Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Nghiên Cứu, Văn Chương Nam Mỹ Email bài này

Văn Xuôi Châu Mỹ Latin: Thời Tiền Bùng Nổ

0 bình luận ♦ 4.07.2016

The Spiral Word - El Codex Estánfor, at El Centro Chicano - Juana Alicia

Juana Alicia, The Spiral Word: El Codex Estánfor – tranh mural tại El Centro Chicano, Đại học Stanford

Từ năm 1960, thế giới bắt đầu biết đến tên tuổi một số nhà văn Châu Mỹ Latin như: Jorge Luis Borges, Gabriel Garcia Márquez, Julio Cortázar, Mario Vargas Llosa, Carlos Fuentes, Pablo Neruda, Octavio Paz…..Dĩ nhiên, nhiều người đã từng biết Migued Angel Asturias, Neruda, García Márquez Paz vì họ là những người đã đoạt giải Nobel về Văn Chương hoặc Thi Ca. Tuy nhiên từ thời điểm 60, văn học thế giới biết đến những khuôn mặt văn học đang góp phần vào phong trào cách mạng văn chương trong vùng này. Phong trào phát triển  nhanh, có sắc thái riêng và ảnh hưởng rộng lớn, được thế giới biết tới như sự Bùng Nổ. Sự Bùng Nổ chẳng những quan trọng cho văn chương Châu Mỹ Latin, còn quan trọng cho nền văn học thế giới. Sau thời kỳ Bùng Nổ là thời kỳ Hậu Bùng Nổ với những thay đổi về đường hướng và văn phong mới của những tác giả trẻ.

Tình hình văn học chung.

Nền văn học Châu Mỹ Latin đã có từ lâu đời, bao gồm hai ngôn ngữ chính: Tây Ban Nha (Spanish) và Bồ Đào Nha (Portuguese), bao gồm những quốc gia lớn vùng Trung Mỹ như Mexico, Cuba, Panama, Honduras và ở vùng Nam Mỹ như Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Colombia, Peru, Venezuela, Ecuador… và một số quốc gia nhỏ khác. Nói chung trong thời kỳ này văn học phát triển mang tính địa phương, cục bộ và chia cách. Đặc điểm, văn học cổ điển trong vùng này nghiêng về tôn giáo, thần bí, thần thoại, nhất là phần dân gian truyền kỳ. Sở dĩ người ta thường dùng cụm từ Nam Mỹ Latin với ngụ ý cho toàn cõi Châu Mỹ Latin, vì Nam Mỹ gồm những nền văn chương quan trọng như Brazil, Argentina, Peru, Chilie, Columbia, trong khi vùng trung mỹ chỉ có Mexico là dòng văn học đáng kể. [Viết tắt Nam Mỹ Latin: NML. Châu Mỹ Latin: CML.] Nhà ngôn ngữ học Noam Chomsky (1928 -…) nhận định: "Khoảng 500 năm nay, kể từ khi các nhà thám hiểm Âu Châu đến, các nước Châu Mỹ Latin đã cách biệt nhau. Có mối liên hệ rất hạn chế. Sự liên hợp là điều kiện tiên quyết cho sự độc lập."

Văn học CML bắt đầu nhận thức sự khác biệt với văn học Tây Phương theo hai biến cố chính trị:

1-Sự giành lại độc lập từ đế quốc Tây ban Nha.

2- Chiến tranh giữa Tây Ban Nha và Hoa Kỳ.

Nhận thức này đưa đến sự du nhập phong trào Chủ Nghĩa Hiện Đại (Modernism). Số mệnh của dòng văn học này luôn luôn gắn liền với tình hình chính trị và quân sự của vùng và của từng đất nước.

Danh từ Latin America, Châu Mỹ Latin, không được xem là chính xác, dựa trên lịch sử và địa lý. Hầu hết CML là lãnh thổ thuộc địa cũ của đế quốc Tây Ban Nha. Danh từ này do người Pháp sử dụng khi tiến vào Mễ Tây Cơ, với hai dụng ý: 1- Kết hợp những sắc dân có cùng nguồn gốc ngôn ngữ, chủ yếu là Spanish, vì ngôn ngữ Spanish và Pháp có chung gốc Latin. 2- Ngăn chận sự phát triển của Anh, nhất là Hoa Kỳ, có nguồn gốc chung ngôn ngữ với Đức. Những nhà chuyên môn về nhân chủng, ngôn ngữ, sử địa, không ủng hộ dụng ý chính trị này, nhưng tên gọi đã trở thành thói quen, được đa số chấp nhận.

 

Thời tiền Bùng Nổ: Thế kỷ 19 đến 1960.

Mãi đến năm 1850, khi một nhóm nhà văn lưu vong có học thức của một số quốc gia trong vùng, gặp nhau tại Paris, họ cùng nhau ra tạp chí văn chương và bắt đầu xây dựng văn học quê nhà theo đường lối Tây Phương. Phong trào này được ủng hộ và trở thành mẫu mực cho sự phát triển lâu dài. Khuynh hướng đầu tiên này phát động phong trào liên kết các nền văn học trong vùng vào phạm vi ngôn ngữ, lớn nhất là tiếng Spanish, sau mới đến ngôn ngữ Bồ Đào Nha.

Sự bành trướng của Tây Ban Nha  là một phương tiện dàn trải ngôn ngữ này đến các thuộc địa. Ngược lại, những tác phẩm văn chương cổ điển của CML cũng được giới thiệu ra ngoại quốc.

Chiến tranh thế giới, nội chiến, chống ngoại xâm, chống độc tài, là những động cơ khiến sinh hoạt văn chương trở nên sôi nổi. Qua giao tiếp với những biến chuyển văn học thế giới tại Âu Châu, văn học CML đã tạo ra những nghệ sĩ tiền phong trong nhiều lãnh vực nghệ thuật. Trong thời tiền Bùng Nổ, thi ca phát triển nhanh so với truyện và tiểu thuyết, để lại dấu ấn với thi sĩ Nobel, Pablo Neruda (Chí Lợi).

Ôi, quê hương của đêm
dân chưa bao giờ được sống:
chỉ đất cỏ
nơi chúng tôi náo động
bởi di chuyển ngoài đường,
chuyện gì đó đang chạy,
và chạy vào bóng tối…, (1)

( Trích Oda a la Casa Dormida, Neruda.)

Tiểu thuyết và truyện trong giai đoạn này theo hướng dẫn của văn tường thuật và luận lý. Văn xuôi tiếp cận chính trị, xã hội, văn hóa nhiều hơn thơ. Các thể loại tiểu luận, chính luận, xã luận, văn phê phán do nhu cầu báo chí đã phát triển mạch mẽ, nhất là ở những nơi bị cấm đoán, bị đàn áp, sự vùng dậy của chữ nghĩa cáo trạng càng dữ dội. Tiểu thuyết và truyện ngắn cũng không ra khỏi trào lưu này. Chủ đề và nội dung, đa số, cưu mang vấn nạn chính trị, xã hội, tội ác, chính quyền, phản kháng, và vấn đề sắc tộc.

Tường thuật và mô tả là thể loại văn chủ yếu được sử dụng. Đó cũng là nghệ thuật cơ bản của chủ nghĩa Lãng mạn và chủ nghĩa Hiện Thực (Realism).

Lịch sử và văn hóa địa phương là hai lãnh vực lớn nhất, được chú trọng nhiều nhất của văn xuôi, tiểu thuyết và truyện ngắn. Dường như bất kỳ nền văn học nào, khi mới phát triển, mới va chạm với văn học thế giới, đều mang nỗ lực vừa giới thiệu vừa bảo tồn nền văn hoá dân tộc. Sự kiện này đòi hỏi tinh thần khách quan và ý thức trao đổi cân bằng. Ví dụ, học hỏi ưu điểm của văn hóa ngoại, giới thiệu, không phải thuyết phục, ưu điểm của văn hóa nội. Nếu không sẽ rơi vào tình trạng "tâm lý văn hoá", mang "mặc cảm": 1- tự ti, cảm thấy văn hóa mình sai lầm, chậm tiến; 2- tự tôn, cảm tưởng văn hóa mình hay lắm, đặc thù không ai có. Do đó, thay vì là người trao đổi văn hóa, lại trờ thành kẻ nô lệ hoặc chiến sĩ xâm lăng.

Hấu hết tiểu thuyết và truyện trong thời kỳ này đều hướng về lịch sử và văn hóa của CML. Nhà văn Venezuela, Simon Bolivar (1783-1830) dẫn đầu với tác phẩm La Carta de Jamaica, Thư Gửi từ Jamaica, năm 1815. Mục tiêu liên hợp các quốc gia thành một thế lực lớn, ngoại trừ mục đích độc lập, dân chủ, còn có mục đích kiểm soát vùng Panama, giữ chủ quyền liên lạc giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, phát triển kinh tế và quyền lực. Tác phẩm trở thành nền tảng căn bản cho nhiều sáng tác về sau. Trong khi tác phẩm của Domingo Faustino Sarmiento, José Martí, José Enrique Rodó… đương đầu với những tác động do mâu thuẫn, chạm trán giữa hai nền văn hóa và văn học của Âu Châu và Hoa Kỳ.

Tường trình và mô tả trong nhiều tác phẩm gây khó khăn khi cần phân biệt giữa truyện và các loại và văn xuôi tương tự. Nhất là khi mặc cảm nhược tiểu ngấm ngầm đưa đẩy tinh thần ái quốc, đưa đến nỗ lực thể hiện lịch sử và văn hóa trong mọi diễn ngôn, trong mọi trường hợp có thể, tuy không cần thiết cho mỹ cảm và văn chương, lẫn giao lưu phong hóa.

· Cuốn tiểu thuyết hội đủ tiêu chuẩn được nhắc đến là El periquillo sarniento (Con Két Ngứa), năm 1816, của nhà văn Mễ José Joanqúin Fernández de Lizardi (1776-1827). Sử dụng lối văn tự truyện, kể lại cuộc đời của một chàng trai nghèo, giúp việc cho nhiều chủ nhân. Bao gồm tình huống xã hội và chính trị đương thời. Nội dung mang tính đạo đức xã hội.

· Trong khi ở Argentina, tác phẩm El matadero, 1838, (Lò Mổ) của Esteban Echeverría (1805-1851), được xem là cuốn tiểu thuyết có giá trị cao trong thời kỳ Tiền Bùng Nổ. Nội dung tố cáo chính thể độc tài của Juan Manuel de Rosas. Câu chuyện về một người trẻ chống lại chế độ, đã bị thảm sát những kẻ vô lại thảm sát ở thành phố Buenos Aires. Tượng trưng cho guồng máy và cách hành xử của chính quyền.

· Nhưng cuốn sách quan trọng nhất là Civilización y barbarie: vida de Juan Facundo Quirota, 1845, (Cuộc đời của Facundo Quiroga: văn minh và man rợ) của Domingo Faustino Sarmiento (1811-1888). Xây dựng quanh tiểu sử của nhận vật Quinroga. Mục tiêu tố cáo Rosas độc tài, mang bản chất man rợ trong lúc văn minh đang bắt đầu rạng rỡ ở Buenos Aires, Argentina, theo mô hình hiện đại của Âu Châu. Qua văn cảnh, ông đã trình bày văn hóa của dân tộc và những tệ trạng xã hội. Sự tương tranh giữa văn minh và man rợ là sự tương tranh giữa "làm đẹp đời sống chung" và "lòng gian ác riêng tư". Man rợ là sở thích, trong khi văn minh thuộc về chân thiện mỹ. Về sau, ông trở thành tổng thống của Argentina: 1868-1874. Trước ông, một nhà thơ, dịch giả, tướng lãnh, Bartolomé Mitre (1821-1906) giữ chức vị tổng thống trong giai đoạn 1862-1868.

· Tiếp theo, nhà văn Cuba, Anselmo Suárez y Romero (1818-1882), với tác phẩm Francisco o las delicias del campo, 1838, (Francisco hoặc niềm vui thôn dã,) đã chuyển hướng từ văn hóa qua chính trị xã hội. Mặc dù vẫn trình bày những khác biệt văn hóa, ông đặt mục tiêu vào khuynh hướng chống lại chế độ nô lệ. Phơi bày tệ trạng bóc lột sức lao động của các chủ nhân chiếm ngự thuộc địa và anh hùng tính của cá nhân bản xứ. Nội dung kể về cuộc đời của Francisco, làm nô lệ cho gia đình góa phụ Mendizábal ở đô thị Havana. Anh ta đã đem lòng yêu cô Dorotea, cũng là một nô lệ trong nhà, nhưng được người con trai Ricado yêu thích. Cốt truyện trở thành thảm trạng cho người nữ nô lệ. Truyện còn mô tả hãng chế tạo đường mía và đời sống của những người lao động. Sư tương phản và bạo quyền giữa người da trắng và nô lệ tạo ra ý nghĩa cho đấu tranh. Khuynh hướng này kéo dài và phát triển qua nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn của các tác giả khác đi theo khuynh hướng này.

· Nhà văn Cuba lưu vong sống tại Hoa kỳ, Cirrilo Villaverde (1812-1894), ủng hộ cuộc cách mạng độc lập tại Cuba, được biết đến qua tác phẩm Cecilia Valdés o La Loma del Ángel, 1882, ( Cecilia Valdés hoặc El Angel Hill,) viết về nhân vật vai chính qua sân khấu âm nhạc, nàng trở thành thần tượng của dân Cuba, một nhân vật biểu tượng của đất nước. Sắc đẹp của mỹ nhân, xưa nay, vẫn trời xanh quen thói má hồng đánh ghen, nàng trở thành nạn nhân của tiền, tài và danh vọng. Cốt truyện mang tính cô bé lọ lem, Cinderrella, quen thuộc và phổ biến. Vẫn khuynh hướng phát động ý thức về xã hội thuộc địa, nhưng từ nhãn quan của người lưu vong, xen lẫn tầm nhìn chính trị từ bên ngoài.

· Những tác phẩm khác có những chỗ đứng trong thời kỳ này là Amalia, 1851, của nhà văn Argentina, José Mármol (1817-1871); Mariá, 1867, của nhà văn Colombia Jorge Isaacs (1837-1895); Aves sin nido, 1889, của nhà văn Peru, Clorinda Matto de Turner (1854-1909)… Và một tác giả quan trọng cho dòng văn học Peru, nhà văn Ricardo Palma (1872-1910) đã có phong cách riêng đặc biệt trong những truyện châm biếm xã hội thuộc địa Peru, được các nhà phê bình trân trọng về cách thức diễn đạt, nhân vật, và cốt truyện gây bất ngờ thích thú.

Đặc tính văn xuôi thời Tiền Bùng Nổ.

Theo như Efraín Kristal nhận định, ý thức thực sự về tiểu thuyết của thời kỳ này bắt đầu từ thập niên 1920, và tác phẩm lớn về lịch sử văn học của CML bao gồm sự phát triển của tiểu thuyết do Fernando Alegriá viết đã xuất bản năm 1959. Đem ra ánh sánh chung những tiểu thuyết, truyện và những tác giả quan trọng, trước đó, vẫn còn vô danh, chỉ được biết trong khoanh vùng của mỗi đất nước. (Kristal 2005:5.) Do đó, đặc tính của văn chương trong thời kỳ này, là văn học vùng. Văn hóa sắc dân và chính trị địa phương là cốt lõi của sáng tác.

Trước năm 1960, văn chương CML được xếp vào văn chương thuộc địa và văn chương thuộc địa nối dài, mang bản chất văn chương theo chủ nghĩa quốc gia. Văn xuôi bắt đầu phát triển với báo chí, tiểu luận, phê bình, sau mới đến truyện ngắn và tiểu thuyết. Thế kỷ 19 được xem là thời kỳ xây dựng nền móng cho văn học chuyển hướng. Những tiểu thuyết rời bỏ truyền thống, bước vào lãnh vực chủ nghĩa Lãng Mạn và chủ nghĩa Tự Nhiên. Đa số những nhà văn nổi tiếng đương thời, phải đợi đến thế kỷ 20, mới xuất bản những tác phẩm có giá trị.

Vào cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20, phong trào văn chương Hiện Đại được phát động, với thi ca dẫn đầu. Nhà thơ tên tuổi đương thời là thi sĩ Nicaraguan, Rubén Dario, được xem là người tiên phong trong phong trào này. Phong trào văn học thật sự đã trực tiếp ảnh hưởng đến toàn vùng.

Nghĩ Về Sự Chết Của Thi Sĩ

Người tư duy nghĩ về thuyền bóng tối:
thấy anh ta chìm sâu
trong sương mù phủ hồ Bí Ẩn
qua đôi mắt thiên nga.
Khăn đắp che thi sĩ
in hình hoa Loa Kèn
với vinh danh Nguyệt Quế
và gai nhọn, phủ mặt buồn rầu.
Phía xa dựng lên dãy tường vách
thành phố thần học vĩnh viễn bình an.
Chuyến thuyền đen đưa anh qua bờ mộng
hồn siêu nhiên hưởng ân huệ sau cùng:
Anh nhìn thấy thánh giá dựng thẳng đứng,
anh đến chân người chiến thắng thiêng liêng
là xác lạnh Sphinx,[đầu người thân sư tử.] (2)

· Một nhà thơ Cuba, José Martí (1853-95) đã viết một tiểu luận văn học, được xem như thời điểm chuyển mình sang chủ nghĩa Hiện Đại cho văn xuôi nói riêng, và văn chương nói chung. Tuy gọi là chủ nghĩa Hiện Đại, nhưng hầu hết các nhà phê bình về sau, xem thời kỳ này là phong trào Hiện Đại "Modernista", kéo dài cho đến Thế Chiến Thứ Nhất. Đây là phong trào Hiện Đại mang tính ái quốc, do những người ủng hộ tinh thần chiến đấu dân tộc. Bên văn xuôi, dẫn đầu phong trào này là nhà văn Uruguay, José Enrique Rodó (1872-1917).

Martí sống ở New York 15 năm, khá thấm nhuần văn chương Hoa Kỳ. Về sau, ông trở thành nhân vật ủng hộ chiến tranh giành độc lập của Cuba và đã hy sinh mạng sống của mình. Martí ý thức rất rõ sức mạnh của Hoa Kỳ về nhiều phương diện. Văn học Hoa Kỳ cũng trở thành căn bản trong tác phẩm của ông.

Tôi muốn rời khỏi thế giới
Tự nhiên như ra khỏi cửa;
Trong ngôi mồ xanh lá cây
Người chôn tôi vào cõi chết.
Đừng nhốt tôi giữa bóng đêm
Qua đời như kẻ phản bội;
Tôi tử tế, yêu điều thiện
Chết muốn đối diện mặt trời.

( A Morir, 1894. Martí.)

Bài viết của ông từ New York chuyển sang Cuba gây ảnh hưởng lớn cho giới trẻ. Tờ báo do ông thành lập thường xuyên truyền tải nội dung quyến rũ những người tham gia vào chiến trận. Văn phong của ông dù trong tiểu luận, vẫn đạt được phong thái thi ca. Tiểu luận quan trọng của ông là Nuestra America, (Châu Mỹ của chúng ta), 1891. Và chính cái chết của ông là bằng chứng cụ thể của lời ông kêu gọi.

· Bài viết Ariel của Rodó cũng là một tiểu luận tạo ảnh hưởng lớn trong phong trào Modernistra và sau này là Modernismo. Cũng như Martí, ông thấu hiểu sự phát triển của văn minh Hoa Kỳ, và việc đời sống ở Châu Mỹ Latin bị vật chất hóa. Tiểu luận này mang nội dung chống lại sự ham mê vật chất, những tệ đoan của văn minh hối hả, và việc phát triển kỹ nghệ vô trật tự. Ông ủng hộ lấy thiên nhiên làm tiêu chuẩn, văn hóa là trên hết, Châu Mỹ Latin của người Châu Mỹ. Ông chống lại sự bành trướng kinh tế và chính trị từ Hoa Kỳ, nhưng lại bị  văn chương của xứ sở khổng lồ này thâm nhập. Văn chương của ông nặng nề tư tưởng, nhất là những tác phẩm mang tính siêu nhiên.

· Ngoài ra, phải kể nhà văn Peru, Manuel González Prada và José Carlos María Mariátegui..v..v.. Phải nói đến tác phẩm vượt trội De sobremesa (Trò chuyện sau bữa cơm tối) của nhà văn Colombia, José Asunción Silva (1865-96), xuất bản năm 1925, sau khi ông đã tự vận. Sự xuất hiện của những tác giả theo chủ nghĩa Hiện Đại ở nhiều quốc gia trong vùng, đưa đến những tác phẩm phi chính trị, sáng tác thuần văn chương. Tuy gọi là chủ nghĩa Hiện Đại, nhưng hầu hết các nhà phê bình về sau, xem thời kỳ này là một loại Hiện Đại "Modernista", kéo dài cho đến Thế Chiến Thứ Nhất.

· Nói cho chính xác, hai chủ nghĩa lớn ảnh hưởng văn học ở CML là chủ nghĩa Lãng Mạn (Romanticism) và chủ nghĩa Hiện Thực (Realism), tuy nhiên đây là sự ảnh hưởng pha trộn. Ở Âu Châu, mỗi chủ nghĩa được thể hiện rõ ràng trong tiểu thuyết. Ở CML. cả hai chủ thuyết cùng hòa nhập trong một tác phẩm. (Kristal 2005:41.)

· Nhà văn Venezuela, Romulo Gallegos, năm 1929 xuất bản tác phẩm Doña Barbara, một tác phẩm viết theo lối hiện thực của Hoa Kỳ (Criollismo). Trong phong trào chủ nghĩa Địa Phương (Regionalism), mặc dù phong trào này ngắn ngủi, nhưng tác phẩm này được biết đến lâu dài vì gây được sự chú ý của giới văn học thế giới và được dịch ra bốn mươi ngôn ngữ khác nhau.

Rồi sự xuất hiện của nhà văn, nhà thơ Argentina, Jorge Luis Borges với những truyện mang tính triết học và một văn phong khác thường, đầy ảo tính, đã tạo ra một phong trào khác. Một phong trào văn học có cá tính và mang bản chất huyền bí của Châu Mỹ Latin, với sự tiếp tay của nhiều nhà văn thuộc thế hệ trẻ hơn, đã cho ra đời một loại truyện ngắn và tiểu thuyết huyền bí, phát xuất từ những hiện thực không thể mô tả bằng văn chương hiện thực. Loại văn chương này đã vượt ra khỏi biên giới CML, có tầm ảnh hưởng lan rộng cả thế giới, và đạt đến cao điểm khi tác phẩm Trăm Năm Hiu Quạnh xuất bản và đoạt giả Nobel văn chương năm 1982: Nhà văn Gabriel García Márquez. Sự xuất hiện của lớp nhà văn này đã khép lại trang sử văn học của thời Tiền Bùng Nổ cho văn xuôi và mở ra một thời kỳ rạng rỡ, độc đáo cho văn chương Châu Mỹ Latin.

(Còn tiếp: Thời Tiền Bùng Nổ và Thơ)

 

Ghi:

(1)

Oh espacio de la noche

en que no somos:

praderas en que sólo

fuimos un movimiento en el camino,

algo que corre

y corre por la sombra…

(2) En La Muerte De Un Poeta

El pensador llegó a la barca negra:

y le vieron hundirse

en las brumas del lago del Misterio,

los ojos de los Cisnes.

Su manto de poeta

reconocieron los ilustres lises,

y el laurel y la espina entremezclados

sobre la frente triste.

A lo lejos alzábanse los muros

de la ciudad teológica en que vive

la sempiterna Paz. La negra barca

llegó a la ansiada costa y el sublime

espíritu gozó la suma gracia:

y vió la cruz erguirse,

y halló al pie de la sacra Vencedora

el helado cadáver de la Esfinge.

(3)

Deseo salir del mundo,

Por su puerto natural;

En mi tumba de hojas verdes

Me llevare para morir.

No me pongas en el oscuro

para morir como un traidor;

Yo soy bueno, y como cosa buena

Morire con la cara al sol.

bài đã đăng của Ngu Yên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch