Trang chính » Bàn Tròn: Nghệ Thuật & Chính Trị, Biên Khảo, Đàn Ông, Nhận Định, Phụ Nữ & Giới Tính Email bài này

Góp Ý về Bài Giáo Hội Chuyển Mùa: Tính Dục và Ngừa Thai trong Giáo Hội Công Giáo (Phần I)

2 bình luận ♦ 18.05.2016

LTS: Bài góp ý rất công phu và đa diện của Ah thảo luận về một đề tài nóng, đó là sự xung đột giữa chính quyền và tôn giáo trong vấn đề tình dục và ngừa thai. Hai ngày trước, vào thứ Hai, 16 tháng 5, 2016, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã phổ biến một phán quyết đồng nhất nhưng không ký tên, rằng Tòa sẽ tránh thẩm định đơn thỉnh án của những tập đoàn tôn giáo về vấn đề cung cấp bảo hiểm liên hệ đến ngừa thai, mà sẽ chuyển đơn xuống tòa dưới để sự việc được xét lại.

Trước khi Tối Cao Pháp Viện phổ biến phán quyết tránh thẩm định, 7 vụ kiện của những tập đoàn tôn giáo – phần đông là Công giáo – đã được hợp nhất vào một đơn, Zubik v . Burwell, liên hệ đến một điều khoản trong Đạo Luật Chăm Sóc Sức Khỏe Giá Phải Chăng (Affordable Care Act) cho phép các tập đoàn, công ty tôn giáo được miễn cung cấp bảo hiểm ngừa thai (và các bệnh truyền nhiễm sinh dục), nhưng để tránh bị tiền phạt của chính phủ, các hội đoàn phải gửi thư thông báo và yêu cầu được miễn trừ nhiệm vụ bảo hiểm ngừa thai vì lý do tôn giáo. Sau khi nhận được thông báo của hội đoàn, các công ty bảo hiểm hoặc chính phủ sẽ tài trợ bảo hiểm cho những nhân viên có nhu cầu. Tuy nhiên, một số hội đoàn tôn giáo đã phản đối và đệ đơn kiện, nói rằng việc Đạo Luật Chăm Sóc Sức Khỏe Giá Phải Chăng đòi hỏi họ phải gửi thông báo yêu cầu được miễn trừ là một gánh nặng và vẫn làm cho họ bị đồng lõa trong những hành vi tội lỗi.

Đây không phải lần đầu Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã tránh né phán quyết. Cái chết bất đắc kỳ tử của Thẩm phán Antonin Scalia đã làm Tòa ở trong tình trạng bế tắc với 4 vị thẩm phán “tự do” và 4 vị bảo thủ. Dù sao, theo quan điểm của các viên chức luật pháp, phán quyết “không phán quyết” của Tối Cao Pháp Viện vào ngày 16 tháng 5 nên được coi như một nỗ lực giảm thiểu sự xung đột giữa thần quyền và thế quyền, với niềm hy vọng là trong tương lai gần chính quyền hoặc cơ quan lập pháp có thể tạo điều kiện cho các nhân viên lao động được bảo hiểm ngừa thai miễn phí, "đồng thời cũng không đòi hỏi bất kỳ thông báo hay hành động nào khác từ các hội đoàn tôn giáo.”

 

BirthControl-Catholocism

Phần Một

Đạo và đời

Xoay quanh vấn đề: đạo và đời, người viết cảm thấy cần phải làm sáng tỏ ý nghĩa của những chữ "đạo", "đời".

"Đạo" (hay nói đúng hơn là "tôn giáo") tiếng Anh là "Religion", theo tự điển Dictionary.com (*) sau khi dịch ra Việt Ngữ, "Đạo" có nghĩa là: "Một số mạc khải cho niềm tin liên quan đến nguyên nhân, bản chất, và mục đích của vũ trụ; đặc biệt khi liên đới tới một đấng tối cao. Từ lòng tin đó dẫn đến sự liên hệ bằng vâng phục, quy thuận; trong đạo có những tín điều hành đạo gây ảnh hưởng lên đời sống thường nhật của con người". Như vậy đạo bao gồm hai phần: một là phần tâm linh, tín ngưỡng; hai là phần hành đạo, cách thức đi theo những lề luật được đặt ra của nhà lãnh đạo tôn giáo. Một chữ "đạo" ngắn gọn nhưng bao gồm ba yếu tố: 1/ niềm tin, 2/ bộ phận lãnh đạo tôn giáo (thần quyền), những luật lệ, 3/ cách thức hành đạo.

"Đời" tiếng Anh là "civil life", dịch theo tinh thần thực tế: tiền bạc áo cơm liên hệ đến đời sống vật chất, cho sự tồn tại thân xác con người. Xa hơn là cộng đoàn chung quanh, xã hội, địa phương, đất nước và cả thế giới này. Chữ "đời" có ba yếu tố: 1/ thể chế chính trị, 2/ nhà cầm quyền (thế quyền), 3/ đời sống xã hội và sinh hoạt của chính mỗi người.

Nói đến "đạo" thường người ta chỉ liên tưởng tới "lòng hướng thiện: ăn ngay ở lành, để đức cho con…." đây chỉ là tín ngưỡng, không phải là "đạo" mà mọi người đang bàn tới. Tín ngưỡng hướng tới cái đẹp của tình nhân loại, yêu vạn vật, hành xử cho công bằng, chuộng hòa bình, giúp con người có một tâm linh cao thượng….. là những yếu tố tích cực của "đạo". Yếu tố này làm nên một xã hội văn minh, vì vậy được coi là cần thiết.

Điểm quan trọng gây nhiều hệ lụy trong định nghĩa chữ "đạo" là phần thứ hai: cách thức đi theo những lề luật được đặt ra – hành đạo. Hành đạo có thể ôn hòa, mọi người sống hòa bình, các tôn giáo tôn trọng lẫn nhau trong tương kính. Phía ngược lại của sự ôn hòa là mức độ hoàn toàn cực đoan (extreme). Đặc điểm của sự cực đoan tôn giáo là bất dung, coi những người không theo mình là kẻ thù không đội trời chung. Họ mù quáng tin rằng chỉ có tôn giáo riêng của họ mới đáng tồn tại, mọi tôn giáo khác đều phải bị tiêu diệt như mục đích của Nhà Nước Hồi Giáo – Islamic State (IS)

Chính điểm thứ hai "hành đạo" là điều mọi người tranh cãi, nhưng thường bị lẫn lộn với điểm thứ nhất "tín ngưỡng", khiến tạo ra hiểu sai, hiểu lệch với thiện ý của những người viết có thiện tâm.

Sự hiểu lệch này dây dưa tới những danh từ: thần quyền, thế quyền. Thần quyền là người lãnh đạo tôn giáo. Người lãnh đạo, dựa trên niềm tin và những sách vở, ý tưởng do người sáng lập tôn giáo viết ra; nhờ được mặc khải, tiên tri, suy luận, thiền…. Thiên Chúa Giáo là dựa trên Kinh Thánh Tân Ước, Hồi Giáo là trên Koran…. Sự diễn giải những kinh sách này – những tác giả trước đã trình bày – là một vấn đề, là một công trình nghiên cứu… và tùy bối cảnh, đối tượng, thời gian…. mà "hiểu" khác nhau. Người lãnh đạo còn dựa trên lương tâm, học hỏi, kinh nghiệm đời đạo mà có những hướng dẫn hành đạo khác nhau. Vì có nhiều yếu tố biến đổi nên tranh cãi từ hơn 2000 năm vẫn chưa chấm dứt.

Thần quyền và thế quyền có thể lấn lướt nhau, hòa nhập với nhau, chống đối nhau tùy theo mức độ, nhưng không thể tóm gọn trong một câu đơn giản: đạo và đời.

Trong câu nói đơn giản 3 chữ: "đạo và đời" có hàm chứa ít nhất 4 mối tương quan:

1- Nhà cầm quyền tôn giáo – đối với – chính quyền xã hội.

2- Tâm linh, tín ngưỡng – đối với – đời sống phàm trần của con người

3- Nhà cầm quyền tôn giáo – đối với – con người

4- Chính quyền xã hội – đối với – tâm linh, cách hành đạo của con người.

Từ cái nhìn trên, mọi người có thể dễ dàng thấy rằng câu "đạo và đời" bao hàm nhiều vấn đề lớn, phức tạp, không thể tranh cãi trong phạm vi một hai bài nhận định, góp ý.

Để tránh đi quá xa, người viết từ điểm này chỉ xin góp ý về sự tương quan thứ hai và ba: 2/ Tâm linh đối với đời sống phàm trần. 3/ Giới lãnh đạo tôn giáo cùng những tín điều luật lệ với đời sống phàm trần.

Là một tín hữu của Thiên Chúa Giáo La Mã (Công Giáo), xin giới hạn thảo luận trong phạm vi của Giáo Hội Công Giáo (GHCG). Nhưng để ngắn gọn xin vẫn gọi tương quan này bằng: đạo và đời.

Thay đổi cho hợp thời

Trong một nước dân chủ, luật đặt ra để phục vụ và bảo vệ phần đa số của người dân trong xã hội.

Giáo Hội nhìn nhận mình không phải là một tổ chức dân chủ. Giáo Hội không coi quyền lãnh đạo, quản trị, giáo huấn… là quyền đến từ giáo dân, mà do Chúa Giêsu trao quyền. Tuy không "dân chủ" nhưng Giáo Hội vẫn lắng nghe, học hỏi để thay đổi theo hoàn cảnh xã hội.

Người tín hữu Công Giáo trong môi trường dân chủ khi gặp những khoản không "hợp ý", họ vận động số đông, yêu cầu nghiên cứu, đòi hỏi cải tổ để bất đồng được thay đổi cho hợp với số đông. Hay ít nhất thâu hẹp khoảng cách giữa "ý dân" và Giáo Hội Công Giáo (GHCG).

Khi đề cập đến thay đổi, người ta hay nghĩ tới: thay đổi cho hợp thời! Câu hỏi được đặt ra: thế nào là hợp thời?

Khi nói tới "hợp thời", rất dễ liên tưởng đến: theo "thời trang"; một việc làm nhất thời tạm bợ giải quyết thị hiếu, óc tò mò. Nhưng nếu một người cứ phải chạy theo người khác, nuông chiều người khác để lấy lòng, kết quả không bao giờ bền lâu; người được theo rất mau nhàm.

Tư duy của tín hữu theo văn minh xã hội đòi hỏi nhiều hơn. Bài học về Đạo thời ban đầu e không còn thuyết phục. GHCG phải đào sâu để tìm ra "đạo", để thức thời, bắt kịp với những yêu cầu của xã hội về lâu về dài. Con người không chỉ suy nghĩ về phần đời sau, nhưng cả sự an lành, quyền lợi căn bản trong xã hội của đời này.

Nếu GHCG thay đổi một cách tích cực, biến mình thành một thỏi nam châm; thu hút người khác nhờ chính tài năng, quyến rũ bằng những cái hay, cái đẹp của Thiên Chúa, ắt hẳn không mời mà tới, mọi người sẽ kéo lại với GHCG mà không vất vả.

Ngừa Thai

Khi bàn thảo về yêu thương trong đời sống vợ chồng và phương cách giáo dục của GHCG cho đề tài này, người viết cảm thấy thất vọng. Thất vọng vì GHCG có quá ít những huấn dạy trong đề tài này. Hai mươi năm trước trong khóa dự phòng Giáo Lý Hôn Nhân (GLHN), người viết chỉ được nghe những cấm đoán về luật ngừa thai của Giáo Hội trong vòng vỏn vẹn một giờ đồng hồ – bởi một chị hướng dẫn viên, vị linh mục phụ trách GLHN tạm lánh mặt khi nói về đề tài nhạy cảm – vì là người tế nhị, vì không có vợ, hay sợ bị cám dỗ, hay không có hiểu biết, không có kinh nghiệm?. Khía cạnh tâm lý, tâm linh trong các phương pháp ngừa thai không được đề cập. Sự giải thích tại sao được phép xử dụng phương pháp tự nhiên, nhưng kiêng tránh phương pháp nhân tạo: bao cao su, thuốc ngừa thai… không có tính thuyết phục. Do đó thực hành phương pháp ngừa thai là bắt buộc, và phải tuân thủ hơn là tự giác.

Theo đà tiến văn minh, và những phát minh của khoa học, hiện giờ có nhiều phương pháp ngừa thai. Vì muốn tập trung vào đề tài “ngừa thai”, nên các yếu tố y tế (lây bệnh qua đường tình dục), luân lý đạo đức, kỳ thị phái tính xin không được đề cập đến.

Cho dù phương pháp là gì, tất cả đều cùng đi đến một kết luận, một đáp số: không thụ thai. Và để “không thụ thai” tất cả các phương pháp đều cần một “rào cản – barrier”. Các rào cản có cùng mục đích giống nhau, chỉ khác về hình thức (means). Rào cản có thể là:

1/ Vật thể: bao cao su (condom), màng ngăn (diaphragm)… Một vật chắn cụ thể ngăn chặn "yếu tố nam" và "yếu tố nữ" không kết hợp với nhau.

2/ Hoá tính/hoá thể: thuốc ngừa thai. Thuốc ngừa thai có nhiều loại, nhiều hoạt tính khác nhau. Xin nói ngay: để không vướng vào cuộc thảo luận luân lý đạo đức, loại thuốc nhằm giết hại phôi thai, sẽ không được đề cập đến. Ở đây chỉ nói tới những hoá chất làm vắng thiếu một trong hai: "yếu tố nam" hay "yếu tố nữ" , vì không hội đủ điều kiện cần và đủ, cho dù hai người nam và nữ có gần nhau, họ vẫn không thụ thai.

3/ Không gian (Withdrawal Method): Tránh sự "đối đầu" giữa yếu tố nam và yếu tố nữ bằng cách lập một không gian ngăn cản buổi tao ngộ.

4/ Thời gian (Rhythm Method): coi theo lịch chu kỳ. Phương pháp này tính theo ngày để xác định thời gian yếu tố nữ vắng mặt, yếu tố nam có thể ghé thăm nhưng không phải gặp yếu tố nữ ngoài dự định. Hỗ trợ cho phương pháp này là các phương pháp Đo Nhiệt Độ, Theo Dõi Chất Nhờn (Billings, Ovulation). Hai phương pháp sau có thể dùng độc lập nhưng dựa trên cùng một căn bản: xác định ngày yếu tố nữ hiện diện (rụng trứng). Khi cho con sơ sinh bú, những tác động bú của cháu nhỏ lên nhũ hoa cũng làm vắng mặt yếu tố nữ, người ta có thể lợi dụng cách thức này như một phương pháp ngừa thai.

Bốn phương pháp rào cản trên là bốn lời giải có cùng một đáp số. Xét về ảnh hưởng tâm lý, sinh lý lên cả vợ chồng – vợ chồng đúng theo luật Giáo Hội – "có lẽ" bốn phương pháp trên có cùng tầm vóc tác động lên đời sống hôn nhân. Nhưng phương pháp 1,2 và 3 không được chấp nhận theo luật Giáo Hội. GHCG cho rằng việc ngừa thai là sai, vì “không nên có bất kỳ điều gì ngăn cản dòng lưu truyền của sự sống” (nothing should block the transmission of life). Đã gọi là “bất kỳ điều gì – nothing”, sao 4 lại được phép? Phương pháp 4 được GHCG gọi là Natural Family Planning (NFP) – Kế Hoạch Hóa Gia Đình theo Phương Pháp Tự Nhiên. Phương pháp 1, 2, 3 được gọi là Artificial Birth Control (ABC) – Phương Pháp Ngừa Thai Nhân Tạo.

Đối với người muốn một câu trả lời dứt khoát, không dài dòng, lập luận trên nghe có vẻ hợp lý: được, không được rõ ràng (?).

Tính dục và ngừa thai

Động lực nào đã khiến GHCG kiên định với cấm đoán ngừa thai nhân tạo ABC, cho dù một số lớn tín hữu đang ta thán khó khăn không thể tuân thủ? GHCG đã quá cứng rắn không chịu nhượng bộ thay đổi, phải chăng là lỗi thời?… Có lẽ để phần nào trả lời cho những câu hỏi trên, người viết xin mời mọi người coi lại lịch sử của vấn đề, để thấy GHCG đã bắt đầu, và thay đổi theo thời gian thế nào trong cái nhìn về tính dục, và việc ngừa thai.

Trong Bộ Giáo Luật 1917 – ban hành 1917, và 1983 – ban hành 1983, có điều luật về hôn phối như sau:

1917 Canon Law 1013:

1) The primary end of marriage is the procreation and education of children.  Its secondary end is mutual help and the allaying of concupiscence. 

2) The essential properties of marriage are unity and indissolubility, which acquire a particular fitness in Christian marriage by reason of its sacramental character.

Được Linh Mục Bùi Đức Tiến dịch là:

1917 Điều 1013:

1) Mục đích chính của hôn phối là việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Tiếp theo đó là hướng về thiện ích của đời sống đôi bạn.

2) Bản chất của hôn phối là hoàn hợp và bền vững, điều này thể hiện yếu tố vĩnh viễn của hôn phối Kitô giáo vì tính chất bí tích của giao ước.

1983 Canon Law 1055:

1) The marriage covenant, by which a man and a woman establish themselves a partnership of their whole life, and which of its own very nature is ordered to the well-being of the spouses and the procreation and upbringing of children, has, between baptized, been raised by Christ the Lord to the dignity of a sacrament.

Đức Ông Nguyễn Văn Phương dịch là (Đức Ông là một tước vị của chức vị linh mục)

1983 Điều 1055:

1) Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên với nhau một cuộc thông hiệp trọn cả đời sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái. Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn phối giữa người đã chịu phép rửa tội lên hàng Bí Tích.

Điều 1013 trong Bộ luật 1917 không còn xuất hiện trong Bộ Luật 1983, nhưng nó đã được tranh luận gay cấn giữa các nhà thần học, các giám mục. Vị trí và vai vế của các từ ngữ trong câu được đưa ra mổ sẻ.

Có lẽ vì lý do tế nhị nên LM BĐTiến dịch hơi thanh thoát cho phần hai của điều 1013.1. Sát nghĩa hơn, nhưng trần tục hơn sẽ là:… Tiếp theo đó là giúp đỡ lẫn nhau, và giao hòa ham muốn xác thịt. Từ điều luật 1917.1013, sự thỏa mãn ham muốn xác thịt đã được coi trọng như một yếu tố của đời sống vợ chồng.

Yếu tố căn bản đầu tiên của luật là sanh sản và giáo dục con cái; tuy giáo dục đứng ở vị trí sau sanh sản nhưng cùng đứng trong vế của các yếu tố chính. Nghe có vẻ lẩm cẩm, nhưng đây chính là tiền đề cho nhiều cuộc tranh luận cho rằng: để có thể giáo dục con cái tốt (cũng là một điều buộc của Giáo Luật), không thể không giới hạn số con trong một gia đình và vì thế ngừa thai là điều phải thực hiện.

Sự phân chia thứ hạng cho mục đích của hôn phối và không nhắc tới yêu thương trong luật 1917.1013 còn khiến người ta có cảm giác: hôn phối là một hợp đồng, với mục đích sanh và dạy con, thứ đến là thỏa mãn xác thịt; sự hiểu nông cạn đã dẫn tới sự lạm dục, thiếu yêu thương, thiếu tin tưởng và sự gần gũi quyến luyến. Nhận thấy điều thiếu sót này nên ĐGH Pius XI, 1930, đã gửi Tông Thư Casti Connubii (Hãm Mình trong Hôn Nhân) kêu gọi vợ chồng hãy dùng yêu thương mà nâng đỡ và gắn bó với nhau. Trong Tông Thư này, ĐGH cũng cho phép vợ chồng gần gũi nhau cho dẫu biết trước không thể có con được vì tuổi già, bệnh tật….

Có một điểm đáng kể: tuy coi mục đích của hôn phối là sanh con, nhưng GHCG lại không ép buộc vợ chồng phải ăn nằm với nhau để sanh con. Ngược lại, nhiều giám mục noi theo gương của các thánh tổ phụ, và những bài triết lý của các nhà thần học cổ vũ đời sống khiết tịnh của Thánh Giuse với Đức Mẹ Maria. Những bài giảng trong gần hết thế kỷ 20 của các linh mục là khuyến khích khiết tịnh trước khi nhận Mình Thánh Chúa, Mùa Chay, và các lễ trọng, ngay cả coi sự khiết tịnh là để đền tội và huấn dạy luân lý.

Phương pháp Rhythm dù được nghiên cứu từ 1930, đến 1932 tài liệu hưỡng dẫn phương pháp này được ban hành cho công chúng. Nhưng mãi đến 1951 (gần 20 năm sau), ĐGH Pius XII mới chính thức chấp nhận cho ngừa thai bằng Phương Pháp Tự Nhiên NFP – Rhythm Method được GHCG đồng ý cho sử dụng. Điều đáng lưu ý là những gia đình Công Giáo (đông con) kiểu mẫu của những thập niên 1940, 1950 – với ấn tượng rằng cha mẹ đạo đức, hy sinh vì con cái và tuân thủ theo luật GHCG từ từ biến mất sau 1960, và đến 1970 số con trong gia đình Công Giáo (CG) tương đương với các gia đình của Tin Lành, Do Thái. Người ta cũng không thể phân biệt gia đình CG nào sử dụng tự nhiên NFP, hay lén xài nhân tạo ABC. Trong giai đoạn này ĐGH cho phép giáo dân được giới hạn số con cái trong gia đình vì lý do: sức khỏe, sự an lành, kinh tế, xã hội và thiện ích của mọi người trong gia đình.

Những giáo huấn của GHCG về ngừa thai dựa trên khái niệm Luật Tự Nhiên (Natural Law), NFP dựa trên căn bản tự nhiên này. John Rock, một bác sĩ phụ khoa người CG rất sùng đạo, ông đi lễ 7 giờ sáng mỗi ngày, trên tường bên bàn làm việc là Cây Thánh Giá; ông chính là người phát minh ra thuốc viên ngừa thai, Pill. Ông dựa trên điều mà ông tin là "tự nhiên" khi cho ra đời viên thuốc Pill. Chất liệu chính của viên thuốc là bản sao của những "nguyên tố tự nhiên" trong cơ thể, ông nghĩ "tính tự nhiên" đó có thể được áp dụng trong lý luận thần học về phương pháp ngừa thai.

John Rock

Bác sĩ John Rock, người phát minh The Pill

Nguyên tố Rock nói tới là Progestin, nó xuất hiện trong máu khi người phụ nữ mang thai, hoặc ngay sau khi rụng trứng; tạo ra giai đoạn "vắng mặt yếu tố nữ". Nếu sử dụng Progestin, cơ thể phụ nữ lúc nào cũng trong giai đoạn an toàn. Rock lý luận: phương pháp tự nhiên NFP dựa trên giai đoạn an toàn, Pill của Rock cũng dựa trên giai đoạn này, có khác chăng là ông mượn một nguyên tố "tự nhiên" như trong cơ thể để kéo dài giai đoạn – như vậy có cùng một giá trị luân lý đạo đức như NFP. Rock nghĩ đơn thuần: Pill trợ giúp cho "tự nhiên"!

Năm 1958, ĐGH Pius XII cho phép giáo dân sử dụng Pill trong trường hợp bị kinh nguyệt đau đớn, hay một dạng bệnh của tử cung (chảy máu). Trong quá khứ có nhiều người đã vin vào lý do này để bào chữa cho việc sử dụng Pill. Nhưng có nhiều trường hợp cắc cớ hơn. Người có kinh nguyệt không đều, rất khó áp dụng ngừa thai NFP. Pill sử dụng ngắn hạn có thể giúp điều hòa kinh nguyệt, nhờ đó áp dụng NFP sẽ hiệu quả hơn. Nếu NFP được GHCG chấp nhận, Pill giúp NFP hữu hiệu hơn, vậy Pill nên được phép sử dụng mới hợp lý, dẫu thế GHCG vẫn phủ nhận cách này. Lại có người hy vọng xa hơn, nếu Pill được xài để hỗ trợ NFP, nếu được sử dụng lâu dài, họ chẳng cần lo sợ kinh nguyệt vì lúc nào cơ thể cũng "an toàn"?

Vì Pill được GHCG cho sử dụng vì lý do chữa bệnh, hay hỗ trợ cơ thể trong tật bệnh; con người bèn kiếm những lý do chính đáng, tranh luận bào chữa cho việc hợp thức hóa Pill trong đời sống vợ chồng.

Ung thư buồng trứng, ung thư màng tử cung là một trong những thí dụ. Chúng được ví như những chứng bịnh của thời đại văn minh hiện giờ. Thuở trước, khi phụ nữ là người nội trợ ở nhà sanh nở, cho con bú mớm; thời gian cho con bú trong máu luôn có chất Progestin, vì thế tự nhiên trở nên an toàn. Buồng trứng, màng tử cung không phải phát triển tạo ra tế bào mới cho chu kỳ kinh nguyệt mới, và do đó giảm cơ hội có sai phạm trong sự phát triển. Sự sai phạm trong cấu trúc phát triển tế bào là mầm của các dạng ung thư. Ít phát triển, ít cơ hội bị ung thư. Pill cung cấp Progestin cho máu, do đó cũng được coi như giảm ung thư (Progestin có những phản ứng phụ khác: như làm người phụ nữ có những biến chứng của người đang mang thai, cơ thể bực dọc, khó chịu nên hay gắt gỏng… ), và như vậy "nên" được coi là "phòng chữa bệnh" và đáng được sử dụng (!)

Năm 1963, ĐGH John XXIII khi đứng trước tình huống khó xử của ngừa thai ABC, Ngài lập một hội đồng nghiên cứu vấn đề. Hội đồng bao gồm những vợ chồng CG (từ những gia đình bảo thủ), các nhà thần học, linh mục, bác sĩ nghiên cứu tính hữu dụng của phương pháp NFP và ABC. Trái ngược với dự đoán, hội đồng bày tỏ rằng NFP tạo căng thẳng và xa cách giữa hai vợ chồng, lúc nào họ cũng sống trong hồi hộp lo sợ sẽ có thai ngoài dự tính; hội đồng kêu gọi bãi bỏ luật cấm ngừa thai ABC. Trong cuộc bỏ phiếu của 15 giám mục, 9 phiếu thuận ủng hộ ABC, 3 phiếu chống đối, 3 phiếu từ chối góp ý. Hội đồng tuyên bố rằng: trách nhiệm là phần quan trọng của hôn nhân, luân lý của việc gần gũi vợ chồng không đơn thuần dựa trên việc sanh con của mỗi lần gần gũi, nhưng nên được xét trên mọi khía cạnh của sự tương quan vợ chồng.

Dù tốn hơn 5 năm nghiên cứu, ngày 29/7/1968 ĐGH Paul VI ban hành Tông Thư Humanae Vitae (HV) – Về Sự Sống Con Người, xác định lập trường của GHCG chống lại ngừa thai nhân tạo ABC. Ngài tuyên bố: "mỗi và mọi hành vi gần gũi vợ chồng, điều cần thiết phải là nhằm tới yếu tố căn bản tạo sinh sự sống con người (each and every marital act must of necessity retain its intrinsic relationship to the procreation of human life)."

ĐGH Paul VI dựa vào một bản tường trình chống ABC của bốn vị linh mục thần học bảo thủ trong ủy ban. Bốn vị này cho rằng khi GHCG thay đổi lời dạy về ngừa thai, là gián tiếp tự xác nhận rằng GH đã sai trong vấn đề từ nhiều thế kỷ qua, mọi người sẽ tra vấn thẩm quyền về đạo đức luân lý của ĐGH, nhất là về tính dục và như vậy cũng phủ nhận rằng đã có Chúa Thánh Thần hướng dẫn cho các tuyên bố của Ngài.

Nhìn lại bối cảnh lịch sử trong giai đoạn của thập niên 1960, có thể thấy đó là một giai đoạn đầy sôi động. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới thập niên 1930, Chiến Tranh Thế Giới thứ II, dân số thế giới cần được phục hồi. Những người lính trở về từ chiến trường lập gia đình, sinh con, dân số thế giới tăng vọt: thế hệ Baby Boomers – Thế Hệ Bùng Nổ Dân. Tính đến thập niên 1960, những đứa trẻ sau chiến tranh ở vào tuổi thiếu niên, thanh niên mới lớn có khuynh hướng muốn đổi mới; lập lên những phong trào Hippi, Văn Hóa Ngoài Luồng (Counterculture) cổ vũ ăn chơi, sa đọa, chích, hút thuốc kích thích, tự do tính dục, tự do cá nhân, đòi hỏi nữ quyền, ăn mặc hở hang… Những văn hóa truyền thống của lớp cha mẹ sinh ra và lớn lên trong giai đoạn chiến tranh và kinh tế khó khăn nay bị cho là lỗi thời. Giá trị con người của giới trẻ được đánh giá bằng những lối sống bất cần đời; nếu việc ngừa thai nhân tạo ABC được GHCG chấp nhận cho sử dụng, không còn cái "thắng cản" cần thiết từ một tổ chức lãnh đạo tinh thần, không biết sự sa đọa sẽ đưa tới những hậu quả ra sao? Lấy một thí dụ về thống kê ly dị: suốt nhiều năm trước tới giữa thập niên 1960, ly dị là 25%, tới 1975 ly dị là 50%. Trong vòng 10 năm tỉ lệ ly dị đã gấp đôi.

Robert Michael một nhà khoa học xã hội của đại học Stanford khám phá ra rằng: khi thuốc ngừa thai Pill càng thịnh hành, tỷ lệ ly dị càng tăng. Đến khoảng 1975 – 1976 khi Pill có thể đến với hầu như mọi người, tỷ lệ này mới thôi gia tăng, nhưng giữ ở mức 50%. Ông có thể liên kết khoảng 45% trường hợp ly dị là do ngừa thai ABC. Có 3 lý do:

1/ Người ngừa thai có ít con hơn trung bình, và thường có trễ sau đám cưới một thời gian.

2/ Những cặp có con trong vòng hai năm đầu, và đứa con kế trong vòng vài năm tiếp, thường có hôn nhân bền hơn người không có.

3/ Những cặp có con ngay sau khi cưới, có hôn nhân bền hơn người có trễ.

Có lẽ vì thấy trước những vấn nạn mà GHCG đã nhất quyết giữ vững lập trường. Tuy nhiên theo phía giáo dân, trong thực tế, ngừa thai phương pháp tự nhiên NFP rất khó làm, đòi hỏi nỗ lực và hợp tác lớn giữa vợ chồng, thường mất nhiều năm mới đạt được sự hài hòa cần thiết.

 

Humanae Vitae

Tông Thư Humanae Vitae 1968

Trong buổi tham khảo với một vị linh mục. Người viết được biết:

Tông Thư HV dạy rằng "mỗi hành vi tính dục của vợ chồng đều phải tôn trọng 2 ý nghĩa: 1/ gắn bó vợ chồng và 2/ truyền sinh". Nhiều cuộc tranh luận nóng bỏng xảy ra suốt 2, 3 thập niên sau khi Tông Thư HV được ban hành. Sau đó, GHCG có nhiều nỗ lực mềm mỏng uyển chuyển hơn về vấn đề này. Một mặt GHCG không muốn đi ngược với truyền thống về ngừa thai, mặt khác phải tiếp ứng với khoa học và nhu cầu giáo dân.

ĐGH John Paul II, trong Tông Thư Familiaris Consortio (Về Gia Đình, 1981) và Hội Đồng Giáo Hoàng Về Gia Đình trong văn kiện Vademecum For Confessors: Concerning Some Aspects of The Morality of Conjugal Life (Cẩm Nang Cho Linh Mục Về Tính Dục Hôn Nhân, 1997) nói đến “The Law of Gradualness”- Luật của Lòng Hướng Thiện.

“Cẩm Nang cho Linh Mục” dạy các linh mục giải tội phải hết sức thông cảm và khoan dung khi nói đến vấn đề ngừa thai ở “Tòa Trong” khác với “Tòa Ngoài”.

“Luật của Lòng Hướng Thiện” dạy nếu cặp vợ chồng sống trong hoàn cảnh không thực hiện kế hoạch hóa gia đình tự nhiên được ngay, nên cố gắng nỗ lực để đạt mục tiêu. Khi vợ chồng đã cố gắng, nhưng chưa đạt mục tiêu (do hoàn cảnh gia đình, nghèo, đông con, chồng say rượu không tiết chế…), thì linh mục nên coi như họ thi hành luật ở mức có thể, để họ ra về với lương tâm thanh thản.

Tông Huấn Amoris Laetitia – AL

Tình cờ người viết đọc được một bài báo của ký giả Nick Miller viết từ Luân Đôn, với Thông Tấn Xã Reuters, tựa đề: Amoris Laetitia: Pope Francis and the ‘erotic dimension of love’ (**) – Niềm Vui của Tình Yêu: Đức Giáo Hoàng Francis và "khía cạnh khêu gợi của tình yêu". Bài báo tường thuật hội nghị Thượng Hội Đồng Giám Mục với 250 đức giám mục, một nhóm nhỏ các nữ tu, và 12 cặp vợ chồng sùng đạo Thiên Chúa Giáo hướng về đề tài ‘Tình yêu trong gia đình’. Buổi hội thảo bàn luận những câu hỏi thăm dò ý kiến được gửi ra khắp nơi trong cộng đoàn Công Giáo trên thế giới. Từ buổi hội thảo, ĐGH Francis hôm thứ Sáu ngày 8, tháng Tư 2016 đã xuất bản một bản Tông Huấn (Lời Khuyên Dạy): Amoris Laetitia (AL) ‘Niềm Vui của Tình Yêu’ gởi cho mọi tín hữu.

Nhận thấy bài báo nhắc đến những cảm thông của ĐGH trong vấn đề gia đình liên quan với đề tài ‘Giáo Hội Chuyển Mùa’, người viết xin lược dịch để độc giả theo dõi:

John L. Allen Jr., một trong những nhà quan sát và chủ bút được quý trọng nhất của trang mạng Crux, cho rằng ‘câu ghi chú đáng đồng tiền’ trong Tông Huấn AL của Đức Giáo Hoàng là câu cước chú thứ 336, cuối trang 230.

ĐGH nêu lên:’Những hậu quả và ảnh hưởng của một điều luật không nhất thiết là luôn giống nhau’, và cước chú thêm: ‘Điều này cũng có thể áp dụng cho luật của các phép Bí Tích.’

Ông Allen giải nghĩa: ‘Hệ quả của nhận định là: điều ĐGH muốn nhấn mạnh chính là khi tín hữu Công Giáo cho dù đã ly dị hay tái hôn, sau khi đã trình bày vấn đề với một vị linh mục, họ có thể được công nhận – trong tiến trình đi đến phán quyết – rằng họ không còn mang tội, và vì vậy không nên bị loại trừ ra khỏi các phép Bí Tích, trong đó có Phép Rước Mình Thánh Chúa".

Ông Allen cho rằng với những tín hữu ly dị và tái hôn; họ vốn từ lâu đã được "khuyến khích âm thầm" tiến lên nhận Mình Thánh Chúa, nhưng lời tuyên bố của ĐGH đã trưng bày điều này ‘tỏ tường trước công chúng’.

Tông Huấn AL đại diện cho một bước ngoặc với tầm ảnh hưởng không nhỏ, vì nó là văn bản từ Tòa Thánh Vatican, điều được công bố không đơn thuần chỉ là luật lệ, nhưng nhắm vào môi trường chăm sóc mục vụ – một lãnh vực mà khả năng của Giáo Hội về sự tinh tế và lòng nhân ái có thể xen vào, dù từ lâu khả năng này đã thiếu sự đánh giá đúng mức.

Nói một cách khác, điều ĐGH Francis đã làm là cho cả thế giới biết về một trong những điều tối mật của Giáo Hội Công Giáo (GHCG): Quả thật, GHCG có nhiều luật lệ, và rất nghiêm khắc giữ luật. Nhưng trên cả lề luật chính là mỗi con người bằng xương bằng thịt, và GHCG cũng quan tâm tới từng trường hợp và khắc khoải của họ một cách cẩn trọng."

Một thông tín viên nội bộ của Tòa Vatican cho báo La Stampa – Cô Andrea Tornielli bày tỏ: câu mấu chốt của văn bản nằm ở trang 27: Chúng ta được mời gọi để đúc kết lương tâm, chứ không phải thay thế lương tâm". Cô Tornielli ghi nhận một âm hưởng xin lỗi trong văn bản, tỉ như: "Chẳng còn ý nghĩa gì khi chỉ đơn thuần lên án những điều xấu…… trong quá khứ cách thức chúng ta bày tỏ niềm tin Thiên Chúa Giáo và cách đối xử với người ngoài đã tạo nên tình trạng khủng hoảng của ngày hôm nay. Chúng ta cần một liều thuốc hữu hiệu của sự tự phê, kiểm điểm"

Đức Giáo Hoàng Francis – người đã tuyên hứa giữ mình khiết tịnh- đã chỉ dẫn những mẹo nhỏ cho đời sống hôn nhân hạnh phúc:

"Khát vọng, tình cảm, cảm xúc, cái mà người xưa gọi là "đam mê", tất cả đều có một chỗ đứng trong đời sống hôn nhân… sự cuồng nhiệt khát vọng hay ghê tởm chối từ đều không phải là tội hay đáng trách… (tuy nhiên) thái quá, thiếu sự kiểm soát hay bị ám ảnh với một lối hưởng thụ, cuối cùng sẽ làm suy đồi và hoen ố chính niềm hạnh phúc ấy."

ĐGH cũng đề cập đến "Khía cạnh khêu gợi của tình yêu"

Theo Ngài: Tính dục là "món quà tuyệt vời" của Thiên Chúa, không nên coi đó như một điều thấp hèn. Tuy nhiên đó không phải là phương tiện để thỏa mãn nhục dục hay vui chơi; nó là ngôn ngữ giữa con người với con người, nơi người kia được đón nhận một cách trân trọng, trong phạm vi giá trị nhân phẩm thiêng liêng, thánh thiện."

Sự khát vọng nhục thể lành mạnh luôn dính liền với "cảm nhận tuyệt vời", ĐGH Francis viết "Dẫu chỉ là thoáng giây, chúng ta vẫn thấm được cuộc sống quả là tốt đẹp và hạnh phúc." (Hết lược dịch)

Một vài trường hợp đặc biệt

Lúc còn tại sở, khi nói về nạn mãi dâm và việc sử dụng bao cao su, ĐGH Benedict XVI cho biết việc xài bao cao su là bước đầu đi đến luân lý, vì để tránh lan bệnh nguy hiểm cho người khác. Nhưng một việc làm tội lỗi (bao cao su), cho dù là tội nhẹ hơn, vẫn không bao giờ có thể được chấp nhận. Trong các trường hợp lây bệnh AIDS, HIV, cho dù gặp sự chống đối của các tổ chức y tế và chính quyền (vì họ cho rằng bao cao su là biện pháp hữu hiệu chống lan bệnh), Giáo Hội vẫn khuyên đừng quá tin tưởng vào bao cao su coi đó là an toàn. Những trường hợp rách, bể hoặc siêu vi trùng nhỏ hơn đường kính của những lỗ hổng trên bao cao su (vốn được sử dụng để cản tinh trùng lớn hơn nhiều lần về kích thước), khả năng lây bệnh rất cao. Cách tốt nhất để phòng bệnh vẫn là kiêng mình khiết tịnh, và không ra ngoài phạm vi của hôn nhân.

Ngày 18 tháng Hai 2016 vừa qua, ngay trên máy bay trở về Roma sau chuyến viếng thăm Mễ Tây Cơ, khi thấy ảnh hưởng trầm trọng của siêu vi khuẩn Zita lên các em sơ sinh – sinh ra với dị tật đầu quá nhỏ, ĐGH Francis – người kế vị Benedict XVI – bày tỏ: "Avoiding pregnancy is not absolute evil" – Ngừa thai không phải lúc nào cũng là tội.

Nhân đây Ngài cũng nhắc lại quyết định của ĐGH Paul VI vào đầu thập niên 1960, cho phép các nữ tu Công Giáo uống thuốc ngừa thai tại nước Công Gô nhằm tránh mang thai khi bị hiếp dâm.

Xin mở ngoặc ở đây để giải thích thêm: trong GHCG có hai nhóm: nhóm bảo thủ và nhóm cởi mở. Nhóm bảo thủ cho rằng ngừa thai là tội (tội trọng) dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, tương đương với phá thai. Nhóm cởi mở cho rằng ngừa thai trong một số trường hợp là chấp nhận được, không phải là tội. Khi ĐGH Francis tuyên bố như trên, có nghĩa là Ngài bênh vực ngừa thai trong một số trường hợp "nghiệt ngã", vì theo lời Ngài, ngừa thai không phải lúc nào cũng là tội, như trường hợp kể trên.

Từ những sự kiện đã nêu, người ta có thể thấy thiện chí của ĐGH và GHCG trong tiến trình cảm thông, đến gần với các tín hữu. Vấn đề ngừa thai có vẻ được xem như một yêu cầu thúc bách trong những trường hợp đặc biệt, có tầm ảnh hưởng lớn – tới một nhóm người "lớn" (về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng): các phụ nữ của những nước Nam Mỹ (một nhóm "lớn"), và các nữ tu Công Giáo (vị thế "lớn"). Thế còn những phụ nữ "bé" miệng thấp cổ âm thầm chịu đựng thì sao?

(Xem tiếp Phần II)

bài đã đăng của Ah


2 bình luận »

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    Tôi tập tành viết bài biên khảo cũng đã mấy thập niên. Trong vấn đề “đạo và đời” vừa qua, tôi đã dành khá nhiều thì giờ soạn thảo. Bây giờ đọc qua phần “đạo và đời” trình bày ở đây tôi mới nhận thấy là lý luận của tôi còn quá lỏng lẻo. Trong đề tài nầy, phương hướng đi của tôi có lẽ không đối nghịch với tác giả nhưng con đường đi của tôi quả thật thiếu sót và vụng về. Cám ơn tác giả đã làm vấn đề nầy sáng tỏ hơn nhiều.

    Tôi có một thắc mắc trong đoạn về “thần quyền”, tác giả nói “Người lãnh đạo dựa trên niềm tin và những sách vở… Thiên Chúa Giáo dựa trên Kinh Thánh Tân Ước…” Xin cho hỏi tại sao chỉ là Tân Ước? Còn Cựu Ước thì sao? Theo tôi biết, có rất nhiều giáo điều của GHCG cũng dựa vào Cựu Ước.

    Phần còn lại của bài về tình dục và ngừa thai đã được soạn thảo rất công phu. Có nhiều dữ kiện ích lợi và thú vị. Tuy nhiên những chi tiết trong phần nầy càng củng cố thêm nhận định của tôi xưa nay rằng GHCG chỉ là một nhóm ông già độc thân sử dụng định kiến cá nhân của họ để diễn giải những gì họ cho là Kinh Thánh dạy rồi chế đặt ra những luật lệ chi phối và kiểm soát đời sống riêng tư của tín đồ. Ngay cả về những lãnh vực mà chính họ không hề có chút kinh nghiệm thực tế gì cả như hôn nhân, tình dục và ngừa thai. Hình như chính linh mục Joseph B. trước đây cũng có vẻ đồng tình là: nếu không biết chơi đá banh thì không nên làm trọng tài!

    Nói về vấn đề cấm ngừa thai, theo tôi biết, trong Kinh Thánh không có nói gì về chuyện nầy cả. Lý do cũng dễ hiểu. Đó là vì trong thời Kinh Thánh được soạn ra, người ta không có khái niệm gì về ngừa thai cả.

    Nói đúng ra thì có một phần duy nhất trong Kinh Thánh có vẻ liên quan đến ngừa thai là Chương 38:6-10 của tập Khởi Nguyên trong Cựu Ước:

    “6 Yuđa cưới vợ cho Er, trưởng nam của ông, tên nàng là Thamar. 7 Nhưng Er con đầu lòng của Yuđa là kẻ ác đức trước mắt Chúa Trời, nên Chúa Trời đã phạt phải chết. 8 Yuđa mới bảo Onan: “Con hãy phối hiệp với vợ anh con và kết hôn với chị và gầy dòng giống cho anh con”. 9 Song Onan biết là (con sinh ra) không kể là dòng giống mình, nên mỗi khi phối hiệp với vợ anh thì hắn để mất tinh dưới đất cố ý không cho anh được có dòng giống. 10 Hắn đã làm điều thất đức trước mắt Chúa Trời; nên Người cũng phạt nó phải chết.”

    Đoạn nầy không nói rõ là Chúa Trời cho việc gì của Onan làm là thất đức (đến nỗi phạt anh ta chết): Vì không muốn anh mình có dòng giống? Hay vì rút ra sớm để mất tinh dưới đất làm hao phí nguồn sống thiêng liêng? Ngay cả nếu Chúa Trời giận dữ cấm không được phí phạm tinh trùng quý báu đi nữa thì Kinh Thánh không hề đề cập gì đến việc Chúa Trời cấm ngừa thai nói chung, hay bằng các phương pháp khác như dược phẩm hay bao ngừa thai.

    Điều nầy cho thấy rõ GHCG chỉ lựa ra những câu chữ nào trong Kinh Thánh họ muốn sử dụng (vì lý do gì đó không biết) rồi vẽ vời thêm theo định kiến riêng của họ.

    Tôi có một số nhận xét nữa, nhưng chỉ xin đưa 3 điểm dưới đây.

    Thứ nhất, trong đoạn nói về nhà khoa học xã hội Robert Michael của đại học Stanford khám phá rằng thuốc ngừa thai Pill càng thịnh hành thì tỉ lệ ly dị càng cao. Tác giả nói thêm rằng “Có lẽ vì thấy trước những vấn nạn mà GHCG đã nhất quyết giữ vững lập trường”.

    Tôi lại nghĩ khác. Tôi nghĩ GHCG giữ vững lập trường vì họ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của phe bảo thủ trong nội bộ. Chính tác giả cũng đưa ra một thí dụ là GH Paul VI đã nghe lời bốn linh mục thần học bảo thủ trong ủy ban để ban hành Tông Thư Humanae Vitae (HV) – Về Sự Sống Con Người, xác định lập trường của GHCG chống lại ngừa thai nhân tạo ABC. Tác giả cho biết “Bốn vị này cho rằng khi GHCG thay đổi lời dạy về ngừa thai, là gián tiếp tự xác nhận rằng GH đã sai trong vấn đề từ nhiều thế kỷ qua, mọi người sẽ tra vấn thẩm quyền về đạo đức luân lý của ĐGH, nhất là về tính dục và như vậy cũng phủ nhận rằng đã có Chúa Thánh Thần hướng dẫn cho các tuyên bố của Ngài”.

    Điều đó cho thấy GHCG giữ vững lập trường về vấn đề ngừa thai là vì họ lo ngại vị thế của họ bị lung lay chớ chẳng phải vì thấy trước và lo ngại về những vấn nạn của tín đồ.

    Thứ hai, trong phần “Một vài trường hợp đặc biệt”, tác giả mở đầu nói đến GH Benedict XVI và nạn mãi dâm cũng như việc sử dụng bao cao su. Ngay trong đoạn kế đó, tác giả nói “Ngày 18 tháng Hai 2016 vừa qua, ngay trên máy bay trở về Roma sau chuyến viếng thăm Mễ Tây Cơ, khi thấy ảnh hưởng trầm trọng của siêu vi khuẩn Zita lên các em sơ sinh – sinh ra với dị tật đầu quá nhỏ, ĐGH bày tỏ: ‘Avoiding pregnancy is not absolute evil’ – Ngừa thai không phải lúc nào cũng là tội.”

    Benedict XVI đã từ chức năm 2013. Có lẽ trong đoạn thứ hai nầy, ở 2016, tác giả muốn nói đến GH Francis?

    Thứ ba, cũng trong đoạn văn trên, câu “Avoiding pregnancy is not absolute evil” theo tôi nên dịch là “Ngừa thai không phải là một tội ác cực độ”, chớ không phải là “Ngừa thai không phải lúc nào cũng là tội.”

    Đó là vì tôi cho rằng chữ “tội” trong Công Giáo đồng nghĩa với chữ “sin” trong tiếng Anh; và chữ “evil” mang ý nghĩa nặng nề hơn “sin” nên tôi dùng chữ “tội ác”. Hơn nữa, nếu câu tiếng Anh đó diễn tả chính xác câu nói của Francis thì theo tôi ông ta có ý rằng “ngừa thai cũng là một tội nhưng không phải là một tội ác cực độ”. Còn câu của tác giả dịch ra, theo tôi, hàm ý khác hẳn rằng “có những trường hợp ngừa thai không có tội”.

    Một lần nữa, cám ơn tác giả đã bỏ công viết bài rất có giá trị nầy

  • BBT viết:

    Sau khi được tác giả Ah lưu ý, BBT đã sửa “tình dục” thành “tính dục” trong tựa bài để thể hiện đúng ý của tác giả. “Tính dục” (sexuality) có nghĩa bao quát hơn “tình dục” (sex). Mong tác giả thứ lỗi.

    Sau khi đọc lời góp ý của anh Nguyễn Nhân Trí ở trên, BBT đã sửa para. 2 (dưới tiểu đề “Một vài trường hợp đặc biệt”), để phân biệt ĐGH Benedict XVI với người kế vị ông là ĐGH Francis.

    BBT tham khảo bản Anh ngữ lời tuyên bố của ĐGH Francis về trường hợp ngừa thai do vấn nạn Zika, http://www.france24.com/en/20160218-avoiding-pregnancy-not-absolute-evil-pope-says-zika-crisis. Câu “Avoiding pregnancy is not absolute evil” thật ra bị thiếu chữ “an” trước tĩnh tự “absolute,” cho nên đáng ra phải là, “Avoiding pregnancy is not an absolute evil.” Vì vậy, nên được dịch là, “Ngừa thai không phải là một sự phạm tội tuyệt đối.”

    Nếu đọc kỹ bản tin Anh ngữ, ta sẽ thấy ĐGH Francis phân biệt chuyện ngừa thai để tránh bị hậu quả Zika là một sự phạm tội “nhẹ hơn” (“a lesser evil”) chuyện phá thai. Ngược lại, ĐGH coi chuyện phá thai là một tội ác vi phạm nhân quyền (“a crime”), chứ không phải là một sự phạm tội ở phương diện thần học như chuyện ngừa thai. Do đó, chúng tôi nghĩ, chữ “evil” trong ánh nhìn của Giáo hội nên được dịch là “sự phạm tội,” “sự dữ” hay “sa ngã.” Chữ “tội ác” (crime) theo cách dùng của ĐGH Francis có liên hệ đến pháp luật nhiều hơn là thần học.

    Chân thành cám ơn tác giả Ah và anh Nguyễn Nhân Trí đã nêu lên khía cạnh ngôn ngữ của vấn đề. Chính sự “khập khễnh” của ngôn ngữ và những diễn giải lệ thuộc vào hoàn cảnh đã tự chúng biểu hiện tầm mức phức tạp và rất “người” của đề tài.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)