Trang chính » Bàn Tròn: Tôn Giáo & Chính Trị, Biên Khảo, Đàn Ông, Nhận Định, Phụ Nữ & Giới Tính Email bài này

Góp Ý về Bài Giáo Hội Chuyển Mùa: Tính Dục và Ngừa Thai trong Giáo Hội Công Giáo (Phần II)

0 bình luận ♦ 19.05.2016

 

BirthControl

Phần hai:

Những ưu và khuyết điểm của Phương Pháp Tự Nhiên NFP, và Nhân Tạo ABC

Những người ủng hộ cho Phương Pháp Nhân Tạo ABC lập luận rằng, NFP rất khó thực hiện, mức hiệu quả thấp, và vì rất khó thuyết phục các ông chồng, tạo thêm căng thẳng trong hôn nhân. Những người ở các nước kém phát triển, vì môi trường sinh hoạt, kiến thức, những dụng cụ cần thiết, thiếu sự huấn luyện… phương pháp thường gặp nhiều trở ngại.

Người ủng hộ ABC còn cho rằng GHCG cấm ABC là vì lý do chính trị. Vì muốn duy trì một khung cảnh gia đình truyền thống, nơi người vợ giữ vai trò thứ yếu nhưng là nền tảng của gia đình mà chồng làm chủ. GHCG bị kết án là cầm chân người phụ nữ bằng những bổn phận làm mẹ. Vì phải chu toàn đòi hỏi của con nhỏ, của chồng trong gia đình, họ thường không còn cơ hội để tiến thân và vì thế an phận là một người nội trợ. Tính thiếu chính xác của NFP còn gián tiếp đẩy người phụ nữ mang thai hết đợt này, qua đợt khác, cuộc đời của người phụ nữ trở nên bế tắc trong khuôn khổ gia đình.

Ngược lại, GHCG cho rằng Phương Pháp Nhân Tạo ABC dễ bị người ta lạm dụng. Giá trị đạo đức của giới trẻ sẽ suy đồi. Khi việc ngừa thai quá dễ dàng, con người coi thường ý nghĩa cao cả sự phối hợp gần gũi nam nữ. Thái độ coi thường, dễ dẫn tới nhiều tai nạn rủi ro mang thai ngoài ý muốn, ngoài hôn nhân. Thêm nữa nếu người vợ có cơ hội ra ngoài làm việc, họ bỏ bê con cái, làm hủy hoại hình ảnh một gia đình hạnh phúc. Khi không còn phải mang thai nhiều, khả năng bẩm sinh của thiên chức làm mẹ cũng mai một: người phụ nữ không còn bao dung với trẻ em. Người đa nghi ít nhiều còn có đồ đoán rằng khi ra ngoài làm việc, môi trường giao thiệp rộng, người phụ nữ dễ tiếp xúc quen người khác, cơ hội ngoại tình sẽ cao hơn.

Quan trọng hơn hết là trong khuôn khổ gia đình, khi việc ngừa thai trở nên có sẵn, người chồng dễ dàng coi vợ như một công cụ để thỏa mãn nhu cầu nhục dục cho riêng mình, giá trị tinh thần, sự tôn trọng yêu thương người vợ không còn, hoặc giảm đi. Rộng hơn, nếu chính quyền dân sự lợi dụng ngừa thai ABC và áp đặt lên mọi người, xã hội dễ bị băng hoại, giá trị và nhân phẩm con người bị hạ thấp, việc sinh sản con cái sẽ như đơn đặt hàng để phục vụ nhu cầu dân số tăng giảm khi cần thiết.

Nhận định khách quan

Mỗi bên đều có sự đánh giá riêng của phía mình, nhưng có những vấn đề cần được xác định một cách khách quan.

Bên bênh ngừa thai NFP đưa ra số liệu thống kê cho rằng khi vợ chồng sử dụng NFP tỉ lệ ly dị thấp hơn so với ABC. Khi xét lại, liệu NFP là yếu tố bảo vệ hôn nhân, hay chỉ là thành quả; vì một khi hai vợ chồng có thể đồng thuận áp dụng NFP, sự hài hòa tốt đẹp và yêu thương trong hôn nhân có thể đã tồn tại sẵn.

Khi người vợ ra ngoài làm việc, không phải vì họ có tự do nên ngoại tình, nhưng vì sự độc lập về tài chánh. Tư duy, kiến thức người phụ nữ nhờ giao thiệp, làm việc mà được nâng cao, họ biết đâu là yếu tố tích cực của hôn nhân, họ trở nên mạnh dạn chống đối chồng khi không được đối xử hợp lý. Vì người vợ không còn bị ràng buộc bởi miếng cơm manh áo, tự họ có thể một mình lo cho phúc lợi của con cái (cộng thêm sự hỗ trợ của xã hội văn minh) người chồng cảm thấy mình không còn điều khiển được vợ, tâm lý làm chủ của gia đình bị lung lay và rồi dẫn đến xô sát đổ vỡ. Đổ vỡ là vì chính hôn nhân đã sẵn thiếu yêu thương.

Cần nói thêm lý do nào khiến người vợ ra ngoài làm việc.

Trong quá khứ, khi dân số chưa quá đông, tài nguyên thiên nhiên của đất nước còn nhiều, hệ thống an sinh xã hội còn rộng rãi hỗ trợ cho người dân, thêm vào nhu cầu xã hội thời trước cũng ít đua đòi hơn bây giờ. Với mức lương căn bản của một người chồng đi làm, gia đình nhiều con vẫn có được cuộc sống không đến nỗi túng thiếu. Xã hội càng văn minh, nhu cầu vật chất càng cao, kèm theo lại là sự gia tăng dân số làm cạn kiệt nguồn an sinh tài trợ cho gia đình. Dù muốn dù không, người vợ trong hoàn cảnh khó khăn – nhất là sau khi số con cái tăng làm ngân sách gia đình chật vật, phải hy sinh ra ngoài xã hội kiếm thêm đồng lương thứ hai; cần nhắc lại đây chính là hậu quả của sự khuyến khich gia tăng dân số, hoặc không ngừa thai hữu hiệu. Nếu quay lại để trách người vợ sao ra ngoài làm việc bỏ bê con cái thì quả là hơi bất công (!)

Nhìn vào điều luật 1013 của Bộ Luật 1917, khi xã hội chưa được văn minh, hôn nhân số lớn là được sắp đặt bởi gia đình, hoàn cảnh xã hội đi lại khó khăn, nam nữ ít có cơ hội tiếp xúc trước khi kết hôn nên chính luật 1013 cũng không đặt nặng yêu thương vợ chồng lên yếu tố hàng đầu, nhưng ly dị ở mức thấp, vì sao? Câu trả lời có thể là: vì con cái gắn bó nên khó ly dị; vì không có điều kiện để dứt bỏ hôn nhân nên cố gắng hàn gắn. Chính nỗ lực cố gắng đã giúp vợ chồng bước qua đổ vỡ, chưa chắc vì yêu thương nhưng vì hy sinh nhường nhịn chấp nhận nhau.

Điều luật 1055 của Bộ Luật 1983 đặt thiện ích của đôi bạn trong hôn nhân lên thứ tự ưu tiên – trước sinh sản và nuôi dạy con cái. Theo cách dịch của LM Bùi Đức Tiến, nếu hoán đổi "thiện ích đôi bạn" trong Bộ Luật 1983, với 1917, "thiện ích đôi bạn" sẽ biến thành một lối diễn giải sát nghĩa hơn: "giao hòa ham muốn xác thịt". Nhiều người bảo thủ đã cho rằng sự thay đổi trong Bộ Luật như vậy là sai. Khi yếu tố xác thịt được đưa lên trước, con cái chỉ là sản phẩm phụ, vậy khi xác thịt không còn mặn nồng, con cái lại không có, hoặc ít con, thì hôn nhân khó bền vững. Người cấp tiến lại cho rằng sự thay đổi đó là "hợp thời".

Xin quay trở lại với chữ "hợp thời". Ít nhiều có thể thấy được GHCG đã thay đổi theo thời gian; gọi là "theo thời", "nhất thời", "hợp thời" hay "đúng thời" tùy vào quan điểm của mỗi người. Đứng vào vị trí của một người lãnh đạo – tôn giáo, xã hội chính trị, tinh thần…, người lãnh đạo có khuynh hướng muốn đạt tới một vị trí tốt đẹp cho những người phía sau (xin loại trừ những chính quyền, tôn giáo thối nát ở đây), tiếng Anh gọi là "aim high". Nếu người lãnh đạo đặt tiêu chuẩn vươn tới thấp, có lẽ sẽ không ai có thể "vươn lên cao".

Khi các nhà thần học, luân lý học, xã hội học, các giám mục, linh mục, và người phàm trần….tranh luận về lợi hại của các phương pháp ngừa thai NFP và ABC, người bênh vực ABC lúc nào cũng có tính thuyết phục hơn, và dễ dàng được sự đồng thuận chấp nhận đối với đa số dân chúng; có vẻ "hợp thời" hơn. Tại sao? một câu hỏi nhiều người đang tìm kiếm câu trả lời. Người viết xin mạo muội đưa ra giả thuyết của mình.

Chúng ta đang sống trong "thời đại của sự tiện nghi", mọi thứ được chế tạo đều nhắm tới sự tiện nghi cho con người.

Từ những món hàng nấu sẵn ngoài chợ, đơn giản nhất như gói mì ăn liền, đồ ăn đóng hộp, rồi đến các tiệm bán "đồ ăn nhanh – fast foods"….Thức ăn chưa chắc là tốt, thiếu chất dinh dưỡng, có thể có chất bảo quản độc hại nhưng chúng ta vẫn mua ăn. Vì "tiện", vì không có thời gian, vì muốn tiết kiệm thời gian. Từ từ chúng ta quên mất cách nấu ăn… Chúng ta đánh đổi: sự "tiện nghi" thay cho "bổ dưỡng", "tiện" thay cho chất lượng, "tiện" để tiết kiệm thời gian.

Những chiếc xe hơi nhanh đẹp ra đời, mọi người đi lại dễ dàng: "tiện". Một lúc nào đó vì thiếu hoạt động, cơ thể trở nên béo phì dẫn đến các bệnh liên hệ. Chúng ta vẫn chuộng cái "tiện". Chúng ta muốn đến thẳng cái đích trong ít phút hơn là từ từ tham quan đường phố ngắm cảnh, nghe tiếng gió lùa, chim hót, hoa thơm…

Còn rất nhiều thí dụ, nhưng xin giới hạn tới một cái "tiện" cuối cùng: thiết bị điện tử thông minh (smart phone, tablets…). Mọi dữ kiện có sẵn trên tay, chỉ cần bấm vài cái tất cả hiện ra. Dần dần một bài tính đơn giản cũng cần máy tính, một từ đơn giản quên cách đánh vần, một số điện thoại cũng không thể nhớ… trí thông minh, trí nhớ dần dần kém đi. Điều tệ nhất mà mọi người phải công nhận là khả năng giao tiếp, đối thoại giữa con người với con người cũng đang trên đà mai một. Hình ảnh những người ngồi trong bàn ăn liên lạc với nhau qua thiết bị máy, hơn là trực tiếp đối thoại ngày càng nhiều. Chúng ta đang đánh đổi cái "tiện" với những bản năng căn bản của xã hội loài người "khả năng đối thoại, giao tiếp".

Chúng ta coi cái "tiện" là cần thiết. Đến khi gần gũi nam nữ, chúng ta cũng thích "tiện", nhảy ào vào "điểm đến" mà quên đi ý nghĩa tốt đẹp của sự gần gũi. Chúng ta không còn ưu tư về cơ thể của người nữ vì lúc nào cũng có những phương "tiện" để đối phó, chúng ta không cần nói chuyện bàn thảo, đắn đo, thỏa thuận để có nên gần gũi nhau, từ từ khả năng nói lên sự quan tâm giữa vợ chồng bị giảm dần.

Khi chúng ta có thể bày tỏ những khó khăn của chính bản thân, và thuyết phục được người phối ngẫu chấp nhận chúng ta, tự nhiên chúng ta cảm thấy tự tin hơn vì được tôn trọng, được lắng nghe, chúng ta sẽ cảm thấy gắn bó nhau hơn. Dẫu biết thế nhưng chúng ta vẫn muốn "tiện" vì không có thời gian.

Trong phòng the nếu chúng ta chỉ biết "giải nhiệt", "giải dục" (have sex), mà không biết "tạo tình" (make love), thì làm sao "tạo" được gắn bó, "tạo" được yêu thương.

Hơn nữa, khi sử dụng NFP, chúng ta phải học kiên nhẫn, phải tự chủ, tiết chế chính mình mà không để nhục dục điều khiển; sự ham muốn xác thịt không thể chi phối cuộc sống.

Nếu phải chọn lựa một "món ăn nhanh" với một buổi đi ăn tối ngoài nhà hàng sang trọng, chúng ta thích một buổi đi ăn tối ngoài. Chúng ta tới đó để thưởng thức không gian, thời gian: lãng mạn, ấm cúng, trò chuyện và thưởng thức những món ăn ngon, bổ dưỡng cho thân xác và tinh thần. Trong thí dụ này chúng ta sẵn sàng bỏ cái "tiện", bỏ "tiền" ra để được hưởng thụ cái "đẹp".

Trong phòng the, "tiền" không thể mua những giây phút đẹp đó, nhưng là "thời gian". Thời gian: một yếu tổ chúng ta không thể tạo thêm, nhưng chúng ta có thể làm chủ. Tại sao chúng ta không bắt "thời gian" phục vụ chính mình, nhưng ngược lại, chúng ta chọn làm nô lệ cho "thời gian". Chúng ta nên làm chủ thời gian và coi đó là một điều "tự nhiên", cộng thêm tự tiết chế, chúng ta có thể làm chủ được chính mình một cách "tự nhiên"; có lẽ đây là "yếu tố tự nhiên" mà GHCG muốn mọi người áp dụng trong phương pháp ngừa thai tự nhiên NFP.

Khi chúng ta làm chủ thời gian trên "chuyến du thuyền đời sống hôn nhân", chúng ta có thể ngắm cảnh, ngắm không gian, nghe tiếng sóng vỗ, thưởng thức từng phút giây của cuộc đời. Chắc chắn như vậy tốt hơn rất nhiều so với kiểu đi du lịch chạy ào tới đích cảnh trí, chụp vội vài tấm hình "tự sướng" (selfie), rồi lên xe vội vã đi tiếp mà không biết "nét đẹp của chính nơi chúng ta vừa tới"…

Ngừa thai tự nhiên NFP có điểm tích cực như vừa nêu, cũng có những điểm tiêu cực.

NFP có lẽ dựa trên căn bản những cặp vợ chồng Công Giáo là những cặp tương đối hoàn hảo. Họ có: đời sống tinh thần tốt, thể lực, khả năng sinh lý cũng thuộc loại khỏe mạnh, không mang bệnh tật, hoặc không có khuyết điểm gì trong đời sống sinh học, vợ chồng yêu thương hạnh phúc với nhau và không quá vất vả với miếng ăn, manh áo, nhà ở….

Người chồng nếu khỏe mạnh, có thể đi làm nuôi cho vợ ở nhà coi sóc gia đình. Sau khi đi làm về biết chăm sóc vợ, phụ vợ việc nhà, lo lắng yêu thương đùm bọc vợ. Biết lắng nghe thông cảm cho vợ lúc ốm đau, cho mỗi tháng phải khổ sở với chu kỳ sinh học, biết vui đùa lãng mạn, trò chuyện vui vẻ, chia sẻ nhọc nhằn hằng ngày… để rồi trong phòng the, vợ chồng có thể hiểu nhau, cùng lo lắng cho tương lai gia đình, cho những đứa con nên hoặc không nên có… thì NFP rất dễ thực hiện.

Trên thực tế có mấy người chồng được như vậy?, nhiều người rơi vào hai thái cực. Quá bận rộn với việc riêng của họ mà quên mất gia đình: việc làm ở sở, cơ quan thương mại, mê thể thao, chơi stock, theo dõi chính trị, đoàn thể, đôi khi việc tông đồ thái quá mất quân bình…; hay ngược lại với thái độ trên: đàn đúm bạn bè nhậu nhẹt, chỉ lo hưởng thụ cho riêng mình, đi làm về coi mình đã lo tròn nhiệm vụ với gia đình bắt vợ con phục vụ, riêng mình ngồi đọc báo, xem ti vi, game…, hoặc tệ hơn như say xỉn, thô lỗ gắt gỏng, đánh đập vợ con khi không hài lòng, lăng nhăng ngoại tình… Những người này khi họ cần giải quyết nhu cầu nhục dục, liệu họ có lắng nghe vợ giải bày: vợ đang không được "an toàn", nhà quá đông con, vợ quá mệt, tài chánh eo hẹp… không thể có thêm con. Nếu vợ không chiều họ ngay lập tức, nhẹ: có thể họ sẽ hù dọa tỏ ra bất bình, nặng: có thể sử dụng vũ lực, đánh đập, hiếp đáp… Có người còn viện dẫn Kinh Thánh đòi vợ phải giải quyết cho họ; họ thường viện dẫn đoạn Kinh Thánh Thư Thứ Nhất của Thánh Paul gửi tín hữu Thành Cô-rin-tô: 7.2 đến 7.5, và vô tình hay cố ý quên mất đoạn 7.6 (sẽ bàn thêm). Sức mạnh đàn ông đè xuống, sức nặng lời Kinh Thánh làm hoang mang, tấm thân phụ nữ đau đớn vì thể xác bất an… NFP không thể nào áp dụng được trong những trường hợp này.

effectiveness_of_contraceptive_methods

Phương Pháp Tự Nhiên NFP bị coi là ít hiệu nghiệm nhất

Đời sống vật chất đôi lúc quá vất vả vì nhà nghèo, đông con … không những chồng phải đi làm, vợ cũng phải bươn chải đi làm phụ thêm tài chánh cho gia đình. Vì phải có người đưa đón con, lo cho con lúc con đi học về: chồng làm ca đêm, vợ làm ca ngày hay ngược lại, vợ chồng như mặt trăng mặt trời, họa huần mới có ngày được nằm bên nhau trò chuyện đôi câu trước khi chợp mắt nghỉ ngơi ít giờ. Nghỉ ngơi chưa tròn giấc lại lo đến những nhọc nhằn vất vả đang chờ; phải đang lúc không "an toàn", cái gì là gắn bó vợ chồng?

Chính cơ thể người nữ cũng là một cấu trúc phức tạp. Không phải người nào cũng có một chu kỳ chính xác. Rồi đau yếu bệnh tật, căng thẳng cuộc sống, vất vả với công việc con cái, lo lắng tương lai…, nhiều khi họ chỉ muốn chiều chồng để giữ chồng khỏi lăng nhăng, để êm ấm gia đình, họ chỉ muốn nhanh cho xong để còn lo việc đang làm, chứ không hề cảm thấy hứng thú (đôi lúc chồng rề rà còn làm họ bực mình thêm…), thử hỏi NFP có thích hợp không?

NFP dựa trên yếu tố "tự nhiên", chu kỳ kinh nguyệt là "tự nhiên" và như vậy mọi yếu tố sinh học "tế nhị" trong mỗi chu kỳ cũng là "tự nhiên"(?). Dẫu con người hơn hẳn con vật về mặt lý trí, nhưng cơ thể sinh học cũng chịu ảnh hưởng những yếu tố di truyền sinh học y như con vật (mà con người khó cưỡng lại nếu không sử dụng lý trí). Vì "tạo hóa" muốn bảo đảm sự sinh tồn di truyền của nòi giống, nên mỗi khi "yếu tố nữ" xuất hiện (rụng trứng), cơ thể người nữ cần, "khao khát" được gần gũi "yếu tố nam". Theo NFP, giai đoạn này phải kiêng, phải đè nén "bản năng sinh tồn của một sinh vật" xuống, vì chỉ trước và sau giai đoạn này mới được "an toàn". Khi khao khát thì không được, khi hững hờ thì bị bắt buộc phải chiều chồng, thử hỏi như vậy có bất công cho người vợ? Cơ thể người chồng không bị tác động mỗi tháng, suy ra NFP chỉ thích hợp với người chồng, nhưng chồng đâu phải mang nặng đẻ đau!

Xin bàn đến đoạn Kinh Thánh 1 Cô-rin-tô 7.1 đến 7.7: Thư Thứ Nhất của Thánh Paul gửi Tín Hữu thành Cô-rin-tô bàn về hôn nhân.

Đây là đoạn Kinh Thánh có tầm ảnh hưởng rất lớn với đời sống hôn nhân của tín hữu Công Giáo. Trong các lớp hướng dẫn Giáo Lý Hôn Nhân, Thăng Tiến Hôn Nhân, và ngay cả lề luật CG cũng nói đến đoạn Kinh Thánh này. Mặc dù tầm ảnh hưởng lớn, nhưng lại có nhiều sai lầm trong cách diễn giải, chú thích, diễn dịch, cách trích dẫn về đoạn Kinh Thánh. Vì để vạch rõ những sai sót, người viết xin trích đăng trong phần thân bài những văn bản Việt và Anh từ nhiều nguồn khác nhau để độc giả theo dõi, theo sát cách phân tích của người viết (có thể còn nhiều văn bản khác, nhưng người viết xin giới hạn lại, dùng những văn bản dưới để dẫn chứng. Những chỗ in đậm là do người viết cố ý muốn độc giả thấy điểm chính)

Thư Thứ Nhất của Thánh Paul gửi Tín Hữu Thành Cô-rin-tô (Kinh Thánh Tân Ước)

first letter to the corinthians

Bàn về hôn nhân

7.1 Còn về những điều anh em đã viết: đối với một người thì không vương vấn cùng phụ nữ, quả là điều tốt. 2 Nhưng để tránh dâm dật, thì mỗi người hãy có vợ có chồng! 3 Chồng hãy tròn bổn phận đối với vợ, và vợ đối với chồng cũng vậy. 4 Vợ không có quyền trên thân xác mình, nhưng là chồng; cũng vậy, chồng không có quyền trên thân xác mình, nhưng là vợ. 5 Ðừng từ khước với nhau, họa chăng là đã đồng tình, và tạm thời, để anh em chuyên chú cầu nguyện, nhưng rồi anh em lại sum vầy với nhau, kẻo Satan lợi dụng tính mê [của anh em], mà cám dỗ anh em. 6 Ðiều này, tôi theo miễn chước mà nói thế, chứ không phải ra lịnh. 7 Thực thì tôi ước ao cho mọi người đều như tôi, nhưng mỗi người ai có đặc sủng nấy, do Thiên Chúa ban, kẻ thế này, người thế khác.

Bản dịch Việt Ngữ của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn (1922 – 1975)

7.1 ……..7.6 Điều tôi nói đó là một sự nhân nhượng chứ không phải là một mệnh lệnh.7 Tôi ước muốn mọi người đều như tôi ; nhưng mỗi người được Thiên Chúa ban cho đặc sủng riêng, kẻ thế này, người thế khác.

(Nhóm phiên dịch CGKPV- Các Giờ Kinh Phụng Vụ)

7.1 ……… 7.6 Tôi nói như thế để cho phép anh chị em kiêng cữ việc gối chăn trong một thời gian. Tuy nhiên đó không phải là mệnh lệnh của Chúa đâu. 7 Tôi mong mỗi người đều giống như tôi, tuy nhiên mỗi người được Thượng Đế cho ân tứ khác nhau. Người có ân tứ nầy, kẻ có ân tứ khác.

Bản dịch của biblegateway.com

Bản Anh Ngữ của biblegateway.com

7.1 Now concerning the things of which you wrote to me: It is good for a man not to touch a woman. 2 Nevertheless, because of sexual immorality, let each man have his own wife, and let each woman have her own husband.

3 Let the husband render to his wife the affection due her, and likewise also the wife to her husband.

4 The wife does not have authority over her own body, but the husband does. And likewise the husband does not have authority over his own body, but the wife does.

5 Do not deprive one another except with consent for a time, that you may give yourselves to fasting and prayer; and come together again so that Satan does not tempt you because of your lack of self-control.

6 But I say this as a concession, not as a commandment.

7 For I wish that all men were even as I myself. But each one has his own gift from God, one in this manner and another in that.

Bản Anh Ngữ của United States Conference of Catholic Bishops (USCCB)

7.1……….7.6 This I say by way of concession,* however, not as a command.

7 Indeed, I wish everyone to be as I am, but each has a particular gift from God,* one of one kind and one of another.

Chú thích của USCCB

* [7:6] By way of concession: this refers most likely to the concession mentioned in 1 Cor 7:5a: temporary interruption of relations for a legitimate purpose.

Hoàn cảnh Thành Cô-rin-tô trong bài viết là một xã hội hỗn độn. Người ta nêu cao giá trị của sự khiết tịnh – ngay cả trong cuộc sống hôn nhân, nên mở đầu bản văn (7.1) Thánh Paul ca ngợi: không vương vấn đàn bà là một điều tốt.

Nhưng đối với Thánh Paul đó là một sự giả hình vì họ không lượng sức mình nên thường sa ngã: ham mê sắc dục, tà dâm, vi phạm Điều Răn Thứ Sáu. Thánh Paul khuyên mọi người hãy lập gia đình, và trong khung cảnh gia đình hãy giao hòa ham muốn xác thịt để đừng bị cám dỗ, tà dâm ngoài hôn nhân. Mặc dù thế, trên hết Ngài vẫn muốn người ta hãm mình như Ngài trong câu 7.7, nhưng vì biết rằng điều này là không thể nên Ngài kết luận: "Chúa ban, kẻ thế này, người thế khác"

Câu mà các ông chồng ham mê sắc dục thường nhớ và "phán" với vợ là từ 7.3 đến 7.5. Trong các văn bản, tất cả giống nhau về ý, mặc dù cách viết có khác nhau. Câu 7.6 là câu có nhiều lầm lẫn và nhiều hệ lụy nhất – không riêng bản Việt Ngữ, nhưng cả Anh Ngữ. Bản của Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn là đúng nhất. Xin ghi lại để cùng phân tích: Ðiều này, tôi theo miễn chước mà nói thế, chứ không phải ra lịnh.

"Điều này", "miễn chước", "không phải ra lịnh" là 3 mấu chốt của vấn để:

– "Điều này": ở đây là hãy lấy vợ, lấy chồng, là mọi người hãy ăn ở chăn gối gần gũi nhau – vợ chồng chiều nhau xác thịt.

– "miễn chước": hay còn được dịch là "đặc chước", "đặc ân". Ý nói vợ chồng gần gũi nhau là được phép, là một đặc ân, đừng coi đó là tội mà phải hãm mình, kẻo không kìm nổi cám dỗ lại sa vào tà dâm.

– "không phải ra (mệnh) lịnh": ý nói vợ chồng gần gũi nhau là để "giải dục", bớt căng thẳng sinh lý, là việc làm giữa hai vợ chồng. Thánh Paul (Thiên Chúa) không ra lệnh hai người phải làm chuyện "thỏa mãn nhục dục" như một bắt buộc phải tuân thủ. Ngài không ra lệnh bắt buộc như một điều luật: "chiều nhau để thỏa mãn nhục dục".

Nếu độc giả đọc lại bản văn, nhìn lại lịch sử sẽ thấy rõ như điều người viết mới trích dẫn là hữu lý. Và điều này cũng phù hợp với thái độ của GHCG về tính dục trong hôn nhân như đã nêu ở phần trên: luôn tôn trọng và khuyến khích thái độ khiết tịnh hơn là để giáo dân ham mê nhục dục sa đọa. Điều này cũng phù hợp với yếu tố căn bản của NFP, khuyên vợ chồng nên hãm mình trong thời gian dễ thụ thai nếu đã có đủ con cái.

Ấy vậy mà nhóm Biblegateway hiểu sai nghĩa trên hoàn toàn, và vì thế dịch sai ý; ngay cả Hội Đồng các Giám Mục của Hoa Kỳ (trên mạng) cũng hiểu sai (coi chú thích của họ): họ cho là "điều được miễn trừ" là điều được nêu trong 7.5. Trong 7.5 mọi khía cạnh: phải hãm mình cầu nguyện, nên không gần nhau…. đã được nêu rõ, nó là thỏa thuận giữa hai vợ chồng, không liên quan đến "đặc chước" của chính Thánh Paul thông cảm mà chấp nhận cho; như vậy: 7.5 không phải là "miễn chước" của Thánh Paul ban cho. Chính Hội Đồng Giám Mục cũng mù mờ không chắc chắn nên trong chú thich mới viết: "most likely" (rất có thể).

Vì hiểu sai, nên một số các linh mục coi việc gần gũi vợ chồng là điều "bắt buộc" tín hữu phải làm (commandment), nếu không "gần gũi vợ chồng" là có tội. "Bắt buộc" này được ghi trong các sách hướng dẫn của Giáo Lý Hôn Phối.

Xin trích dẫn ý kiến của một vị linh mục "cấp tiến" về đoạn Kinh Thánh này: "Thánh Paul khuyên vợ chồng đừng từ chối nhau, vì làm như vậy sẽ trái với ý nghĩa: hôn nhân giúp tín hữu tránh tội tà dâm. Nếu vợ cứ từ chối chồng hoài, chồng dễ bị cám dỗ. Nhưng bây giờ, lối hiểu này về hôn nhân đã lỗi thời, và việc chăn gối vợ chồng cũng không được xem là phương tiện giúp vợ chồng tránh tội. Nếu hiểu như vậy thì khinh thường việc chăn gối, và coi thường hôn nhân quá."

Giả như người viết hiểu sai, và theo đúng luật CG: vợ chồng phải gần gũi – hay nói đúng hơn: vợ phải chiều chồng để giải quyết sinh lý; nhưng nếu chỉ được áp dụng phương pháp ngừa thai tự nhiên NFP, thử hỏi làm cách nào/phương pháp nào vợ có thể thỏa mãn chồng (mỗi khi chồng đòi kẻo có tội) mà vẫn ngừa được thai theo đúng luật GH?

Ai là người chịu thiệt thòi? Một người không những bị cưỡng ép vừa bằng sức mạnh của chồng, vừa bằng sức mạnh tôn giáo; thử hỏi có bất công không?

Nếu người viết đúng, xin hãy sửa lại cách giáo huấn các ông chồng ham mê sắc dục. Mới đây nhất, ĐGH Francis khẳng định về vấn đề tính dục trong Tông Huấn AL: "đó không phải là phương tiện để thỏa mãn nhục dục hay vui chơi". Rất may Bộ Giáo Luật 1983:1055 ra đời; dù vô tình hay cố ý theo thứ tự trước sau, thiện ích của đôi bạn được đặt lên trước; trước cả việc sanh sản và giáo dục con cái. Khi ông chồng không tự tiết chế, tự bản chất đã sai vì không màng gì đến thiện ích, sự an lành của vợ, còn lợi dụng Kinh Thánh để bào chữa cho hành vi sàm sỡ của mình, đó không phải chỉ là lạm dụng tình dục đối với vợ, mà còn là chà đạp Kinh Thánh.

Nhưng cũng nên xét ngược lại, nếu vợ dùng những lý do không chính đáng để từ chối chồng, và coi đây như một vũ khí của chiến tranh lạnh trừng phạt chồng, thì đó là đi ngược lại với Giáo Luật Hôn Nhân, không nghĩ tới thiện ích của chồng, như vậy cũng coi như ích kỷ và là có lỗi.

Xin kể ra đây một mẩu chuyện có thật những nghiệt ngã của thất bại trong việc ngừa thai, khi luật lệ quá khắt khe, lệch lạc một cách vô lý:

Theo lời tâm sự của một số nữ nhân viên y tế người Công Giáo (dược sĩ, bác sĩ, y tá…), vì điều luật cấm ngừa thai bằng phương pháp nhân tạo ABC: bao cao su, bằng thuốc…; mọi người cảm thấy mình có tội khi phải giúp các chị em phụ nữ ngừa thai bằng phương pháp ABC này. Họ tránh bán thuốc ngừa thai, thay vào họ khuyên sử dụng các phương pháp tự nhiên NFP. Thêm vào khúc mắc là những cấm đoán cứng ngắc, thiếu linh động của nhiều vị linh mục khi các chị chạy tới cầu cứu cố vấn. Khốn nỗi cơ thể con người không như một cái máy, hoạt động như cơ năng của cái đồng hồ lúc nào cũng đúng giờ. Tùy vào sự biến đổi tâm, sinh lý qua từng ngày, chu kỳ tuần hoàn xáo trộn và rồi mang thai ngoài ý muốn.

Các chị chạy tới xin bác sĩ cố vấn. Trong cương vị của người bác sĩ Công Giáo, họ khuyên các chị nên giữ các bào thai, bằng hết khả năng của mình. Người phụ nữ sau khi suy xét hoàn cảnh gia đình: quá đông con, quá lớn tuổi, nhà nghèo không thể lo thêm một cháu nhỏ….cuối cùng vẫn muốn quyết định hủy bào thai.

Chị có lỗi và có tội – xét theo ý niệm Công Giáo. Người bác sĩ BS nếu: 1/ không chấp nhận phá thai – BS có tội với pháp luật: tội kỳ thị người mang thai không giúp họ với nghề nghiệp của mình. 2/BS có tội với niềm tin Công Giáo nếu giúp chị phá thai. Cả 1 và 2 đều có tội: 1 với pháp luật, 2 với đạo: tội trọng, thử hỏi nên chọn đường nào? Suy ra lời Kinh Lậy Cha: "xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con khỏi mọi sự dữ"; nghe thấm thía làm sao! Khi không bị đặt trước cám dỗ để không phải làm những quyết định chết người, quả là một điều hạnh phúc đáng xin. Nhưng cứu chúng con khỏi mọi sự dữ: ai sẽ cứu, và cứu làm sao vì quay mặt phía nào cũng là cõi chết! vậy thử hỏi đâu là: "Bình an cho các con".

Từ một chuyện nhỏ ngừa thai (bao cao su) dễ làm nhưng không được phép làm, dẫn tới những quyết định "chết người", để rồi cả người phụ nữ, lẫn những nhân viên y tế ân hận suốt đời… đâu là tin mừng, đâu là yêu thương? Hay tại "giá trị" của các chị không bằng của các nữ tu?

Theo thống kê của Tòa Thánh Vatican hiện có khoảng 1.2 tỷ tín hữu. Cũng theo thống kê, số người trung bình trong một gia đình là vào khoảng 4 người: hai vợ chồng, và hai con. Như vậy, trừ những người đi tu, hoặc không có gia đình, có khoảng 500 triệu vợ chồng Công Giáo. Nếu chỉ tính những người còn trong độ tuổi sanh đẻ, con số này vào khoảng ít nhất 100 triệu. Luật về ngừa thai của Công Giáo có ảnh hưởng ít nhất tới 100 triệu con người. Luật thì nghiêm, nhưng giáo dục về luật quá sơ sài, và người giữ kỷ cương, thi hành luật là các linh mục lại biết rất ít, và không hề có kinh nghiệm về vấn đề tế nhị này, liệu việc thi hành luật có ổn không? Rất may ĐGH Francis đã nhìn thấy sơ hở này nên đã có những công bố như trong Tông Huấn AL. Hy vọng những thay đổi trong thời gian sắp tới sẽ dễ thi hành, và khoan dung hơn.

Lời kết

Cho những người có niềm tin Công Giáo:

Xin hãy bắt đầu "sự thay đổi chuyển mùa" bằng: lắng nghe, cảm thông và cho những lời khuyên chân tình như tinh thần của "chăm sóc mục vụ". Có lẽ không nên nhìn tất cả mọi điều là tội, nhưng là lỗi lầm cần được cảm thông hơn là răn đe, hù dọa. Tòa giải tội nên đổi thành "tòa tâm tình, tòa cảm thông", trên thực tế đã có nhiều vị linh mục dù chưa đổi tên gọi cho tòa giải tội, nhưng đang dùng nơi thánh thiện đó như chỗ để tín hữu chia sẻ những ưu tư, mắc rối. Hy vọng sẽ có nhiều vị linh mục tiếp bước.

Một khi ĐGH Francis đã nói: “ngừa thai không phải lúc nào cũng là tội.” và “trên cả lề luật chính là mỗi con người bằng xương bằng thịt”, các vị linh mục chắc chắn sẽ có những lời khuyên tốt đẹp, phù hợp cho hoàn cảnh của mỗi người, và thể hiện được điều mà Chúa Giêsu vẫn thường rao giảng: Thiên Chúa là Tình Yêu.

"Đạo và đời" như "tay và chân". Dù tay và chân đều có nhiệm vụ riêng, nhưng nếu luôn tương tác với nhau một cách khôn ngoan, đúng lúc, đúng mức cả hai sẽ đóng góp tích cực cho sự hiện hữu tốt đẹp của Thân Thể Thiên Chúa. Và rằng: nếu "tay" có bị thương, thì "chân" chính là phương tiện duy nhất để đi đến "bệnh viện" Đức Chúa Cha xin chữa lành.

Cho những người quan tâm đến ngừa thai:

Khi phải chọn một trong hai, có lẽ chúng ta sẵn sàng bỏ cái "tiện" thức ăn nhanh, thay vào bằng một buổi "ăn tối" thịnh soạn, nhưng có lẽ đôi lúc những "thức ăn nhanh", những "bất ngờ" vẫn được ưa chuộng. Nhưng cho dù là "bất ngờ", xin đừng sợ "bất tiện" nếu muốn sự bất ngờ diễn ra êm đẹp. Một cách thú vị, chữ "tiện" đã nằm sẵn trong cái "khoái thứ bốn" của Tứ Khoái, vậy "tiện" cũng là "khoái"(!)

Cho những người không cùng niềm tin Công Giáo hay chưa có niềm tin:

Khi nói "đạo vào đời", có lẽ người nói thích lối sử dụng âm vần của chữ "đạo" với chữ "đời", cả hai cùng bắt đầu bằng phụ âm "đờ" như chữ "đẹp". Đạo vào đời: đạo giúp con người hướng tới những điều thánh thiện làm đẹp lương tâm con người. Đạo vào đời cũng hàm ý: đạo nên thực tế hơn với đời. Nhưng cách nói ngắn gọn ấy khi áp dụng cho những người thích hiểu "đúng", hiểu "đậm" nó "đẩy đưa đến đôi điểm đối địch đau đầu…"

Chúng ta nên thay chữ "đạo", chữ "tôn giáo" bằng chữ "tín ngưỡng" hay bằng chữ "tâm linh/lương tâm con người" cho những câu: "đạo và(o) đời" "tôn giáo tiến vào đời". Những câu đó sẽ thành: "lương tâm con người tiến vào đời". Nếu con người hành xử với nhau bằng lương tâm thăng hoa, bằng trái tim yêu quý hòa bình, trái tim đầy tình nhân loại, sống cho cái đẹp, cái hay, biết vị tha sống vì người khác, biết tôn trọng người khác cho dù họ có những điểm khác với chính mình…. thì "đời" quả là tuyệt đẹp.

Ah

_____________________________________________________________________

(*) Religion: a set of beliefs concerning the cause, nature, and purpose of the universe, especially when considered as the creation of a superhuman agency or agencies, usually involving devotional and ritual observances, and often containing a moral code governing the conduct of human affairs.

(**) http://www.smh.com.au/world/amoris-laetitia-pope-francis-and-the-erotic-dimensionHYPERLINK "http://www.smh.com.au/world/amoris-laetitia-pope-francis-and-the-erotic-dimension-of-love-20160408-go2c9q.html"-of-love-20160408-go2c9q.html#ixzz45QxqqMwE

bài đã đăng của Ah


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)