba thuộc trường phái Lãng Mạn, Gertrudis Gómez de Avellaneda (1814-1873), được xem là quan trọng, kể từ nữ sĩ Mễ Tây Cơ, Sor Juana Inés de la Cruz của thế kỷ 17. Rời quê nhà năm 22 tuổi, sinh sống tại Tây Ban Nha bằng nghề viết lách. Nổi tiếng tại Tây Ban Nha nhưng không được nền văn học ở đây công nhận vì vị trí phụ nữ. Những nhà phê bình cho rằng, thơ của bà độc đáo bởi thủ thuật tài hoa. Cách sử dụng nhịp điệu đặc biệt. Tác phẩm của bà để lại: Al partir (Khởi hành), 1836; A él (Gửi Ngài) và A la poesia (Cho thi ca).

Không còn liên hệ nào giữa chúng ta, tất cả đều đứt đoạn,
Tôi hỏi thiên đàng: nhờ ơn Chúa!
Đã uống cạn chén đắng đầy niềm vui,
Cuối cùng, linh hồn tìm thấy: không còn gì mơ ước.
Tối thiểu tôi nghĩ ra: Tôi đã từng yêu ngài, bây giờ thì không,
Nếu tôi sai lầm vì không đối diện sự thật!
Hãy để bao năm đầy đắng cay
Nuốt vào lãng quên, cho tim được thở.

[…]

Chúc ngài sống hạnh phúc!
Nếu hôm nào, có dịp đọc, lời vĩnh biệt của tôi,
Xin hiểu rằng,luôn luôn trong trái tim này,
Dành cho ngài tình cảm dịu dàng và lòng tha thứ. (4)

(Trích A él. Gómez de Avellaneda.)

Tác phẩm El gaucho Martín Fierro, 1872, của nhà thơ José Hernández (1834-86), bán 100,000 cuốn trong Argentina. Chứng tỏ lời thơ của ông đã chạm vào số đông quần chúng. Đề tài và nội dung chăn bò đã truyền tải thơ đi một cách sâu rộng mà trước đây chưa hề xảy ra. Lời thơ được ví như tiếng hót của con chim cô đơn, chỉ hót cho nó nghe. Tình yêu thiên nhiên, đồng cỏ, của kẻ chăn bò, làm rung cảm tình tự dân tộc. Qua dòng thơ của ông, phê bình xác nhận ông là người đầu tiên tạo ra sự huyền bí trong thi ca. Trong năm 1879, phần hai La vuella de Martín Fierro (Martín Fierro trở về.) xuất bản. Nét đẹp lãng mạn chiếm ngự thơ của ông.

[…]

Sẽ có hiểm nguy khi băng qua, nhưng tôi không sợ,
sẽ lăn trên đất băng qua, kéo theo định mệnh bản thân,
nếu lạc đường, không sao… không phải là người đầu tiên bị lạc.
Chẳng ai có thể cho biết, chúng tôi sống sót hay không.
phải tiến thẳng về hướng đất liền, nơi mặt trời lặn.
ngày nào khi đến đó, chúng tôi sẽ biết phải đi đâu.
Không bỏ cuộc, chúng tôi là đôi bạn tốt:
kẻ chăn bò đi theo hướng đã nhắm, dù không thể nói nơi nào
lá cỏ chĩa đầu nhọn về hướng mặt trời từ biệt.

[…] (5)

( Trích El gaucho Martín Fierro. Bản Anh ngữ: http://sparrowthorn.com/part1.pdf.)

 

Phong trào Modernismo

Phong trào này bắt đầu từ gần cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, trong dòng văn học CML. Chấm dứt khi chủ nnghĩa Hiện Đại (Modernism) thật sự xuất hiện. Modernismo được xem là sự kết hợp của ba trường phái: Lãng Mạn (Romanticism), Tượng Trưng (Symbolism), và Thi Sơn (Parnassianism). Tính năng của Modernismo là nhãn quan phát ra từ lòng đam mê, sử dụng nhịp điệu và hòa âm trong nhạc tính của ngôn ngữ, nâng lên cao độ văn phong thẩm mỹ. Phong trào này ảnh hưởng toàn cõi lãnh thổ sử dụng Spanish, lan tràn qua cả Phi Luật Tân. Dẫn đầu và đại diện là nhà thơ Rubén Dario, tiếp theo là José Martí và José Asunción Silva.

Nhà thơ Cuba, José Martí (1853-1895) được biết đến nhiều vì tranh đấu cho chiến tranh giành độc lập của Cuba năm 1895. Từ trẻ, ông đã kêu gọi tự do cho quê mẹ. Bị bắt làm lao công và bị trục xuất ra Tây Ban Nha. Nơi ông bắt đầu làm thơ và trở thành luật sư. Ông du hành nhiều nơi, diễn thuyết, truyền bá như một chiến sĩ chính trị. Khi cư trú tại New York, ông tổ chức tập đoàn cho người Cuba lưu vong. Ông cùng đoàn quân vũ trang đổ bộ vào phía đông đảo Cuba mùa xuân 1895. Tử trận ngày 19 tháng 5 cùng năm, tại Dos Ríos, lúc 42 tuổi. Ông trở thành thần tượng cách mạng và để lại nhiều văn bản và thơ. Hai tác phẩm thơ Ismaelillo, 1882, và Versos sencillos, 1891, cũng đủ giữ vững địa vị thi sĩ của ông trong văn học CML. Thơ của ông được xếp vào hạng tiền phong cho thế kỷ tiếp theo.

[…]

Thành phố lớn làm tôi kinh hoảng,
Nhiều ly để cạn hoặc ly trống không!
Tôi sợ hãi, ôi, chỉ là rượu đỏ
hoặc thuốc độc, thấm mạch máu tim,
trả thù bởi những tên tinh quái. (*)
Tôi khát, một loại rượu người đời biết không thể uống,
Tôi chưa khổ đau đủ để phá sập tường vách giam mình,
ôi, đáng buồn cho vườn nho của tôi!
Uống đi, Ôi, người nếm rượu hèn nhát
rượu dâng từ những kẻ bình thường
những ly chứa đầy nước ép hoa huệ.
Đừng sợ hãi, đừng thương hại, uống đi,
Tôi vừa hân hạnh vừa run sợ.

[…]

(Trích Amor de ciudad grande. Martí.)

(*) Có thể là thành ngữ, tôi không hiểu rõ câu này, chỉ phỏng dịch.

Nhà thơ Colombia, José Asunción Silva (1865-96), là người theo khuynh hướng thơ của Edgar Allan Poe. Rồi thử nghiệm loại thơ tự do với nhịp điệu bất thường. Tuy ông có đời sống ngắn ngủi nhưng để lại những bài thơ làm khuôn mẫu cho những thế hệ sau. Bài Nocturno, bài thơ chứa đầy cung điệu bóng tối, trong những câu ngắn câu dài, không theo tiêu chuẩn vần, kiểu đương thời. Ông có một khả năng đặc biệt, biết sử dụng những khoảng trống im lặng, những văn phạm ngừng nghỉ, để sáng tạo nét đẹp của nhạc thơ. Ông trở thành một thi sĩ thời danh của phong trào Moderista.

Một đêm
Một đêm dày đặc hương thơm, thì thầm tiếng nhạc chơi vơi,
Một đêm
Trong bóng âm u, tuyệt vời đom đóm từng đôi lập lòe.
Kề cận bên nhau, bước chậm rãi, với em,
Im lặng, xanh xao,
Như thể linh cảm khổ đau và buồn rầu vô hạn
Đã khuấy động em tận sâu thẳm con tim,
Đi dạo lối vườn giữa hương hoa bát ngát.
Và giữa màu lam
Trên trời rộng xa xăm, trăng rằm tỏa ánh sáng huyền ảo,
Bóng em
Mong manh, dịu dàng,
Bóng tôi
Kéo dài theo ánh trăng
Rơi xuống mặt đường ủ rũ
Hai bóng nhập vào nhau
Thành một
Như một
Hoá chung một bóng dài cô đơn!
Một bóng dài cô độc!
Một bóng dài quạnh hiu!

[…] (7)

(Trích Nocturno 3. Silva.)

Nhưng thi sĩ quan trọng nhất trong thời kỳ này là nhà thơ Nicaragua, Rubén Darió (1867-1916), tác giả của tác phẩm Azul (Màu Xanh), 1888, được xem là nền tảng khởi đầu và cơ bản cho phong trào Modernismo. Sự ảnh hưởng của ông bao trùm dòng thi ca CML qua nhiều thời đại. Những nhà thơ theo khuynh hướng của ông, cũng tạo ra nhiều tác phẩm giá trị.

Darió có nguyên tên là Félix Rubén Garcia Samiento, pha trộn dòng máu Tân Ban Nha Châu Phi và dân bản xứ. Từ nhỏ đã được dạy dỗ và thành đạt học thức cao. Vào tuổi trưởng thành đã say mê thi ca của Pháp, thời đó, thịnh hành bậc nhất với những chủ nghĩa mới lạ và những tài hoa thi ca bậc thầy của thế giới. Ông pha lẫn vào đặc tính của thi ca Spanish, tạo ra bút pháp được gọi là Mozart of Spanish, tức là phần nhạc tính, âm điệu và ngôn ngữ phải thể hiện sự quyến rũ như âm thanh lộng lẫy của Mozart. Ông sử dụng những câu vận luật khác nhau và 136 thể thơ Stanza và một vài thể, câu sáng tạo theo cách riêng. Sau khi tổ chức báo ở địa phương, ông dời sang sinh sống ở Chí Lợi. Nổi tiếng và được đón nhận khắp nơi. Cùng lúc những phát minh mới của ngành ấn loát đang phát triển, tác phẩm của ông được phát hành rộng rãi.

Rồi sáng tác của ông xa dần nét đẹp ngôn ngữ của phái Lãng Mạn, chú trọng những tứ thơ, hình ảnh ý thi vị. Ví dụ, ông viết:

Nàng công chúa buồn rầu
Chuyện gì khiến nàng không vừa ý?
Tiếng thở dài thoát khỏi bờ môi dâu…

(Echevarría 2012: 26.)

Môi dâu, Strawberry mouth, là hình ảnh đẹp, tượng hình tươi thắm, tượng thanh tiếng thở, tượng vị mùi thơm của dâu. Chưa kể, thử tượng tượng một đôi môi hình trái tim?

Sự nghiệp thi ca của Darió chia thành hai phần khá đều đặn. Phần trước là một Darió thẩm mỹ, phần sau là một Darió trầm tư. Điểm ngăn giữa là tác phẩm Cantos de vida y esperanza (Ca khúc về đời sống và hy vọng), 1905. Darió về sau, thơ mang theo cung cách chính trị, Từ cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha 1898, Darió và nhóm Modernismo đưa thi ca sát vào chính trường. Họ ủng hộ sự độc lập của Cuba, Puerto Rico và những đấu tranh của các quốc gia nhỏ khác. Thơ ông về cuối đời bắt đầu có bóng dáng của chủ nghĩa Tương Trưng (Symbolism).

Azul, chỉ có 134 trang, nhưng là tác phẩm xoay chiều thơ hiện đại trong tinh thần địa phương của văn học CML. Đánh dấu sự chuyển hướng và tạo khuynh hướng thi ca mới.

Azul, là sự hỗn hợp giữa thơ và truyện ngắn với văn phong vượt ra giới hạn của thời gian. Tính hoang đường, thần thoại thể hiện trong thẩm mỹ của ý tưởng. Sự nỗ lực tái tạo trần gian trong một trật tự hòa hợp thể hiện qua nội dung. Darió viết, "Tôi tìm kiếm một thể thức mà bút pháp của tôi không thể khám phá, một nụ ý tưởng đang muốn nở hoa hồng."

Darió chọn con thiên nga như biểu tượng cho thơ của ông. Một loài chim đại biểu cho sự tinh khiết của vẻ đẹp, với chiếc cổ dài cong như dấu hỏi, nghi vấn muôn đời.

Hỡi thi sĩ! Thành trì của Thượng Đế!
Như cột thu lôi,
chống bão tố điên cuồng,
như vách đá
như núi hoang dã
ngăn chận sóng thiên thu!

[…]

(Trích Torres de Dios Poetas. Darió.)

Hầu hết những nhà thơ CML thời đó, đều thực hiện sứ mệnh của họ, có người trực tiếp tham gia vào chính trị, quân sự, nhưng tất cả đều quan tâm và tha thiết với văn học và văn hóa của quê hương. Thời kỳ ý thức văn học và chuyển hướng văn chương là bài học cho nhiều dân tộc còn chậm chạp, lúng túng trong nền văn học văn hóa quê nhà. Tất cả mọi phát triển phải bắt đầu bằng ý thức về điều cần phát triển, lý do tại sao và mục đích nào. Sau ý thức là sự dấn thân học hỏi và thử nghiệm. Việc này không thể chỉ làm bởi một người, mà cần có một phong trào liên tiếp qua nhiều thế hệ. Mọi mạo hiểm đều phải trả một giá cao cho không được gì hoặc đạt được những điều mong muốn.

Trong khi tiểu thuyết và truyện ngắn còn đang xoay sở tìm con đường tiến tới, thi ca CML dường như đã nhìn ra chân trời. Họ chuẩn bị bước sang thời kỳ Hiện Đại và xây dựng một thời đại Hoàng Kim cho riêng quê hương và cho cả nhân loại.

 

Ghi:

(1)

"Victoria, paz –clamaban–,
paz para siempre. Furia de la guerra,
húndete al hondo averno derrocada.
Ya cesa el mal y el llanto de la tierra.

[…]

"Gloria, mas no reposo" –de repente
clamó una voz de lo alto de los cielos–;
y a los ecos los ecos por tres veces
"Gloria, mas no reposo", respondieron.

(2)
¡Oh jóvenes naciones, que ceñida
alzáis sobre el atónito occidente
de tempranos laureles la cabeza!
honrad el campo, honrad la simple vida
del labrador, y su frugal llaneza.
Así tendrán en vos perpetuamente
la libertad morada,
y freno la ambición, y la ley templo.
Las gentes a la senda
de la inmortalidad, ardua y fragosa,
se animarán, citando vuestro ejemplo.

(3)

Never have I felt as deeply as today
My wretched isolation, my abandonment,
My anguished lovelessness…. How could
A passionate and tempestuous soul
Be happy without love?… Oh! If only a beautiful woman
Worthy of me would love me,
And share my wandering thoughts
And my lonely steps
At the edge of this churning abyss.
How I would enjoy seeing a faint paleness
Temper her face, more beautiful
In her sweet terror, and see her smile
As I hold her in my loving arms!…
Vain raving!… Oh! I am banished,
Without homeland, without love,
With no prospects but tears and sorrow.

(4)

No existe lazo ya: todo está roto:
plúgole al cielo así: ¡bendito sea¡
Amargo cáliz con placer agoto:
mi alma reposa al fin: nada desea.
Te amé, no te amo ya: piénsolo al menos:
¡nunca, si fuere error, la verdad mire!
Que tantos años de amarguras llenos
trague el olvido: el corazón respire.

[…]

¡Vive dichoso tú! Si en algún día
ves este adiós que te dirijo eterno,
sabe que aún tienes en el alma mía
generoso perdón, cariño tierno.

(5)

[…]

There’s dangers in the crossing but this doesn’t scare me,
I go rolling across the earth dragged along by my destiny —
and if we lose the way, well…. we won’t be the first to lose it.
No one can answer for us whether we’ll survive or not.
We have to strike straight inland towards where the sun goes down –
one day we’ll get there, we’ll find out where afterwards.
We won’t get off our course, we’re a good team, the two of us:
a gaucho goes where he aims for, even though he can’t tell where he is –
the grass-blades turn their points towards the setting sun.

[…]

(6)

[…]

¡Me espanta la ciudad! Toda está llena
De copas por vaciar, o huecas copas!
¡Tengo miedo ¡ay de mi! de que este vino
Tósigo sea, y en mis venas luego
Cual duende vengador los dientes clave!
¡Tengo sed; mas de un vino que en la tierra
No se sabe beber! ¡No he padecido
Bastante aún, para romper el muro
Que me aparta ¡oh dolor! de mi viñedo!
¡Tomad vosotros, catadores ruines
De vinillos humanos, esos vasos
Donde el jugo de lirio a grandes sorbos
Sin compasión y sin temor se bebe!
Tomad! Yo soy honrado, y tengo miedo!

(7)

One night
As phantasmal fireflies flickered in humid, nuptial shadows,
We walked together, slowly, our bodies close, and you,
Silent, pale,
As if a presentiment of infinite pain and sorrow
Had shaken you to the most secret depths of your being,
Came strolling along the garden path through fragrant gardens,
And in the indigo
Of the vast, farthest, heavens, the full moon shed its unearthly light,
And your shadow,
Languid, mellow,
And my shadow,
Lengthened by the moonbeams falling upon
The path’s somber sands
Were blending,
Forming one
Forming one
Forming one long, lonely shadow!
Forming one long, lonely shadow!
Forming one long, lonely shadow!

[…]

(http://www.poetryinternationalweb.net/pi/site/poem/item/1503/auto/NOCTURNE-III )

(8)

Torres de Dios Poetas!
Pararrayos celestes,
que resistís las duras tempestades,
como crestas escuetas,
como picos agrestes,
rompeolas de las eternidades!

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch