Trang chính » Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Phỏng vấn Email bài này

Nói chuyện với Tru Sa về Ảo Giác Mù

 

IMG_3707

LTS: Tru Sa  tên thật  là Nguyễn Thanh Phong- tác giả Hóa Trang, tập truyện ngắn đầu tay. Ảo Giác Mù là tập truyện thứ hai của anh với bút danh Tru Sa.

Chúng ta đã gặp Tru Sa lần đầu tiên trên Da Màu từ cuối năm 2013 với ‘Mê Cung”, “Đôi Mắt Màu Xanh Dương”; “Tiếng Thở Dài”, “Vòng Tròn”, “Kẻ Không Nương Náu”, “Nhà”,”Nóc”, và gần đây nhất: “So”. Anh viết nghiêm túc, viết cật lực, hầu như mỗi tháng đều xong một hai truyện và truyện nào cũng đưa ra những vấn đề thách đố lồng trong những ẩn dụ tinh tế: cộng đồng những kẻ luôn đi theo đường tròn, sống trong một gia đình chỉ được quyền nói thì thầm, một người không thể khóc, một kẻ chuyên thu thập những chiếc dép không đôi, một con vật có màu lông trong suốt , những kẻ dựng thang và leo mãi không ngừng lên một cái “nóc” nào đó không tưởng…. Cho đến nay, Tru Sa chọn thể loại truyện ngắn để  thể hiện những quan tâm và chủ kiến về con người, lịch sử, quá khứ, hiện trạng đời sống và những sự thật nằm ngoài các sự kiện và những điều có thể gọi tên. Tru Sa viết bằng suy nghiệm, dự cảm, đột phá, tự chủ, và sáng tạo. Với Tru Sa, “viết là trách nhiệm tìm tự do của mỗi cá nhân.”

 

 

Đặng Thơ Thơ: Ảo giác, hiển thị, ngộ nhận, bưng bít, sự chống lại những giới hạn, v.v… là chủ đề trong tập truyện. Những lực đối kháng ngấm ngầm chực bùng nổ để phản kháng những ảnh “ảo” và những điểm “mù” do thế hệ “ông” áp đặt lên thế hệ “cháu ngoan”. Với những truyện như thế, Tru Sa muốn đề nghị một cách nhận thức nào cho cá nhân và thái độ/chọn lựa của cá nhân trước những vấn nạn xã hội/con người hiện nay? Tru Sa nghĩ gì về tương quan giữa văn chương và chính trị, và hình thức viết nào hiệu quả nhất để thể hiện những quan điểm chính trị trong sáng tác?

Tru Sa: Ảo Giác Mù, như cái tên đã định danh, là sự mập mờ, phản lóa và không xác định. Một bệnh lý, hoặc không. Đi trong sa mạc ai cũng dễ trúng ảo giác, ốc đảo có hồ nước, cây dừa, tất nhiên đấy chỉ là sự dẫn dụ. Hết thảy ai cũng sẽ sa sầm mặt mũi trước khi bị đánh gục và thành mồi ngon cho hung thần sa mạc. Triệu chứng mù chỉ là việc tôi/hơn một tôi có thừa nhận không. José Saramago có một câu tuyệt hay “Nếu người có thể thấy, hãy nhìn. Nếu ngươi có thể nhìn, hãy quan sát.” Thấy một cái chết không chắc đã mù nhưng thấy cái chết đấy và cố quên đi, cố kiếm tìm một cục tẩy thần kỳ thì tôi đã mù nặng trong cả tưởng tượng cả giấc mơ. Trước những gì đang diễn ra, và tiếp tục kéo dài có cường độ thì mỗi người phải viết ra. Viết như lên tiếng và như phản kháng trước lúc đối đầu. Sáng tạo cũng là một kháng nghị trước những nhàm chán, phụ thuộc, ăn bám bình yên trong khi mỗi ngày là một viên gạch vào đầu. Gửi gắm, tất nhiên rồi, tôi đã gửi gắm những gì có trong mình trong một giai đoạn hãi hùng của năm vào sách (2014). Việc viết đã xong, tôi cũng hoàn thành đủ các gạch đầu dòng. Bản thảo thành sách, bây giờ tôi hết nghĩa vụ, phần còn lại chỉ ở việc nó đứng hay sẽ bị xóa xổ không dấu vết.

Văn chương và chính trị luôn song song hai con đường. Không đối đầu nhưng luôn ảnh hưởng lẫn nhau. Chính trị là nền tảng, tầng tháp cao bao gồm cả hiến pháp lẫn pháp luật. Tầm ảnh hưởng từ chính trị chi phối mọi vấn đề của xã hội, bao gồm cả văn chương. Nếu chính trị không ngay thẳng, thiếu thượng tôn, ấy là đại họa và tất nhiên chính trị lúc nào cũng mập mờ và muôn mặt. Tác nhân của việc viết mà không hiểu chính trị cũng tức là bạn chẳng biết gì về cuộc sống, mắt toét trong những suy nghĩ bé bỏng tuổi thần tiên. Chỉ chính trị, chứ không phải gì khác nhào nặn ra hướng ngoặt, biên độ cũng như trào lưu văn chương. Mọi biến động trên thế giới, trước khi vào văn chương đều là những khủng hoảng mà phần lớn chịu tác động từ chính trị. Các trước tác lớn tầm siêu đẳng dù là Thần Khúc, Faust, Chiến Tranh và Hòa Bình, Anh Em Nhà Caramadop, Bắt Trẻ Đồng Xanh, Nhà Thờ Đức Bà, Candide, Án Kiện, rồi ngay cả Tứ Đại Danh Tác của Tàu, Hịch Tướng Sỹ, Tuyên Ngôn đầu tiên của Việt Nam là Nam Quốc Sơn Hà…đều bắt nguồn từ sự đối kháng của một hoặc đại cộng đồng trước một nguy cơ bao trùm. Một triết gia người Đức viết rằng “Chính trị là khung xương của thời đại”. Bạn là nhà văn, nhà thơ ư, bạn viết gì, sáng tác gì nếu những điều đấy không hướng về con người. Còn con người, sẽ có chủ đề gì với con người ngoài sự thoái hóa, tận diệt bản gốc, và trong chu trình xuống cấp đấy chính trị giữ vai trò như một bánh răng lớn trong guồng máy xe tăng. Nhiều nhà văn muốn tách bạch, thoát ly văn chương khỏi chính trị, nhưng thực chất đấy chỉ là sự hèn nhát, chối bỏ, chạy trốn hiện thực. Aristotle nói rằng “Con người là con vật chính trị”, con người ở đây bao gồm cả con người văn chương, nếu những người cầm bút, đại diện cho tiếng nói của nhân dân mà bỏ quên, thúc thủ hoặc trói tay mình trước bạo quyền thì sức mạnh của chính trị ngày càng mạnh, như con Kraken. Chỉ chính trị mới bắt con người phải đau đớn, bắt văn chương phải cứu nhân tính bằng việc vác thập tự giá tìm sự thật. Cũng chỉ chính trị mới khiến văn chương trở nên xứng tầm và đối tầm. Mỗi người cầm bút không nhất thiết phải nghiêng trục tuyệt đối về chính trị. Kẻ cầm bút mà tham vọng chính trị, sẽ làm hỏng văn chương và trở thành công cụ, tôi mọi của chính trị. Hình thức viết ổn nhất, là sự va đập giữa người viết với chính trị. Kafka không phải nhà văn chính trị tuyệt đối như Geogre Orwell nhưng văn chương của ông luôn dày đặc trong khối khí quyển nghẹt thở của độc tài và khủng bố. Tiểu thuyết ngắn The Metamorphosis là motip về sự biến mất, bị xóa sổ nhân hình, và tất nhiên bầu không khí truyện chẳng dễ chịu gì. “Chúa Ruồi” của Golding là cáo trạng lớn về đệ nhị thế chiến. Tôi vẫn nghĩ, người viết là một cột thu lôi, quần đảo giữa sóng trùng biển khơi…Những suy nghĩ, quan điểm, tư tưởng được dốc xuống giấy một cách chân thật nhất đã là một dứt khoát giữa văn chương và chính trị. Mỗi người cầm bút không cần thiết là chính trị gia nhưng phải có tư thế độc lập trước mọi thế lực.

ĐTT:  Câu nói trên của Tru Sa, “Chỉ chính trị mới bắt con người phải đau đớn, bắt văn chương phải cứu nhân tính bằng việc vác thập tự giá tìm sự thật. Cũng chỉ chính trị mới khiến văn chương trở nên xứng tầm và đối tầm”, hàm ý chính trị trong khuynh hướng nhân bản, vì con người, và phục vụ quyền con người. Nhiều truyện của Tru Sa đề cập đến những quyền căn bản bị tước đoạt, chẳng hạn việc không được nói (“Suỵt”), không được viết/nghĩ (“Tường Sắt”), không được nhìn bằng mắt trần (“Tháo Mắt”), không được quyền là chính mình (“Người Gù”, “Kẻ Bên Ngoài”), v.v… Những nhân vật trong “Xác Ướp”, "Suỵt", “Bản Âm”, "Kẻ Bên Ngoài” hành xử vô cảm và phi nhân trong một bối cảnh dường như hiện thực. Có phải Tru Sa phản ứng với sự phi lý này bằng cách chống lại việc khoác ý nghĩa lên tác phẩm, việc quy đặt một thứ chủ đề nào đó, và vì thế chọn hình thức phản truyện (truyện ở đây được hiểu là có ý nghĩa, có thể phân tích được, mang một chủ đề, cấu thành từ các sự kiện mang tính hiện thực và có lớp lang)?

TS: Tôi không chống lại gì hết, tôi ghét sự gây chiến. Những gì tôi làm chỉ là viết, mô tả, nói đúng hơn là lọc hết máu bẩn, tế bào độc trong người mình bằng chữ nghĩa. Tôi không thích, và cực kỳ khinh thường những ai lấy việc viết để mua vui. Viết cho vui, là suy nghĩ của bọn lóc chóc chẳng có gì trong đầu và luôn rỗng tuếch suy nghĩ. Trước lúc viết, tôi đặt vấn đề. Mỗi truyện là một luận điểm, một vấn đề của tôi, hoặc của cuộc sống nơi tôi gá thân và góa bụa. Không được nói (Suỵt), không được viết (Tường Sắt), không được nhìn (Tháo Mắt, Khởi Đầu)…chỉ là những miêu tả kiệm tiếng của tôi trước đời sống. Ngay cả khi Hoa Kỳ đã gỡ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam thì vẫn có những điều luật, những cấm đoán giữa hai nước. Tất nhiên, cấm đoán là cần thiết khi không ai chắc chắn và quả quyết rằng sau cơn mưa không còn bão. Với “Xác Ướp” tôi đưa ra vấn đề về chứng bệnh “không biết đau.” còn “Người Gù” là những gạch đầu dòng nối nhau trong cách nghĩ của tôi về lịch sử. Trong cuốn “Nghe Mùi Kết Thúc” của Julian Barnes, tôi ấn tượng với câu viết “Lịch sử là tính chắc chắn được sản sinh vào thời điểm những khiếm khuyết của trí nhớ gặp những thiếu sót của tư liệu.” Mọi hành xử, quái gở, vô cảm, phi nhân hay bạo tàn cũng chẳng là gì khi con người là nguồn gốc của mọi tội lỗi. Trái Cấm dẫn trí tuệ và phá khóa, thả tự do cho những phần còn lại của Chúa Quỷ được yểm trong hai tổ tông (không phải Kinh Thánh, là tôi nghĩ.) Dostoyevsky viết rằng “Không gì quái dị bằng hiện thực.” Tưởng tượng không phải ngẫu nhiên, mọi suy nghĩ, ý thức/vô thức thù tạc trước khi thành giấy, thành một thứ phi vật chất trong giấy là kết quả của sự va chạm, tác động giữa hiện thực vào con người, qua đấy hình thành ra những chiều kích khuếch đại, phóng đại thậm chí cường đại. Những vô cảm những phi nhân hay phản đạo đức khủng khiếp với những nước Văn Minh và thường nhật với những quốc gia sểnh ra là thấy máu đổ. Cách đây ít lâu, tôi có xem một video ngắn về một người đàn bà Trung Quốc, trong lúc làm vườn thấy một tổ chim non, thế rồi bà ta cầm từng sinh mạng nhỏ ăn sống với vẻ điềm nhiên. Tôi tự hỏi người đàn bà đấy nghĩ gì khi ăn man rợ như vậy, tôi không chắc bà ta quá đói, nhưng vì lý do gì? Trước khi viết về những điều ác cảm, mỗi người viết đều đã từng, đã nếm trải hoặc tiếp tay vào điều gì đấy cũng ác cảm nhưng không nhận ra. Viết về những hành xử vô cảm, ác tính, tôi không hề cổ xúy cho những thứ này, ngược lại, tôi chống lại chúng. LevTolstoi có một câu rất hay “…Khi sự thật được nói ra, nó sẽ sống mãi.”

ĐTT: Tuy trong tập Ảo Giác Mù không có “Tàn Qua” và “Kẻ Không Nương Náu”, hai truyện này cùng với "Tường Sắt” và "Suỵt" có cùng chung một mô thức đàn áp của quá khứ và lịch sử, những nhân vật tái hồi dưới các tình huống, không khí bít kín bao trùm các truyện như nhau, và đặc biệt: tính cách "người" luôn bị thách thức đến mức đáng thương. Những truyện này có thể đọc như những “sequences“/ “episodes” của nhau trong cách chúng tiếp nối, đối thoại với nhau, hay khai triển nhau? Hoặc là những tấm gương phản chiếu và hội chiếu về một “ảo giác” và những điều này đòi hỏi người đọc nhìn chúng như một tổng thể?

TS: Có một độc giả như Đặng Thơ Thơ quả lý thú. Giấu diếm trước chị chẳng ích gì, mắt đọc của chị thiêu tất cả. Chính vậy. Tàn Qua/Suỵt và Kẻ Không Nương Náu/Tường Sắt có chung một gốc viết và là phiên bản ngược của nhau. Bốn truyện ngắn này tương phản, đối thoại và tiếp diễn lẫn nhau. Tàn Qua/Suỵt có cùng một bối cảnh trong nhà nhưng được khai triển lệch đường kính. Ở “Suỵt”, mọi nhân vật bị bó lại, “rọ mõm” còn ở “Tàn Qua” các nhân vật tự do hơn. Nếu “Sụyt” viết trong môi trường của tủ kính đóng chặt, sự ngạt thở, còn “Tàn Qua” viết trong môi trường nhiễm khuẩn, nhiễm độc của “mùi”- Một dụ ngôn của cái chết kéo dài từ quá khứ đến hiện tại. Hai phiên bản naỳ bổ nghĩa và hoàn chỉnh nhau. Nếu “Suỵt” còn mơ hồ, treo một câu hỏi về lý do suỵt, thì “Tàn Qua”phá bỏ mọi dấu câu và nhân vật có sự tìm kiếm về nguồn gốc của những gông những cùm.

Tường Sắt/Kẻ KhôngNương Náu cũng thế. Hai truyện xoay quanh việc viết. “Tường Sắt”, viết như một cuộc hành hình, sám hối khi phải vỏ bọc mình. “Kẻ Không Nương Náu” hướng vào cái viết và sự lựa chọn viết. Trong “Tường Sắt”, nhân vật người cháu không có quyền lựa chọn khi phải sống trong môi trường bạo quyền (người ông) và kẻ im lặng (người mẹ). Ở “Kẻ Không Nương Náu”, nhân vật được quyền lựa chọn và anh ta đã chọn viết cong mình. Không có ai đàn áp, chỉ chính nhân vật tự đàn áp mình nhằm thích nghi để rồi mất nương náu trong mọi mối quan hệ. “Tường Sắt”, tái hiện lại những gì từ quá khứ: Người ông đánh chó/đốt sách/kiểm soát suy nghĩ/đánh cháu/cách ly cháu. “Kẻ Không Nương Náu” là một diễn giải trong hiện tại, chối bỏ cái tên mình và lăn lóc ngoài đời, nhưng ngay cả khi khai đao danh tính, nhân vật vẫn tự nô lệ mình bởi áp lực của vật chất, tiền bạc và nhà cửa- những thứ làm mòn nhân tính nhanh hơn cả Acid.

Viết lại mình là một thất bại trong sáng tạo, và tôi luôn tránh mọi trường hợp tự lặp lại, trừ phi cần bổ sung, phát triển. Đây cũng là hạn chế của thể loại truyện ngắn, luôn phải giới hạn sự phát triển của tiến trình và chắt lọc, điều này khiến một vấn đề nhỏ nhỏ xinh xinh chứ không tận cùng. Với lý do đấy, tôi tiếp nối, truyện nối truyện và kết liễu nhau.

Trong“Tàn Qua”, có chi tiết “Nhà Vòng”, bàn thờ tổ và trong “Tường Sắt” cũng có địa chỉ này, đây là sự nối dây, chuỗi lại thành một series không đóng tập nhưng nếu đặt cạnh nhau những gì chưa hé sẽ lộ tẩy và những gì vốn lộ tẩy sẽ đứng vành móng ngựa.

ĐTT: Câu hỏi này đi ra ngoài cuốn Ảo Giác Mù, về một khuynh hướng khác của Tru Sa về những truyện nhằm mục đích bạch hóa: “Ông Địa", "Bức Tượng", "Phượng Hoàng", và "Dơi Cú" chẳng hạn. Trong dạng này, "Chim Cụt Mỏ" là một truyện hay bởi sự dung hòa vừa phải giữa ẩn dụ với một khí hậu và không gian truyện, cho phép người đọc làm chủ tiến trình tìm kiếm của chính họ. Câu hỏi là, những hình thức/kỹ thuật viết nào đáp ứng cụ thể cho những mục tiêu nào trong các truyện của Tru Sa?

TS: Viết là phá vỡ. Người viết cầm bút cũng như cầm búa và xẻng và khác với người luôn búa luôn xẻng trong tay. Những người đấy đào, đập những gì cho họ lợi tức chốc lát còn người viết dụng xẻng khai quật tận đáy tài nguyên trong người mình và dụng búa đập mọi cột yểm trong con người mình. Nhà văn Võ Thị Hảo từng nhận định về tôi rằng “Em dám đào vào những trầm tích dù biết sẽ nguy hiểm.” Tất nhiên, viết là mạo hiểm, nếu việc viết mà dễ dàng thì văn chương đã không là nghệ thuật thượng tầng của nhân loại. Về hình thức và kỹ thuật viết, mỗi người sẽ có một dụng công riêng. Những tìm tòi, luyện tập chỉ là bước đầu cho những ngón tay biết nghề trước khi có nghề. Mỗi người viết nếu không để lại dấu vân tay, sẽ zero trong mọi cuộc hành trình. Dấu vân tay của tôi là việc lựa chọn lối viết của mình. Chủ đề quyết định cách thức của bút. Với những truyện thuộc tính “âm” như “Suỵt” và “Tháo Mắt” những gì tôi làm chỉ là che giấu và luôn ngăn cản mọi hành động vén màn bóng tối. Các truyện ngắn kiểu này thường sẽ có hai cách đọc. Ở Suỵt, nếu đọc theo hướng thuần túy nghệ thuật sẽ thấy một bức tranh người nô lệ người, sự dồn nén của âm thanh khi chỉ được phép nói nhỏ sẽ tạo ra hành động không kiểm soát. Cách đọc thứ hai, tất nhiên là về tính phản kháng, lột tả mọi đối kháng vô vọng vì bị dập tắt quá nhanh cho đến khi bùng nổ thành tội ác. Độ “âm” hay tính “mù” khác ở “Suỵt” còn ở vấn đề loạn luân. Ở trang 181-184, miêu tả về cuộc hành lạc trong bóng tối. Sự vô luân này được tôi phủ mờ bằng cách che giấu đến cùng. Nếu đọc sẽ có một nghi vấn, người ông là kẻ loạn luân nhưng đối tượng nữ đã thuận mình với ông ta là ai, người mẹ hay người dì. Người dì với cái bụng chửa là một nghi vấn khác. Và chi tiết cuối, ấy là hành động vô thức hay từng có và nay bộc phát khi đứa cháu hoàn toàn biết thân thế đứa trẻ này. Tất nhiên ấy chỉ là nghi vấn và tôi chỉ làm nhiệm vụ là đặt ra và cũng mơ hồ vì truyện đã xong và tôi quên rồi. Những truyện ngắn còn lại thì tôi chỉ lột tả hiện thực, hư cấu những khoảng rỗng, thao túng và sắp đặt tình huống và chi tiết. Với những truyện “Ông Địa”, “Bức Tượng”, “Phượng Hoàng” và “Dơi Cú” như chị nhận định, là những bạch hóa. Chữ bạch hóa rất hay, liên tưởng đến một truyện ngắn rất “diệu” của Cung Tích Biền, một trong những nhà văn miền Nam tôi rất mê. “Chim Cụt Mỏ” cũng thế nhưng được viết dưới hình thức giễu nhại. Số truyện này được tôi xếp riêng trong một bản thảo viết tên “Gió Tang”. Chủ đề về giải mã và phá bỏ. Tôi là người Vô Thần và vì thế chẳng trung thành với bất cứ điều có sẵn nào, những gì tồn tại càng lâu, được xưng tụng truyền đời, càng phải được kiểm chứng, xét đoán, lật đi lật lại thậm chí xóa đi viết lại nếu cần thiết. Lịch sử viết ra con người nhưng chính con người quyết định lịch sử vì chỉ có con người mới khao khát sự thật.

ĐTT: Như vậy, cùng trong ý thức chất vấn mọi thứ, trong đó có lịch sử, truyền thống, sự thật…, những truyện "Nhà", "Và Rồi", "Hạ Màn", "Suỵt", "Náu", “Bản Âm”, "Kẻ Bên Ngoài" dựng một không gian để người đọc tự loay hoay, đi mò mẫm, thỉnh thoảng bắt chộp được đôi điều lóe sáng trong màn bụi âm u. Đây là những truyện mang tính “mù” nặng nhất. Theo tôi, đây là những truyện tự hủy chính nó, như thể mỗi dữ kiện đưa ra liền có ngay một cái bóng đi theo phủ nhận và xóa nội dung đi.  Sự tước bỏ dần, giản thiểu tối đa những dấu mốc, và sự hủy nội dung có thể tạo ra những khả thể gì?

TS: Tôi thích Raymond Carver và thích cả nguyên lý viết mô tả sự kiện, chỉ cần kể, chi tiết lọc, một mẩu ngữ cũng sẽ tạo ra một đột biến. Những truyện trên, tôi không cố hủy hoại mà chỉ khỏa lấp mọi ánh sáng. Kẻ Bên Ngoài viết theo thể horror, một nhân vật lở loét chỉ với một bên mắt và đánh mãi không chết trong khi luôn xin ăn và ai cũng cho ăn. Vấn đề đặt rằng, kẻ bên ngoài này là ai, và lý do gì luôn đeo bám người khác và ai cũng phải bố thí. Giải đáp của tôi trong truyện ngắn này: cái âm của mình. Phần bên trong của người, đối nghịch và là một bản chất hoặc chân thật hoặc phản chân thật. Những gì thuộc về bản chất không thể tiêu diệt và luôn đói. Người chú trong truyện ngắn lý do gì lại hung hăng với kẻ lở loét này? Ai cũng biết ông chú là người điền đạm, hướng phật, ông ta thực sự là người tốt hay đấy chỉ là vỏ bọc và sẽ lộ nguyên hình trong con mắt của kẻ bên ngoài? Sự treo cổ với những hạt tràng rơi vãi trong phòng người chú là một hiện trường dựng ra giữa việc chống lại hoặc không thể chống lại kẻ bên ngoài. Tôi luôn tự khiêu khích mình viết về cái bên trong, ấy là nguồn gốc của “ngã”, sự thật trong mọi sự thật bị cắt xén. Bản Âm viết về tiếng mèo trong khi chẳng có con mèo nào tồn tại. (cùng trong sequence với Bản Âm là một truyện ngắn khác, có tên So.) Cái gì đang kêu réo trong ta, và bắt ta không vô cảm với đời sống. Những âm thanh dội vang không nguồn gốc trên hết lại bắt mình phải nghĩ ngợi, xét chính mình. Lúc bé, tôi được đọc một truyện ngắn kinh dị của Pháp trong tập “Toát Mồ Hôi Lạnh” kể về một tay đầu bếp giết lợn và luôn nghe thấy tiếng lợn éc. Tiếng chồng tiếng và có mặt ở mọi vật thể sống, cả con búp bê phát tiếng. “Anh ta quay dao đâm mình, một nhát, anh éc một tiếng và hết hoàng hôn.” – Tôi nhớ mãi dòng này và mang theo câu hỏi về ý nghĩa thực sự của truyện rất nhiều năm. Ngỡ rằng mình đã quên câu chuyện kỳ quái này, cho đến khi ý tưởng Bản Âm đến thông qua tiếng gà non nở sớm ở giỏ trứng trong siêu thị. Những chú gà đòi mẹ trong xó, và cứ thế thoi thóp. Các nhân viên trắc ẩn tiếp tế nước và gạo, tôi nghĩ đấy là sự từ bi mặt nạ vì ngay khi lũ gà con tắt thở, họ điềm nhiên quên sạch khi nghĩ rằng chúng được hóa kiếp trong thùng rác. Ai cũng quên, mình tôi nhớ và như để tìm lối thoát, tôi tìm vào bàn viết và mở giấy, xổ mực.

Tôi theo đuổi một lối viết riêng, tự định danh là “truyện âm”, và chị cũng từng định nghĩa rằng “Tính cách "âm" nằm trong những điều không nói, cứ như mỗi dữ kiện đưa ra có một cái bóng đi theo phủ nhận nó, hủy nó đi… Âm cũng là sự trừ đi, bỏ, đi, để tạo những khoảng trống đa nghĩa trong truyện…Đa nghĩa đến vô nghĩa.” Cách viết này sẽ khó khăn và gây hấn, vằn vò độc giả và tất nhiên sẽ luôn phá sản về doanh thu. Nhà văn Tạ Duy Anh, sau khi đọc bản thảo của tôi đã nhận xét rằng tôi sẽ chỉ thuộc về một số ít độc giả. Nhưng mỗi người viết văn, không ai lại viết vì độc giả, đói độc giả đến mức viết không theo ý mình. Tôi chỉ viết, hiến hết mình vào viết, ai chịu làm độc giả thì tôi cảm ơn, còn không thì Sayonara.

Khả Thể, right, trước hết là sự phá vỡ khuôn khổ, độc giả quyết định những Khả Thể còn người viết chỉ ứng cử một bản nháp và đợi chờ lời tuyên bố từ thời gian. Xếp xó, trao vai hay điểm danh cái một rồi thôi…Ai mà biết, văn chương thì bao la.

ĐTT: Raymond Carver nói về các nhân vật của ông: “Tôi nghĩ phần lớn các nhân vật của tôi đều muốn hành động họ mang ý nghĩa nào đó. Nhưng ngay khi họ đạt mục tiêu – cũng như rất nhiều người khác- họ hiểu rằng không phải vậy. Điều đó chẳng nghĩa lý gì. Những thứ bạn cho là quan trọng hay đáng để hy sinh tính mạng thì bây giờ chẳng đáng một xu. Họ trở nên khó ở với chính cuộc sống của họ, đang hư rã trước mắt họ. Họ muốn chấn chỉnh mọi thứ, nhưng không thể. Thường thì họ hiểu vậy, tôi nghĩ thế, và sau đó thì họ chỉ cố làm trong khả năng của họ” *

Nhà văn Tạ Duy Anh, trong “Lời Đầu Sách” đã cho rằng những nhân vật của Ảo Giác Mù “gần như đều mang hội chứng con rối, kẻ bị sai bảo, thần kinh bất định”. Tru Sa nghĩ sao về nhận định này? Có đúng họ được chủ đích tạo dựng như “những con rối” bị sai bảo theo mệnh lệnh và định hướng của tác giả, hay họ gần với những nhân vật của Carver hơn?

TS: Nhà văn Đức Bernhard Schlink viết rằng “Tôi viết vì cùng lý do như những người đọc sách: người ta không muốn chỉ sống một cuộc đời.” Viết là sáng tạo, và mọi sáng tạo bắt đầu bằng việc phác thảo, bước đầu của hình thành sự sống bao gồm gieo hạt, viết sườn, tác tạo những tình huống, sự kiện, qua đó bày tỏ thế giới quan của mình. Tác phẩm là khuynh hướng nhìn của mỗi người viết với cuộc sống. Viết cũng như xây nhà, luôn phải bày bố, sắp đặt, thậm chí áp đặt nhưng khác với thợ làm nhà, người viết không có quyền kiểm soát nhân vật. Đúng hơn, nhân vật dù trong tình huống nào, con rối, kẻ sai bảo, người điên…cũng là một phiên bản của người viết. Tôi có thể thao túng nhân vật mình làm theo ý mình nhưng điều gì đã bắt tôi phải ngồi một chỗ và viết những điều như thế, có phải chính tôi cũng bị thế lực khác trong đầu mình thao túng? Viết một thứ, không nghĩa là khăng khăng kiểm soát từ đầu đến cuối, chúng ta phải tìm được vị trí để lần dây, một số truyện tôi rất muốn viết những cái kết hậu, loại bỏ cực bi quan để tìm lạc quan nhưng không được. Người viết, ở đây là tôi giữ vai trò đặt ra những vấn đề, cố khai triển nó và bỏ lửng phần kết hoặc một phân đoạn ngẫu nhiên trong truyện. Mỗi sự “lửng” đấy, nhân vật sẽ có thế đứng hơn người viết, nghĩa là tôi không còn toàn quyền với nhân vật của mình, vd: truyện ngắn “Popular Mechanics” của Carver viết theo tích cổ của Nhật Bản hay chuyện phán xử của vua Solomon trong Kinh Thánh (hai người mẹ tranh nhau đứa con theo lời quan tòa, mỗi người cầm một bên tay con và kéo, người mẹ ruột sẽ bỏ tay khi thấy con đau). Trong truyện “Popular Mechanics” hai vợ chồng ly hôn và giành đứa con về tay mình, phần cuối truyện viết “Và vấn đề được định đoạt theo cách ấy”- Chưa ai thắng thế đứa con nhưng khi đặt dòng viết này, Caver đã mất kiểm soát với các nhân vật, diễn biến tiếp theo thuộc về nhân vật hoặc người đọc các nhân vật-những độc giả. Tôi từng xem một bộ phim viễn tưởng của Mỹ về cá sấu khổng lồ, phần cuối phim sau khi những người dân bản địa dành chiến thắng, phim chiếu một quãng ngắn những bọt bong bóng sủi tăm rồi ngay tức một con mắt cá sấu mở to. Điều gì sẽ diễn tiếp, sủi tăm dưới đầm lầy chỉ là hiện tượng bình thường lúc cá động hay còn một thế hệ cá sấu khổng lồ sẽ viết tiếp một phim chiến đấu?

Một vd khác, trong truyện ngắn “Medusa”, tôi đặt dòng cuối truyện “Bây giờ, tôi kể câu truyện của mình/Pegasus…” – Tổng thể truyện, tôi viết các giả thiết giữa Perseus và Medusa. Quá trình này, tôi chi phối được mọi diễn biến nhưng phần cuối truyện, khi bỏ lửng như thế, tôi đã mất đi quyền năng của mình với các nhân vật. Từ vị trí nhân vật nói sẽ kể câu chuyện của mình, và đấy là về Pegasus chứ không phải Medusa hay Perseus, tự thân nhân vật đã có quyền riêng của mình. Tôi không biết nhân vật sẽ kể gì sau đấy, không ai biết cả nhưng vẫn có thể mường tượng. Sự trói buộc giữa tôi với nhân vật chỉ là quyền tác giả và móc nối giữa Pegasus với các nhân vật trong truyện. Người viết, theo ý kiến của tôi chỉ giữ vai trò bày bố, nặn những nhân vật rồi ném họ vào những cái trap mà từ đó tính cách/nhân tính nhân vật sẽ rõ ràng hơn. Tôi không thích câu: viết cho ai/viết để làm gì. Bởi viết, không phải để phục vụ một cá nhân, tổ chức nào bao gồm cả chính mình, còn vế thứ hai, viết để làm gì, đã đẩy mọi người viết vào con đường tham vọng, ồ, anh viết vì gì, để đăng báo, để in sách, để có danh có tiếng hay chỉ cho vui? Với tôi, viết là trách nhiệm tìm tự do của mỗi cá nhân. Mọi sắp đặt, không nghĩa lý gì nếu người viết thiếu lý tưởng, không viết để cất lên một tiếng/một cống hiến vào xã hội. Phần lớn người viết trong nước hiện nay chẳng sáng tạo gì mà chỉ cố mua danh hão huyền bằng những viện cớ rằng, viết vì nghệ thuật trong khi đọc hết họ chẳng thấy một giọt nghệ thuật nào cao hơn chén hạt mít. Nguyễn Huy Thiệp là một cây truyện ngắn được nhưng không phải nhà văn chuyên nghiệp, tương tự Bảo Ninh cũng thế, hai nhà văn này dẫu có đóng góp chừng mực với văn nghệ trong nước nhưng trong sáng tác hai người vẫn thiếu, vẫn hụt. Không ai với được đến thượng tầng văn chương, tức là tư tưởng. Không một nhà văn nào trên thế giới có thể đứng cao với thời gian nếu họ không, bằng cách nào đấy, hết sức mình dám viết về tự do. Trong truyện ngắn “cha tôi, tôi và con trai”, nhà văn Tạ Duy Anh đòi tự do bằng cách xóa sổ quá khứ đen (hình ảnh căn phòng truyền thống nhiều đời nhưng đấy chỉ là nơi chuột sinh sôi, chi tiết cái hũ cổ gia truyền chỉ là cái hũ đựng mắm tép tầm thường. Lịch sử luôn kỳ lạ, có thể biến những vật vô tri trở thành huyền thoại và ngược lại.) “Đợi Bọn Mọi” của J.M. Coetzee viết về phân biệt chủng tộc, qua đấy lên tiếng về sự bình đẳng màu da. “Thư gửi đứa trẻ chưa từng sinh ra” của Oriana Fallaci viết về bình đẳng giới khi đưa ra những luận ngôn “…Trong các bức tranh nhà thờ, Chúa là một ông già có râu, chứ không bao giờ là một bà già tóc trắng, và tất cả mọi anh hùng đều là đàn ông…” rồi thì “…nếu Chúa tồn tại thì Người thậm chí có thể là một bà già tóc trắng hoặc một cô gái đẹp…” Chekhov thì cho rằng “Tại sao khi một người đàn ông đứng lên chống bạo quyền, ta gọi là anh hùng còn người đàn bà làm chuyện đó sẽ bị truy bức rằng ả ta không ngoan ngoãn và đang nổi loạn…” Trong một giờ giảng ngày Chúa Nhật, linh mục Gioan Nam Phong kể một câu chuyện “trong một trận bóng, Chúa Jesu phải lựa chọn giữa hai đội Công Giáo với Tin Lành. Chúa Jesu bảo rằng “ta không ủng hộ Công Giáo cũng không ủng hộ Tin Lành, ta ủng hộ Con Người. Đừng tin ta nhưng qua ta hãy tin Con Người.” Jean Jacques Rousseau cho rằng nô lệ là căn tính của con người, khi một cá nhân phụ thuộc vào người khác, dù đồng lương hay gì đấy mình không có tức là đã tự vứt bỏ tự do một phần và trao quyền lực cho người khác để từ đấy họ cai trị mình như một ông chủ (xin diễn xuôi vì tôi không nhớ nguyên văn, nhưng đại ý là thế).

Viết là tự do, được viết theo nhiệt huyết và không nhân nhượng là được tự do, được hết mình cả máu, hơi thở cùng mạng sống là có tự do. Chỉ một do dự, cân nhắc, lùi một bước bạn sẽ nô lệ hóa mình trong trại tù không ai gác, khi ấy bản thảo của bạn chỉ là giấy lộn.

ĐTT: “Bảy Tầng Tháp” và “Xe Ngựa” là hai truyện khác biệt hẳn những truyện khác ở chỗ chúng chứa một thứ “niềm tin” xác thật dù các nhân vật, sự kiện, hiện tượng thuộc về một thế giới ảo. Đây là dự cảm của Tru Sa về hành trình và giải pháp của dân tộc trên đường về “Minh Quốc”, con đường mà “từ lâu chúng ta đã lạc khỏi bản đồ”?

TS: Tôi sinh từ một cuộc rặn thịt rặn máu từ mẹ mình và lớn lên bằng những tưởng tượng. Giấc mơ, tôi chưa từng nghĩ mình sẽ oai vệ trong danh phận nào. Tưởng tượng, ấy là chốn sống của tôi. Đấy là sự cần thiết như hơi thở, là máu truyền nuôi tim và theo tôi tự do là được thỏa thích tưởng tượng/ suy tưởng. Quyền, khi mọi thứ Quyền cơ bản nhất luôn bị phủ nhận luôn bị vô hiệu hóa thì tưởng tượng là thứ Quyền còn lại và thuộc sở hữu nhất của mỗi người. Không ai đoạt nổi thứ Quyền này từ người khác trừ chính bản thân người đấy, khi đã để nỗi sợ hãi bốc mả cả trái tim.

Viết chỉ bằng tưởng tượng dù hay cũng chỉ là giấc mơ trẻ con. Vấn đề là tưởng tượng. Ở hai truyện ngắn này, tôi cố làm một hành trình, càng đi càng lạc. “Xe Ngựa” viết về sự lạc đường, “Bảy Tầng Tháp” là những chủ đề nối nhau thông qua hình thức các truyện ngắn, cực ngắn. Mệnh đề và chỉ là mệnh đề. Người đọc là người giải chứ không phải người viết.

Con đường của dân tộc mình, ôi, tôi thậm chí còn chẳng biết dân tộc mình đi trên con đường nào ngoài những cuộc chiến tranh. Một dân tộc quá nhỏ lại ở cạnh một đất nước quá tham vọng, nếu không bị nuốt chửng sẽ vất vả trong việc tiến hóa. Lịch sử Việt Nam luôn là hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, thời kỳ phát triển nếu không ngắn thì luôn hạn chế. Người Việt Nam thì hiên ngang, thông minh nhưng lại thiếu nền tảng và không cấp tiến do hậu quả lớn từ chính sách đồng hóa của Tàu. Một đất nước thiếu tự do thì không có Văn Minh. Trung Quốc là một nước độc tài, độc quyền cả nhân quyền. Việt Nam từng có cơ hội, từng có lối thoát nhưng vuột rồi và thế hệ sau phải trả giá cho những gì thế hệ trước đã sai/làm. Cái giá này quá đắt. Con đường cho dân tộc luôn là một thử thách lớn và tôi không phải chuyên gia chiến lược, bài toán này bỏ lửng ô trống, tiến thoái của một dân tộc đâu quyết định bằng chỉ một cá nhân, ngay cả khi Việt Nam đã từng/có những cá nhân kiệt xuất như hai cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…

ĐTT: Cá nhân Tru Sa là tác giả của Ảo Giác Mù và cũng là kết tinh/hóa thạch của những ảo giác ấy, trong nghĩa quá trình viết Ảo Giác Mù sáng tạo nên một Tru Sa ngày nay, và đoạn tuyệt với Nguyễn Thanh Phong-tác giả Hóa Trang?

TS: Mỗi người viết luôn chọn cho mình cách tái sinh hoặc vai trò tồn tại bằng trang viết, trong đấy bút danh là một mật mã vào cổng. Khước từ cái này, đến với cái kia không giống như việc cả thèm chóng chán, ngay cả việc chết cũng thế. Chết không nghĩa là chấm dứt, cái chết chỉ là sự kết liễu một giai đoạn để mở ra một giai đoạn biết chắc rằng rồi sẽ phải tiêu biến khi hết vai trò. Tru Sa không phải là một kết tinh từ Ảo Giác Mù, không phải kết tinh trong xứ viết của tôi và càng không phải hóa thân từ tôi, ngược lại, tôi là “Fetus” (bào thai) của cái tên này. Bút danh này không do tôi chọn, nhiều lúc chính nó chọn tôi hoặc tôi đã mạo nhận là chủ nhân. Sự ra đời của cái tên này bắt đầu từ biến cố tâm lý lớn quá mức tưởng tượng giáng xuống cuộc đời tôi vào những năm còn là sinh viên. Trong vũng lầy quỷ ám, cái tên này nảy mầm và vươn chồi. Ấy là một sợi dây gai thép sắc nhưng vẫn là một sợi dây khả dĩ giúp tôi leo khỏi Tartarus. Đoạn tuyệt với Nguyễn Thanh Phong, hay cách nói khác, hóa tang cho cái tên này bởi vốn nhân vật này trong tôi xuống mộ đã từ lâu. Tôi không cho rằng đấy là một cách chối bỏ mình như việc ngao ngán/sợ hãi mặt thịt và cố bảo vệ/che giấu mình bằng cách vẽ mặt chồng mặt. Trong mỗi con quỷ là một thiên thần và trong mỗi thiên thần là một tiểu quỷ. Nhiều người mất hết cuộc đời để tìm kiếm mặt thật của người khác nhưng chỉ lục ra vạn vạn những mặt nạ da người trong khi đấy mặt mình cũng đã trắng sương tự bao giờ. Cái tên là hạt giống của nhân vật và mỗi nhân vật là một thí nghiệm của người viết với cuộc đời. Hỏi tôi về nguồn gốc của Tru Sa tương tự như hỏi “tôi là ai trong chín mươi triệu người Việt”. Tất nhiên cái tên chỉ là một cách goi, vấn đề gọi thế nào, đáng hay không đáng gọi một cái tên.

ĐTT: Một số truyện vắng mặt trong tập Ảo Giác Mù, chẳng hạn “Nhà”, “Con Ngõ Vắng”, “Tàn Qua”, “Kẻ Không Nương Náu”, v.v…  đều là những truyện đặc sắc. Sự vắng mặt này có lý do gì?

TS: Tôi không thường gom truyện lẻ tẻ, đóng tập rồi tìm một cái tên. Ngược lại, tôi viết sẵn một danh mục với cái tên được đặt trước, sau đấy thì hoàn thành từng truyện một cho đến khi thành bản thảo. “Ảo Giác Mù” là món khai vị đầu tiên và chẳng quá nhạt nhẽo, dù các truyện tôi viết nghiêm túc nhưng vẫn nhẹ tay và nương tay. Bây giờ, tôi viết những đầu sách khác, đòi hỏi và trách nhiệm hơn. Viết, với tôi không bao giờ là tiến thân, không bao giờ vì kim tiền, không bao giờ để có ghế trong hội nhà văn. Viết, đấy là con đường tranh đấu duy nhất và hiệu quả nhất để tránh sự hóa thân thành đà điểu rúc cát. “Đừng Sợ hãi” – nhà văn Võ Thị Hảo đã trao tôi chữ này và đấy cũng là nguyên lý viết của tôi, giết cái sợ.

Cảm ơn Da Màu với cuộc nói chuyện lý thú này, cảm ơn nhà văn Đặng Thơ Thơ, biên tập viên cao tay ấn, biết “đọc”, tôn trọng “chủ quyền” và khá keo kiệt trong lời khen. Với Đặng Thơ Thơ, hoặc tôi phải trèo lên, hoặc ngã lộn cổ và bị xóa sổ dưới thung lũng sương mù.

ĐTT: Cám ơn Tru Sa. Mong sớm được đọc những tác phẩm khác của Tru Sa.

*

Raymond Carver trả lời trên the Paris Review số 88 năm 1983, trong phỏng vấn do Mona Simpson và Lewis Buzbee thực hiện:

I think most of my characters would like their actions to count for something. But at the same time they’ve reached the point—as so many people do—that they know it isn’t so. It doesn’t add up any longer. The things you once thought important or even worth dying for aren’t worth a nickel now. It’s their lives they’ve become uncomfortable with, lives they see breaking down. They’d like to set things right, but they can’t. And usually they do know it, I think, and after that they just do the best they can.”

bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ


2 bình luận »

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    “Viết, đấy là con đường tranh đấu duy nhất và hiệu quả nhất để tránh sự hóa thân thành đà điểu rúc cát” – Tru Sa

    Xưa nay tôi chỉ nghĩ là mình viết để lôi những ý nghĩ nằm lộn xộn trong đầu ra sắp xếp lại cho ngăn nắp hơn. Bây giờ đọc câu trên mới sực thấy là viết cũng để cố giữ cái đầu mình khỏi rúc vào cát.

    Mai sau khi nào có dịp xin phép mượn câu nầy để sử dụng. (Xin hứa sẽ ghi chú tên tác giả :) )

  • Lưu Thuỷ Hương viết:

    Những lời tâm sự thật cảm động! Tôi nghe ngọn gió tự do vừa thổi qua văn đàn, lòng thấy xôn xao.
    Cảm ơn hai bạn.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch